Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

“Đọc hiểu văn bản” sử học

(Tiếp theo số báo 603, ngày 16-7-2020)

 

Vận dụng “Đọc hiểu văn bản” văn học vào sử học chúng tôi thấy có nhiều băn khoăn xin được trình bày, mong bạn đọc chỉ giáo cho.

Trước hết phải thấy sự khác nhau của hai loại văn bản.

Văn bản văn học, như các tác giả Đỗ Đức Hiểu, Văn Tâm, Bùi Công Thuấn… cho thấy nó có nhiều tầng nhiều lớp nghĩa, tính hình tượng bao hàm rất nhiều nghĩa, ý tại ngôn ngoại. Còn văn bản sử học thì phải ý tại văn bản. Tác giả Sử học – Sử gia – không được “thăng hoa”, “bay bổng”… mà phải viết “đúng như sử liệu”, đúng như sự việc đã diễn ra. Thái sử công nước Tề từ trước Công nguyên đã nêu tấm gương đó. Dù gươm kề cổ vẫn ghi: Ngày… giờ… Thôi Trữ giết vua… Song, đọc văn bản sử học chúng tôi thấy có phần nào giống với đọc văn bản văn học, như ý của Cụ Nguyễn Thượng Hiền: Khán cận sơn ý viễn sơn ý. Tức là phải nhìn xa nhìn gần, đối chiếu, kiểm chứng, suy luận… Trong sử học đương đại, Cố GS. Hà Văn Tấn là tấm gương tiêu biểu. Tác phẩm “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII” (NXB Khoa học – xã hội – 1968. NXB Hồng Đức in lại – H.2019) chứng tỏ ông phải đọc rất nhiều, suy luận rất nhiều để dựng lại một cách “chân thực và hùng hồn” sự kiện lịch sử vĩ đại của dân tộc.

Thiển ý về hai loại văn bản và cách đọc như thế. Dưới đây xin đi vào cụ thể.

1/ Cố GS. Phan Huy Lê, nguyên Chủ tịch Hội KHLS Việt Nam rất nhiều năm, trong Tổng kết Hội thảo về Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn… năm 2008, cho rằng sự kiện Nguyễn Ánh – Gia Long cầu viện quân Xiêm, tiếp viện cho quân Thanh, ký Hiệp ước nhượng hẳn Côn Đảo và cửa biển Hội An (Đà Nẵng?) cho Pháp hoàng qua người đại diện Bá Đa Lộc chỉ là tì vết, điểm mờ trong sự nghiệp của Gia Long. Công lao thống nhất đất nước, xây dựng Nhà nước dân chủ tập quyền (theo mô hình nhà Thanh), xây dựng kinh đô Huế rất có giá trị, nay là Di sản văn hóa nhân loại…

Xin có 3 suy luận về luận điểm trên:

a/ Nếu Nguyễn Huệ thất bại ở trận Rạch Gầm – Xoài Mút thì chắc chắn quân Xiêm sẽ chiếm Gia Định và cả Nam kỳ Lục tỉnh bây giờ. Đế quốc Xiêm chắc chắn không bỏ lỡ cơ hội bành trướng. Một khi quân quyền đã ở trong tay quân Xiêm thì Nguyễn Ánh chỉ có thể là một thứ bù nhìn. Thậm chí tính mạng cũng khó được an toàn nếu có điều gì trái ý quân Xiêm.

b/ Khi Lê Chiêu Thống cầu viện thì nhà Thanh đã sẵn có ý định. Một khi chiếm được Thăng Long, thắng được Nguyễn Huệ thì quân Thanh sẽ ở lại lâu dài. Lê Chiêu Thống cũng chỉ là một thứ bù nhìn nếu quân quyền vào trọn tay Tôn Sĩ Nghị. Và như thế, quân Xiêm ở phía Nam; quân Thanh ở phía Bắc, sẽ chia đôi nước Việt hoặc sẽ tiếp tục chiến tranh theo tham vọng của mỗi bên. Và nhà Thanh kế tục các triều đại khác, có truyền thống xâm lược Việt Nam nhiều hơn.

