Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

“Đọc hiểu văn bản” còn rất mù mờ!

(Tiếp theo số báo 601, ngày 2-7-2020)

 

Đọc hiểu văn bản đã là sự khó. Diễn đạt được sự hiểu đó còn khó hơn. Chúng ta vẫn gặp nhiều trường hợp nói rằng: hiểu mà không nói ra được. Như chúng tôi đã quan niệm, dạy – học văn ở trường Phổ thông trước hết là dạy cách (sự) hiểu sự vật xung quanh, thường nói là cuộc sống, hiểu ý (tư tưởng của người khác) và diễn đạt được tư tưởng của mình. Đây là yêu cầu chung mà học sinh THPT hay giáo sư Đại học chỉ khác nhau ở cấp độ.

Thầy giáo Trần Hinh trên Văn Nghệ (Hội Nhà văn) số 25, ngày 20-6-2020, tiếp tục có bài Nghị luận văn học – Rất cần những trang viết thăng hoa (trang 10), tỏ ra là người nắm vững Đề thi năm nay – 2020 – khi ông nhấn mạnh:

“Tại kỳ thi 2020 này, phần nghị luận văn học có nhiều điểm mới. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, Bộ cho phép tinh giản một số bài học trong chương trình lớp 12. Cụ thể, các tác phẩm như Rừng xà nu; Bắt sấu rừng U Minh hạ; Những đứa con trong gia đình; Mùa lá rụng trong vườn; Một người Hà Nội; Ông già và biển cả; Thuốc; Hồn Trương Ba da hàng thịt, sẽ không còn trong phạm vi ra đề. Các bài học quan trọng còn lại sẽ chỉ là Việt Bắc; Tây Tiến; Đất nước; Đàn ghi-ta của Lorca; Sóng; Vợ chồng A Phủ; Vợ nhặt; Chiếc thuyền ngoài xa; Người lái đò sông Đà; Ai đã đặt tên cho dòng sông? Ngay cả những bài nghị luận như: Ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc; Nhìn về vốn văn hóa dân tộc; Tuyên ngôn Độc lập… cũng không còn quan trọng… Phần lớn các trường đại học năm nay vẫn dựa vào kết quả kỳ thi tốt nghiệp để xét tuyển. Vì lẽ đó, dù đề thi năm nay nói chung sẽ không còn quá khó, nhưng phần câu hỏi nghị luận văn học vẫn cần có điểm “nâng cao” để phân loại học sinh. Đề thi tuy không còn “ôm đồm”, nhưng một chút mở rộng, so sánh cho riêng câu hỏi nghị luận văn học vẫn là cần thiết. Đây là điểm học sinh cần chú ý”.

Trước hết là Thầy Hinh diễn đạt còn rất lúng túng và mâu thuẫn.

Đây là chỗ lúng túng có thể gây hiểu lầm cho bạn đọc: “Các bài học quan trọng còn lại sẽ chỉ là…Ngay cả những bài nghị luận như Tuyên ngôn Độc lập… cũng không còn quan trọng”.

Ý Thầy muốn nói là không còn quan trọng trong phạm vi học và thi tốt nghiệp năm nay. Nhưng bạn đọc cũng hiểu Thầy và Bộ GD-ĐT xem Tuyên ngôn Độc lập là không còn quan trọng. Vì có cơ sở.

- Ngay sau Đổi Mới (1986), chương trình Ngữ văn có thay đổi quan trọng. Cố GS. Nguyễn Đăng Mạnh xếp Tuyên ngôn Độc lập vào thể loại nghị luận chính trị, không phải văn xuôi nghệ thuật, nên đưa vị trí của Tuyên ngôn Độc lập từ Giảng văn xuống Tập làm văn. Xem Hồi kí Nguyễn Đăng Mạnh. Dư luận đã hết sức phản đối.

- GS. Trần Đình Sử, chủ biên Ngữ văn 12 nâng cao có đưa vào Tuyên ngôn Độc lập. Tức là học sinh theo chương trình nâng cao mới được học Tuyên ngôn Độc lập còn đại trà thì không. Đại trà và nâng cao khác nhau thế nào? Số lượng phát hành cho Ngữ văn 12 nâng cao là 9.000 bản. Còn đại trà là tất cả học sinh lớp 12 còn lại. Như thế sẽ có rất ít học sinh Phổ thông ra trường được biết đến Tuyên ngôn Độc lập. Còn đại trà, đa số, thì không. Đây là một mẹo mực thâm độc nhằm hạ thấp, hạn chế giá trị của Tuyên ngôn Độc lập. Tư tưởng này là nhất quán ở GS. Trần Đình Sử khi ông cho rằng lí luận văn nghệ Mác-xít đã trở nên bơ vơ không còn nơi nương tựa sau khi Liên Xô sụp đổ, lí luận văn học Nhà nước – trong đó có Hồ Chí Minh – đã trở nên mất thiêng. Bây giờ văn hóa không có trung tâm. Chức năng văn học ngày nay là khám phá cái khả năng cái vô thức xã hội v.v… (Trên đường biên của lí luận văn học – NXB Phụ nữ, tái bản, 2016). Một bút danh khác của tác giả Rừng xà nu cho rằng chế độ này thế nào cũng sụp đổ… và ông tôn vinh những người chủ trương bất bạo động, hợp tác với thực dân Pháp…

