Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Đồ Vương không tranh bá

Không những không tranh bá mà còn bênh che cho bá là ác quyền ác bá quốc tế từng xưng hùng xưng bá ở phương Đông suốt các thế kỷ XIX và XX. Thầy Đồ Trần Ngọc Vương (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng:

“Phan Châu Trinh… sớm nhận ra cái khó khăn của công cuộc cải tạo xã hội và những chặng đường gập ghềnh của tiến bộ xã hội. Vì vậy, ông không chủ trương dùng bạo lực mà đi theo con đường khai sáng với tư tưởng: Khai dân trí – Chân dân khí – Hậu dân sinh. Mọi hoạt động của ông đều minh bạch và công khai. Bên cạnh đó, Phan Châu Trinh chủ trương “Ỷ Pháp cầu tiến bộ”. Ở đây, Phan Châu Trinh đã nhận ra mặt thứ hai của chủ nghĩa thực dân, ấy là mặt xây dựng chứ không chỉ là mặt phá hoại. Đó là cái nhìn tiến bộ và xa hơn rất nhiều so với Phan Bội Châu. Chúng ta chứng kiến một thực tế về sau này là chính hệ thống giáo dục của nước Pháp đã đào tạo ra một đội ngũ trí thức mà chúng ta vẫn gọi là “thế hệ vàng” của trí thức Việt Nam. Và chính những trí thức này sau đó đã góp phần rất lớn trong việc loại bỏ “chủ nghĩa thực dân và tạo nền móng cho một xã hội hiện đại tại Việt Nam”.

(Dẫn theo Nguyễn Văn Thịnh. Hồn Việt, số 105, tháng 7/2016; trang 25).

Nếu cường hào ác bá là chỉ một loại, hạng người có quyền thế, gian ác ở làng xóm xưa, bọn lãnh chúa, giang hồ thảo khấu xưng hùng xưng bá trong thiên hạ thì bọn thực dân, chủ nghĩa thực dân xâm lược cũng nên gọi là bọn ác bá quốc tế. Ác bá trong làng trong xóm, ở nơi hương thôn, đã tàn hại dân lành. Ác bá quốc tế nó tàn hại dân lành ở các quốc gia, dân tộc… khủng khiếp biết bao nhiêu. Tổng kết lịch sử của chủ nghĩa thực dân hiện đại từ khi thực dân phương Tây – như Anh, Pháp, Hà Lan, Bồ Đào Nha… – đi xâm chiếm thuộc địa cho đến khi chúng cáo chung là một việc lớn mà giới sử học quốc tế phải làm. Trong khi chờ đợi công trình quốc tế vĩ đại đó, ta hãy xem xét sơ qua chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam xem luận điểm của thầy đồ Vương nó khoa học đến đâu.

Về lý, ông Nguyễn Văn Thịnh đã phân tích tuy ngắn gọn nhưng xác đáng qua đó người đọc thấy luận điểm của thầy đồ Vương là rất phản khoa học, phản lịch sử. Bài này Năm Châu Đốc nhấn mạnh mấy điểm sau:

Thầy đồ Vương nói liều. Đưa ra luận điểm không có sở cứ:

1/ Phan Châu Trinh sớm nhận ra cái khó khăn của công cuộc cải tạo xã hội và những chặng đường gập ghềnh của tiến bộ xã hội?

Thầy đồ Vương cho biết tư tưởng đó của cụ Phan thể hiện ở đâu, trên văn bản, sự kiện nào, sách báo nào, trang nào quyển nào in ấn ở đâu vào năm nào. Ấy là cái phép đầu tiên, tối thiểu của người làm khoa học. Làm khoa học, tức là nghiên cứu khoa học tuy có khác dạy học đôi chút nhưng về cơ bản là giống nhau. Nhà khoa học đưa tư tưởng, luận điểm trên văn bản. Thầy đồ soạn giáo trình, lên bục phán giảng. Nhưng dù viết hay nói đều phải có sở cứ.

Nếu cụ Phan làm được như vậy thì cụ không chỉ là nhà ái quốc của Việt Nam mà thành nhà triết học, nhà cải cách, nhà cách mạng tầm cỡ nhân loại, cỡ như Rút-xô (Pháp), Stuat Mill (Anh) hay Marx (Đức), Lenin (Nga)…

Phan-Boi-Chau
Phan Bội Châu.