c/ Nếu Hiệp ước Versailles (1787) trở thành hiện thực, khi quân Pháp chiếm cứ Gia Định và miền Nam, có cơ sở ở Côn Đảo và Đà Nẵng, thì họ có dừng lại không? Sự kiện từ Tự Đức trở về sau chứng tỏ thực dân Pháp không dừng lại. Và Nguyễn Ánh – Gia Long cũng sẽ chịu số phận như các vua triều Nguyễn sau Tự Đức, trừ các vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân…

Như thế mà gọi là “điểm mờ”, “tì vết” được sao?

2/ Trong “Lời giới thiệu” cho cuốn Petrus Ký nỗi oan thế kỷ (Nguyễn Đình Đầu chủ biên. NXB Tri thức. H.2016), GS. Phan Huy Lê viết: “… Trải qua hơn một trăm năm với nhiều thăng trầm của lịch sử, lúc nào Trương Vĩnh Ký được tôn vinh và lúc nào bị phê phán. Trong lịch sử Việt Nam, việc bình luận, đánh giá không ít nhân vật lịch sử thường bị chi phối bởi bối cảnh lịch sử như vậy. Nhưng xu hướng chung vẫn là sự thắng thế của kết quả nghiên cứu khoa học nghiêm túc, khách quan và thái độ công minh trước lịch sử. Petrus Ký cũng trải qua nhiều sóng gió khen – chê, tôn vinh – phê phán, nhưng cuối cùng xu thế khách quan, trung thực vẫn chi phối. Những hội thảo và bài nghiên cứu về Petrus Ký gần đây đánh giá cao những cống hiến văn hóa, những di sản ông để lại, đồng thời bày tỏ sự cảm thông với những uẩn khúc trong thời gian cộng tác với Pháp, coi ông là một học giả uyên bác, một nhà bác học” (Sđd. Trg.6).

Cũng xin được suy luận:

Như thế, Cố GS. Phan Huy Lê tự nhận mình thuộc trường phái khoa học nghiêm túc, khách quan và thái độ công minh trước lịch sử.

Vậy hãy xem trên các văn bản sử học, thể hiện Petrus Ký là con người như thế nào?

Có bạn đọc nói không nên bàn chuyện Tổ quốc hay dân tộc ở Trương Vĩnh Ký. Vì ông là một người ngoại đạo. Người ngoại đạo chỉ biết có Chúa, Nước Chúa và Lời răn của Chúa. Họ không có Tổ quốc, không có Tổ tiên, thậm chí không có cả truyền thống văn hóa hay đạo lí, đạo đức, bởi như trên, tất cả đời sống của một con chiên ngoan đạo là ở nơi Đức Chúa, ở các Đấng chăn chiên. Hàng ngày đọc kinh và cầu xin Đức Chúa!

Chúng tôi thấy điều đó là đúng về cơ bản. Nhưng ở Petrus Ký thì có chỗ ra ngoài phạm vi của một con chiên ngoan đạo. Đó là ông cộng tác chặt chẽ, hết lòng hết sức với thực dân Pháp ở buổi đầu Pháp xâm lược Việt Nam. Có nhiều cứ liệu, xin nêu 3 điểm:

- Petrus Ký hết sức thực hiện chủ trương đồng hóa người Việt Nam theo văn hóa Pháp.

Nếu chủ trương này thành công thì Petrus Ký rất có công trong việc xóa bỏ văn hóa dân tộc Việt Nam, xóa bỏ người Việt Nam đến tận gốc. Sẽ hình thành một lớp người Việt mà chính Phạm Quỳnh sau này phải thừa nhận, là Tây giả cầy, Việt giả cầy, không ra Tây không ra Việt.

- Petrus Ký tỏ ra hết lòng với Paul Bert khi được sung vào Viện cơ mật, một quan Đại thần bên cạnh Đồng Khánh. Hứa sẽ “bao vây nhà vua và đàn áp các sủng thần”.