- Đến nay (2020), trong chương trình hạn chế, Thầy Hinh và Bộ GD-ĐT cho Tuyên ngôn Độc lập là không còn quan trọng! Vì nó không còn được học và nằm trong số các tác phẩm thuộc phạm vi ra đề thi.

Theo chúng tôi, đây là một sai lầm nghiêm trọng. Tuyên ngôn Độc lập giữ vị trí quan trọng bậc nhất trong văn hóa Việt Nam hiện đại. Nó ngang tầm với Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kì (1776), với Tuyên ngôn của Đại cách mạng Tư sản Pháp (1789). Thiết nghĩ, mọi người Việt Nam, mọi công dân của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải được biết, được học Tuyên ngôn Độc lập, thậm chí học thuộc lòng. Bởi Tuyên ngôn Độc lập là áng văn có giá trị về nhiều phương diện và luôn luôn có tính thời sự.

Đây là vấn đề lớn mà Bộ GD-ĐT cần phải xem xét lại. Có thể tinh giản các tác phẩm khác nhưng không thể tinh giản Tuyên ngôn Độc lập.

Nếu Thầy Trần Hinh tán thành quan điểm của Bộ thì thuộc phạm vi như đã nói trên.

Nếu Thầy Trần Hinh chấp hành chương trình tinh giản của Bộ mà không muốn hạ thấp hay tinh giản Tuyên ngôn Độc lập ra khỏi phạm vi học và thi thì vẫn có thể có cách diễn đạt khác. Chỉ cần nói do Covid-19 nên Bộ cho phép tinh giản một số bài học. Các bài được học và thi chỉ còn là… Không cần nói đến tinh giản bài nào; bài nào không còn quan trọng… Như thế nó kín cạnh, chặt chẽ, không “đa tầng đa nghĩa” làm cho bạn đọc có thể hiểu không đúng tâm địa của người viết. Đấy là yêu cầu cơ bản của văn nghị luận.

Chúng tôi sẽ nói rõ ở phần “thăng hoa” văn nghị luận.

- Thầy hướng dẫn phương pháp làm văn nghị luận mà lại phạm vào luật cơ bản của văn nghị luận: luật thống nhất trong chủ đề.

Nếu Rừng xà nu… sẽ không còn trong phạm vi ra đề thì bất tất phải đem Rừng xà nu ra phân tích rất cặn kẽ về học kĩ, nắm chắc từng tác phẩm…

Học sinh sẽ theo bài Thầy: học rất kĩ, nắm rất chắc Rừng xà nu từ hoàn cảnh ra đời, thể loại, phương thức biểu đạt, đề tài và chủ đề, đặc điểm nghệ thuật, nhân vật v.v… nhưng không phải để đi thi! Thầy có thể biện hộ là chỉ hướng dẫn cách làm. Nhưng học trò sẽ tiếp nhận nhiều hơn lời Thầy.

Nếu “đọc hiểu văn bản” thì cho đến nay, vẫn đưa tác giả Nguyễn Trung Thành vào SGK mà không có chú giải cần thiết là rất bất cập. Cũng như chọn Đặng Hoàng Giang hay Cà phê sỏi đá làm Đề thi. Nhà trường không phải là một ốc đảo. Sẽ không ngăn cản một học sinh nào đó hỏi phụ huynh rằng tác giả Nguyễn Trung Thành là người như thế nào mà viết truyện Rừng xà nu hay thế? Thầy giáo có dám chắc là tôi chỉ biết có tác phẩm thôi còn tác giả thì tôi không biết. Thế thì văn chương thành ra thứ bất khả tư nghị (không thể nghĩ bàn), còn nói gì đến văn nghị luận.

Phần “Tăng cường “chất văn” để bài viết nghị luận văn học thăng hoa” được lí giải theo logic “tam đại con gà” như thế này:

“Bởi vậy, cách lựa chọn tối ưu trong bài văn nghị luận văn học, là phải viết hay. Một bài văn hay, là bài viết vượt qua mọi “qui tắc”. Phải hay từ cách đặt vấn đề, đến giải quyết vấn đề và cuối cùng là kết luận vấn đề” (Bđd. Trg.10).