Thầy đồ Vương tuy thế tỏ ra khéo biện thuyết đẩy tư tưởng Cụ Phan lên tầm mức cao nhất mà lẩn tránh đi cái cụ thể. Rất rõ ràng. Ở câu này:

* “Cái khó khăn của công cuộc cải tạo xã hội”… Trương câu này lên thì cả nhân loại phải rạp mình. Bởi có thể vận dụng vào trước Khổng Tử đến tận bây giờ. Nhưng vấn đề cốt lõi lại ở những điểm này:

- Cải tạo xã hội nào, theo xu hướng nào.

- Cái khó khăn cụ thể của công cuộc đó.

Nếu xác định được hai điều cực kỳ quan trọng này thì Cụ Phan chắc thắng. Mà đời Cụ không thành công thì con cháu sẽ tiếp tục.

Thực tiễn lịch sử chứng tỏ Cụ Phan không có được tư tưởng này. Cụ mới chỉ hô hào lòng yêu nước và dũng cảm vạch trần tình trạng hủ bại của đám quan trường, vạch mặt tên vua bù nhìn hèn mạt là Khải Định.

Thế nghĩa là thầy đồ Vương gán tư tưởng của Thầy cho Cụ Phan, bảo là của Cụ Phan. Làm khoa học như thế là không khoa học. Là đem bụng ta đặt vào bụng người. Về lý là sai. Mà về thực tế, hệ lụy cũng không nhỏ. Dù chỉ là một hơi một giọt một chút nỗi lòng. Bởi cái bụng người có khi không chịu tiếp nhận – như ghép gan ghép thận – có khi nhận vào lại sinh ra lắm chuyện cười ra nước mắt!

Song cứ cho là Cụ Phan chấp nhận, của người phúc ta, ngại gì… thì có đúng không?

Hoàn toàn không đúng.

Trong trước tác, trong hoạt động của Cụ Phan không thấy chỗ nào Cụ vạch ra tình trạng xã hội hiện thời của toàn nhân loại, của phương Đông, của châu Á hay riêng của Việt Nam và đường hướng cải tạo. Chỉ ra cái khó khăn chính yếu của công cuộc cải tạo đó.

- Cái khó khăn cụ thể, chính yếu của công cuộc cải tạo xã hội cụ thể. Có thể nói là Cụ Phan chưa thấy ra chỗ cốt lõi phải giải quyết, nói theo phong cách triết học, là mâu thuẫn cơ bản của xã hội cần giải quyết – Cụ không thấy ra thì làm sao thấy được hướng cải tạo và khó khăn cụ thể của công cuộc cải tạo.

Về lôgích không cần phải biện luận tiếp. Nếu không nhìn ra mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam lúc ấy, không xác định phương hướng cải tạo thì cũng không định ra được nhiệm vụ cụ thể. Đó là tình hình chung của các thế hệ trí thức yêu nước đi tìm đường cứu nước từ trước Cụ Phan, đồng thời với Cụ Phan và cả sau Cụ Phan.

Song, hoạt động, cuộc đời, sự nghiệp của Cụ Phan được dân tộc kính trọng. Vì sao? Vì tấm lòng của Cụ đối với nước. Cụ nói một lời, làm một việc chỉ mong cứu được nước.

Vào thời đó mà dám vạch tội Khải Định tức là Cụ đứng trên cái tội khi quân, coi thường cái chết, thì chấn động quốc dân, truyền vào quốc dân tinh thần quật cường, dám vạch mặt vạch tội cả hoàng đế. Lúc đó, Phạm Quỳnh đang đề cao thuyết Lập hiến, tôn quân… nên ảnh hưởng của Cụ Phan càng mạnh. Thuyết của Phạm Quỳnh thành ra những lời lảm nhảm thảm hại.

Vào thời đó mà dám vạch mặt đám quan trường hủ bại, thối nát… là siêu dũng cảm gan dạ, chấp nhận sự thù hận của những Nguyễn Thân, Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đình Khả (cha Ngô Đình Diệm – xem Hồn Việt cùng số, trang 28), Hoàng Cao Khải… tay chân của đám quan thượng này có thể diệt cụ bất cứ lúc nào.