- Petrus Ký khuyên sĩ phu Bắc Hà nên đầu hàng người Pháp, vì họ mạnh lắm. Phải dang cả hai tay ra với người Pháp mà không được có hậu ý gì.

Tất cả các chi tiết trên đều có trong “Petrus Ký nỗi oan trăm năm”. Nhân đây xin bày tỏ lòng kính trọng học giả Nguyễn Đình Đầu về công phu sưu tầm.

Về danh vị “Nhà bác học” của Petrus Ký như GS. Phan Huy Lê viết, xin được đính chính như sau:

Trên tạp chí Xưa và Nay số 488, tháng 10-2017, ông Trần Thanh Ái có bài khảo cứu công phu rất có giá trị: “Tìm hiểu danh hiệu “Thế giới thập bát văn hào” của Trương Vĩnh Ký”, thì không có chuyện “thập bát văn hào” mà chỉ là bình chọn của một tạp chí địa phương, tạp chí Le Biographe do một nhà văn Pháp thành lập năm 1873. Sau mấy lần chuyển nhượng, trở thành cơ quan ngôn luận của Hội tiểu sử Pháp. Tạp chí này chủ yếu giới thiệu các tác giả người Pháp và những người viết tiếng Pháp bên ngoài nước Pháp. Tổng số tạp chí giới thiệu đến 700 người. Petrus Ký được giới thiệu ở hàng thứ 17 trong số 18 người mà tạp chí giới thiệu năm 1873-1874. Tạp chí chỉ “công bố tiểu sử và hình ảnh của các nhân vật đương thời, không phân biệt loại hình chuyên môn hay khuynh hướng, bao gồm nhà văn, nhà soạn nhạc, nghệ sĩ…”.

Như thế, xem Petrus Ký là nhà bác học là một ngộ nhận rất lớn.

Cũng cần xem xét sâu hơn. Nếu là một nhà bác học thì phải có một công trình khoa học, một lý thuyết hay học thuyết, một khái niệm khoa học có giá trị toàn cầu. Một văn hào phải có tác phẩm lớn, như Những người khốn khổ của Hugo, Chiến tranh và hòa bình của Lev Tolstoy, Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Tác phẩm của Petrus Ký thường chỉ được kê tên sách mà không nói đến ruột sách. Rất mong các nhà nghiên cứu công bố đầy đủ trước tác của Petrus Ký từ đó mới có cơ sở đánh giá là học giả hay bác học.

Chúng tôi rất đỗi tiếc nuối đối với Trương Vĩnh Ký, một người đồng bào có trí tuệ siêu phàm. Tiếc là tiếc ông đã nửa đạo nửa đời. Nếu làm một con chiên ngoan đạo, chuyên chú vào đạo Chúa, ông có thể sẽ trở thành một Hồng y giáo chủ, hay một Nhà thần học. Còn nếu cúc cung tận tụy trọn đời với người Pháp thì hẳn ông sẽ là bậc thầy của Phạm Quỳnh sau này.

Tiếc hơn nữa là GS. Phan Huy Lê chỉ đọc văn bản Trương Vĩnh Ký một chiều, một phần có lợi cho lập luận của ông.

3/ Đề cao Tạ Chí Đại Trường (TCĐT). Các tác giả trên Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh như Cao Đức Trường, Nguyễn Ngọc Quang đã nêu lên sự xuyên tạc, thù hận, giễu cợt của TCĐT với lịch sử Việt Nam. Một tác giả ở hải ngoại như bà Thụy Khuê, trong cuốn Vua Gia Long và người Pháp (NXB Hồng Đức – 2017), nêu lên TCĐT đã xuyên tạc có hệ thống các vấn đề lịch sử trong tác phẩm của ông ta. Thế nhưng, GS. Phan Huy Lê đã đánh giá TCĐT như thế này:

“Tạ Chí Đại Trường là một nhà sử học có tính độc lập và phong cách riêng trong nghiên cứu lịch sử. Ông có những công trình nghiên cứu sâu sắc trên phương pháp luận sử học nghiêm túc mà tiêu biểu là Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802. Các tác phẩm của TCĐT mang nặng tính suy ngẫm lịch sử gần như một thứ triết lí lịch sử, như Những bài dã sử Việt hay Thần, người và đất Việt. Tạ Chí Đại Trường luôn nhìn lịch sử Việt Nam với tấm lòng của một con người Việt Nam” (Bìa 4. Chuyện phiếm sử học. NXB Tri thức – 2017).