Đã nhiều người nói về “chất văn” nên chúng tôi không dám mạo muội. Nhưng mà nói chất văn, văn hay, thăng hoa… với học sinh THPT chẳng khác nào định nghĩa về Ông Trời: Ông Trời là của chung tất cả mà cũng là của riêng từng người!

Quả thực nói thế nào là văn hay là chuyện khó lắm.

Và Thầy Trần Hinh lại rất tự mâu thuẫn:

“Một cách mở bài như thế không những chỉ đúng, mà còn hay nữa. Bởi nó không dựa vào bất cứ công thức văn mẫu nào, nó là cá tính sáng tạo riêng của học sinh. Trước đây việc dạy và học văn luôn khuyến khích cách viết như thế này. Nhưng từ khi việc học văn trở nên “thực dụng”, thì những bài viết thăng hoa như thế thường không còn nhiều nữa” (Bđd. Trg.10).

Trước khi nói đến mâu thuẫn của Thầy xin được cảm ơn Thầy đã nói thẳng ra thực trạng học văn thực dụng. Thầy nên nói rõ “trước đây” là bao giờ và học văn thực dụng là do dạy văn thực dụng mà ra, có phải không, thưa Thầy?

Nói Thầy mâu thuẫn là ở chỗ này: bài văn hay là không dựa vào bất cứ công thức văn mẫu nào… là vượt qua mọi qui tắc… trong khi chương trình và bài dạy văn của nhà trường, của các Thầy lại là đưa ra những bài văn mẫu, những qui tắc… như Thầy đã hướng dẫn ở bài trước: Chỉ cần hiểu rõ và có khả năng vận dụng, các em hoàn toàn có thể đạt được kết quả kì thi tốt nghiệp trung học tới đây, với riêng môn Ngữ văn (Kĩ năng đọc hiểu văn bản… Văn Nghệ (Hội Nhà văn) số 23 / 6-6-2020).

Nói về chất văn, văn hay, thăng hoa như Thầy là không sai nhưng chưa đủ, chưa phù hợp với đối tượng là học sinh THPT. Thăng hoa đâu chỉ là “bay lượn” nhưng không xa chủ đề. Đây là từ ngữ (thuật ngữ) hơi khó quá sức tiếp nhận của các em. Cố Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến đã có nói đến những giây phút thăng hoa sáng láng của sáng tạo nghệ thuật.

Trong sáng tạo nghệ thuật có những sự kì lạ, không phải kì bí nhưng kì lạ. Câu thơ của Trần Đăng Khoa viết khi 8 tuổi:

Ngoài thềm rơi chiếc lá đa
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng.

Thì người lớn cũng phải giật mình và Trần Đăng Khoa sau này cũng không vượt qua được. Vừa rồi một học sinh lớp 7 trường Duy Tân – Thành phố Huế đạt giải Nhất quốc gia viết thư UPU. Em đã đưa ra một ý tưởng mà nhiều người lớn chưa hẳn đã nghĩ đến mà có nghĩ đến cũng chưa nêu ra được hướng giải quyết. Đó là thay đổi một thói quen. Thói quen dùng hộp xốp chế từ nhựa phế thải đựng đồ ăn. Thay đổi thói quen là rất khó cho nên phải tìm cách làm. Chỉ là bà bán xôi, đang đông khách vì dùng hộp xốp. Nghe nói hộp xốp độc hại, bà dùng lá gói. Ế hàng. Hôm sau bà lại dùng lại hộp xốp. Khách đông trở lại. Nhưng hộp xốp có thay đổi: bên trong lót tấm lá chuối sạch. Từ hộp xốp làm quen với tấm lá chuối để đi đến loại bỏ hộp xốp. Ý tưởng hay và văn (diễn đạt) cũng rất hay, dịu dàng, chân tình, nhẹ nhàng mà thấm sâu.

Thiết tưởng văn hay là ý tưởng độc đáo sâu sắc được diễn đạt bằng ngôn ngữ phong phú phù hợp. Nhà văn tài năng là người có được hai yếu tố đó. Có thể có rất sớm như Trần Đăng Khoa (8 tuổi) hay em học sinh vừa nói trên (12 tuổi) hay Chế Lan Viên, Nguyên Hồng (16 tuổi)… Có người xuất hiện muộn hơn. Nhưng đều là kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố đó.

Văn là môn học được. Văn tài thì khó học. Nhưng phải học. Tài như Chế Lan Viên lại là người học chăm chỉ suốt đời.

Vì thế, muốn văn hay, thăng hoa… các em phải học, phải đọc, phải biết nhiều, suy tưởng nhiều… mới có được. Và chỉ được vượt qua mọi qui tắc, mọi mẫu mực khi nắm thật vững các qui tắc mẫu mực đó. Phải vững các thao tác cơ bản rồi mới thăng hoa bay lượn được, Thầy ạ!

(Còn tiếp)

Trường Xuân
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 603

Ý Kiến bạn đọc