Nội hai việc đó, Cụ Phan đã trở thành bậc đại anh hùng, vị cứu tinh mà dân chúng mong đợi.

Nhưng mà, Cụ có chửi mắng Khải Định gấp bội lần chăng nữa cũng chỉ hả dạ dân chúng trong cơn bực tức. Mà không giải quyết được cái chính yếu, toàn cục.

Bởi Khải Định chỉ là bù nhìn. Tòa Khâm mới là kẻ giật dây con bù nhìn Khải Định. Cũng như Bảo Đại sau này. Như thầy lang chữa u nhọt. Không thấy ra cái ngòi, không nhổ được cái ngòi, lại cứ xoa xoa thổi thổi bên ngoài, không bao giờ khỏi bệnh.

Vạch mặt đám quan trường cũng thế. Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc nói rất đúng: quan trường là cái đám nô lệ trong đám nô lệ (quan trường… hựu nô lệ trung chi nô lệ). Hài tội vạch mặt chửi đám nô lệ cho đến sập ván thiên nghiêng hương án… cũng không giải quyết được việc gì. Có khi chủ của chúng, chủ nô lệ ấy mà – là Tòa Khâm – còn thích thú nữa. Vì Cụ Phan không hướng cái mũi khiên ngọn giáo vào chúng mà lại nhằm vào đám tay sai. Chúng lại được thể: Tại cái đám quan lại Nam Triều nó ức hiếp, chứ nước Pháp văn minh đâu có thế. Có khi Tòa Khâm còn kín đáo mong cho Cụ cứ thế mà làm tới. Rất rõ ràng là vào năm 1926, Cụ Phan diễn thuyết ở Sài Gòn về Luân lý và đạo đức Đông – Tây; Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa… thì cũng vui như Phạm Quỳnh bàn về Mặc Địch, về Khổng Tử, về Thích Ca Mâu Ni, về triết học Âu – Tây trên Nam Phong. Đều là chuyện lao vào rừng mơ của Tào Tháo thôi!

Phân tích về chủ đề này thì phải dài lắm. Nói gọn lại, Cụ Phan và các đồng chí của Cụ đã làm bừng lên tình cảm yêu nước của cả dân tộc. Đường cứu nước dù đúng hay chưa nhưng yêu nước chân thành thì dân chúng vô cùng kính trọng. Là lẽ đương nhiên. Như Cụ Nguyễn Thái Học sau này nói: Không thành công thì cũng thành nhân. Đường lối của Cụ Phan là đường lối cải lương, chủ nghĩa cải lương. Mà chủ nghĩa cải lương của Cụ Phan, được Giáo sư – nhà sử học – nhà cách mạng Trần Văn Giàu đã hình tượng hóa rất sinh động là đặt cái cày trước con trâu! Cho dù có kêu gọi, diễn thuyết tha thiết hùng hồn vạn triệu lần chăng nữa, hiện thực ở nước Nam vẫn không thay đổi. Chủ nghĩa thực dân Pháp, nền cai trị của thực dân Pháp vẫn không hề hấn. Cho nên trong số các chí sĩ cùng thời như Phan Bội Châu, Trần Quí Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Nguyên Cẩn… các chú thực dân cáo già chỉ ưu ái riêng Cụ Phan. Chỗ này, thầy đồ Vương có lời gì không? Chỗ này chúng tôi phỏng đoán rằng, sau sự kiện 1908, Côn Lôn tiếp theo, rồi sang Pháp… Cụ Phan không dám nói đến “cách mạng bạo động” nữa. Trước đây Cụ đã chủ trương bất bạo động. Đến 1905, sang Nhật gặp Cụ Phan Bội Châu, Cụ cũng bất đồng về “bạo động”… nên sau các sự kiện nói trên Cụ càng chủ trương hơn về bất bạo động. Đã bất bạo động thì chỉ còn cải lương, dân trí, dân khí, dân sinh… Không còn đường nào khác. Mà bất bạo động thì ưng cái bụng người Pháp quá.

2/ “Ở đây, Phan Châu Trinh đã nhận ra mặt thứ hai của chủ nghĩa thực dân, ấy là mặt xây dựng chứ không chỉ là mặt phá hoại.

Phan-Chau-Trinh
 Phan Châu Trinh.