Thật là hoang tưởng. Và cũng rất hài hước là trong khi GS. Phan Huy Lê đánh giá rất cao trận Rạch Gầm – Xoài Mút (Xem Lịch sử và văn hóa Việt Nam tiếp cận bộ phận – NXB Đại học Quốc gia. In lần thứ 4. H.2018), thì TCĐT lại đánh giá rất thấp – rằng may có tên hàng tướng phía Nguyễn Ánh bày cho Nguyễn Huệ kế mai phục, nhờ thế Nguyễn Huệ đại thắng… Hoặc viết về nhà Trần như thế này: “Cứ suốt ngày, suốt đời nhảy từ thuyền này qua thuyền khác thì không thể lấy người ở xa được, không cần tìm gái ở xa. Rồi thành thói quen” (Chuyện phiếm lịch sử – TCĐT).

Trong khi GS. Phan Huy Lê dành khá nhiều trang ca ngợi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, ca ngợi Lê Lợi và Nguyễn Trãi thì TCĐT gọi đó là Nhóm Mường Thái Lam Sơn như thế này: “Sức mạnh thiểu số đơn lẻ không làm họ thành đạt cao hơn. Nhưng khi gặp cơ hội phối hợp với các lực lượng khác thì có kết quả khả quan đến tột đỉnh. Đó là trường hợp thành công của nhóm Mường Thái Lam Sơn trong công cuộc chống ách đô hộ nhà Minh, kết thúc vào năm 1428 (TCĐT. Lịch sử nội chiến… Trg.280).

Có thể nói, TCĐT đã xuyên tạc trắng trợn Bình Ngô đại cáo, bỉ báng cuộc khởi nghĩa Lam Sơn một cách đê tiện, độc địa.

Nhưng cớ làm sao GS. Phan Huy Lê lại ca ngợi TCĐT như thế. Làm sao ông chỉ biết ca ngợi TCĐT mà không đọc cho nghiêm túc khách quan các tác phẩm của TCĐT. Ông, có lẽ, cũng không nhớ là ông đã viết gì về lịch sử Việt Nam khi ông hạ bút khen ngợi TCĐT. Có lẽ ông đã tìm thấy, đã gặp gỡ TCĐT như là “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu…”. Rất có thể, vì TCĐT là con của một tỉnh trưởng rất ác ôn thời Diệm. Còn GS. Phan thì có người anh ruột cùng cha khác mẹ là bác sĩ Phan Huy Quát, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng của quốc gia Việt Nam thời Bảo Đại, là Bộ trưởng rồi Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa, năm 1965 đã ký Thông cáo về việc quân lực Mỹ vào Việt Nam, cũng tức là ông đã cầu viện quân Mỹ, hoặc do người Mỹ quyết định nhưng ông đã chấp nhận bằng một Thông cáo. Ông Phan Huy Quát cũng là Chủ tịch Phong trào chống Cộng châu Á…

Như thế rõ ràng không thể có chuyện bước qua rào cản ý thức hệ thì có cái nhìn khách quan trung thực vào lịch sử. Đó chỉ là bỏ hệ này đến với hệ kia. Và rõ ràng là không hề nghiêm túc khoa học khách quan gì cả. Vì văn bản của TCĐT nó như thế mà GS. Lê lại đọc ra như thế. Vấn đề ở đây là đọc đúng văn bản sử học đã là khó, chưa nói đến đọc hiểu văn bản sử học. Đây là vấn đề quan trọng bậc nhất của khoa học lịch sử. Mong được sự chỉ giáo của bạn đọc và quí vị trong ngành Khoa học lịch sử.

Đồng Nai, tháng 7-2020

Trường Xuân
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 604

Ý Kiến bạn đọc