Về văn bản, đây là sự bịa đặt, xuyên tạc Cụ Phan. Thầy đồ Vương hãy đưa ra sở cứ. Ở trang nào quyển nào, lời nào, sự việc nào chứng tỏ Cụ Phan đã có được nhận thức đó, đã thấy ra mặt xây dựng của chủ nghĩa thực dân.

Một lần nữa, thầy đồ Vương lại gán tư tưởng, lòng dạ của mình cho người quá cố. Về đạo lý nói chung, là sái lắm. Về đạo lý học thuật càng sái lắm. Nếu có kẻ đạo văn lấy tư tưởng văn chương của người khác làm của mình thì đây lại là ngược lại. Là cưỡng bức, ức hiếp, chà đạp người khác. Của người phúc ta việc người phúc ta, tiếng người bụng ta.

Sự này tàn ác nham hiểm hơn đạo văn. Danh vọng của người bị ức hiếp gieo họa càng lớn thì tác hại xã hội càng lớn. Như con quạ mượn tiếng mượn lốt con công.

Về từ ngữ, thầy đồ Vương không đúng. Không thể dùng từ phá hoại hay xây dựng đối với chủ nghĩa thực dân. Bản chất chủ nghĩa thực dân là cướp bóc nô dịch. Nó tàn phá chứ không phải phá hoại. Phá còn là nhẹ quá. Nó cũng không xây dựng. Bọn kẻ cướp không bao giờ xây dựng một cái gì cả. Nó chỉ dùng những phương tiện khác nhau cho công cuộc cướp bóc mà thôi. Nếu có thể tạo được phương tiện ở thuộc địa, không phải đem từ chính quốc sang, càng tốt. Đến phương tiện cao nhất là con người, nó cũng cố công đào tạo, gây dựng ở thuộc địa. Chính quyền bù nhìn tay sai, các cá nhân phục vụ trong chính quyền thực dân không phải ai cũng như ai. Hoàn cảnh của mỗi người rất khác nhau. Có người chỉ là mưu sinh do thời cuộc. Có người đã trót theo nghiệp khoa cử. Lại có người tự nguyện hăng hái làm phương tiện tiên phong cho bọn thực dân. Như Nguyễn Thân, Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đình Khả, Hoàng Cao Khải, Phạm Quỳnh…

Tất cả các phương tiện vật chất được xây dựng ở thuộc địa là nhằm khai thác thuộc địa được nhanh hơn nhiều hơn hiệu quả hơn. Đường sắt xuyên Việt, cầu Sông Cái (cầu Dumer – cầu Long Biên), cầu Hàm Rồng, cầu Bến Thủy, cầu Trường Tiền (Huế), cầu Đồng Nai (Biên Hòa)… là nhằm mục đích đó. Cho đến các phương tiện văn hóa tinh thần cũng thế. Đào tạo đội ngũ trí thức bản địa để phục vụ cho công cuộc thực dân dùng người Việt trị người Việt chứ không nhằm mục đích giáo dục như ở một quốc gia độc lập tự chủ. Nhà hát lớn Hà Nội (xây năm 1911) trước đây dân ta gọi rất đúng là Nhà hát Tây. Không chỉ do Tây làm mà để phục vụ cho Tây và tầng lớp quan chức, phú hào, tư sản vào làng Tây. Dân Annammít đâu dám bén mảng tới đó. Ở những nơi đó, người dân bản xứ làm việc phục vụ phục dịch không được tự tiện đi lại. Thời trước 1975, ở lối lên bể bơi công viên Tao Đàn có tấm biển: Cấm lái xe không được lên bể bơi! Thế thì trước 1945, sẽ là như thế nào. Vấn đề ở đây là quan điểm khoa học và lịch sử khi nhìn nhận một vấn đề, không đơn thuần là chữ nghĩa. Chữ nghĩa do nhận thức lựa chọn.

Ông Lại Nguyên Ân tại Hội nghị Lý luận – phê bình văn học toàn quốc lần thứ IV, Tam Đảo, ngày 25/6/2016 cũng có đồng quan điểm với thầy đồ Vương. Cho rằng thực dân Pháp có công khai hóa xây dựng. Bằng chứng là trước khi người Pháp đô hộ, Việt Nam chưa có một mét (1 mét, 1 maitre) đường sắt. Chưa có cầu Long Biên… Nhờ người Pháp mà có cái này cái kia. Thầy đồ Vương thấy có hay không? Thử xem sau 40 năm khai thác (1904-1944), cầu Long Biên đem lại nguồn lợi cho thực dân Pháp như thế nào. Và oái oăm hơn, là Chính phủ Bảo hộ phải vay tiền của chính quốc để dựng cầu Long Biên đấy, đâu phải họ “Viện trợ không hoàn lại”, viện trợ ODA, hưởng quy chế “Tối huệ quốc”.

Lấy cái phương tiện vật chất cụ thể, bề ngoài mà che lấp đi cái thực chất bên trong, thầy đồ Vương và các ông Nguyên Ngọc, Lại Nguyên Ân đã tự nguyện làm trạng sư bênh vực cho tội ác của thực dân Pháp ở Đông Dương và Việt Nam. Bởi chỉ riêng đường sắt Hà Nội – Lào Cai đã vùi lấp mấy ngàn người dân Việt Nam. Chỉ đóng cái đinh chốt ở đỉnh cầu Hàm Rồng cũng cướp đi sinh mạng nhiều người dân Việt.

Thầy đồ Vương cùng các ông Nguyên Ngọc, Lại Nguyên Ân hãy chung tay xây dựng một công trình: Tổng kết công và tội của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam trong suốt quá trình xâm lược và thống trị Việt Nam, kể từ tiếng súng đầu tiên ở Đà Nẵng năm 1847 đánh đắm các chiến thuyền của nhà Nguyễn cho đến tiếng súng cuối cùng chiều ngày 7/5/1954 ở Điện Biên Phủ… về tất cả mọi phương diện người và của, nhân tài vật lực, tài nguyên môi trường, chữ Hán – Nôm và chữ quốc ngữ… mới đủ cơ sở và tư cách nói đến công khai hóa, mặt xây dựng của chủ nghĩa thực dân.

Chắc chắn tư liệu cho công trình đó phải rất nhiều. Trong số đó, các ông không thể không xem đến Bản án chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương của Nguyễn Ái Quốc xuất bản tại Paris năm 1925. Tại sao năm 1923 Nguyễn Ái Quốc đang ở Quảng Châu – Trung Quốc. Năm 1924 đã ở Mátxcơva, đến viếng Lênin, ngay sau khi Người qua đời. Năm 1925 chắc chắn là Nguyễn Ái Quốc không ở Paris. Ai đứng ra xuất bản tác phẩm này. Thưa rằng, đó là nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền, người đồng chí trong nhóm Ngũ Long ở Pháp (gồm Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh) đã chọn lọc các bài viết của Nguyễn Ái Quốc in thành bản sách trên (Xem Hồn Việt số 105, tháng 7/2016).

Thầy đồ Vương làm sao không biết nguyên tắc của khoa học là phải có căn cứ hiện thực. Quan điểm giải thích, cách hiểu khác nhau, nhưng tư liệu tài liệu sở cứ, phải trung thực, chân thực. Thế nhưng người ta vẫn vi phạm, cố tình vi phạm chỉ nhằm mục đích quảng bá quan điểm tư tưởng của họ thôi. Và đấy rõ ràng là vấn đề chính trị. Thầy đồ Vương dù có chạy lên chốn Thiên Thai cũng không bác bỏ được nguyên tắc đó. Chỉ có một lựa chọn: Hoặc là khoác áo tơi lên chốn Thiên Thai. Hoặc là đội mũ Tấn sĩ lên giảng đường thuyết giảng. Ở đâu phải theo lệ đó. Nếu thầy nhập nhằng, lòng dạ để chốn Thiên Thai, xác thân nơi thị trường… Hội trường thì thành ra Hồn Trương Ba da Đại Học. Học trò, bạn đọc không biết lối nào mà lần. Mong thầy gia ơn gia bộ cho đám học trò để bạn đọc cùng Năm Châu Đốc được hưởng ơn khai ngộ.

Kính mong thầy Đồ Vương soi xét. 

Văn Miếu Thăng Long, Mùa hạ năm Bính Thân (tháng 7/2016)

Năm Châu Đốc
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 410

Ý Kiến bạn đọc