Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Đó là gì nếu không là quy chụp chính trị?

Tạp chí Xưa & Nay số 497 (9-2017) có bài “Không thể tùy tiện xuyên tạc các nguyên tắc biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam” của ông Vũ Minh Giang. Bài báo viết: “… Thể lệ biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam, trong đó toàn thể, toàn diện là những quan điểm có tính nguyên tắc. Công việc được tiến hành một cách cẩn trọng và khoa học và được các cấp lãnh đạo, quản lý tin tưởng, giới khoa học trong và ngoài nước đánh giá cao như vậy, nhưng không hiểu nguyên do vì đâu mà từ cuối tháng 2 đến nay (trong vòng hơn 5 tháng) trên tuần báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh liên tục đăng tới 19 bài (nghĩa là hầu như tuần nào cũng có bài với nội dung đã kích GS. Phan Huy Lê và một số người có trách nhiệm trong Đề án bằng cách nêu lên một số nội dung liên quan đến Lịch sử Việt Nam mà họ cho là GS. Phan Huy Lê sai để phê phán… Không khó để nhận ra rằng cách viết của tác giả các bài báo này hoàn toàn không phải là thảo luận khoa học, và hơn thế trong nhiều dẫn liệu phục vụ cho lập luận lại đầy rẫy những sai phạm ấu trĩ của những người không hiểu vì không làm trong lĩnh vực sử học… Trước hết tôi bắt đầu từ bài viết: “Chỉnh sửa sách giáo khoa sử học và biên soạn bộ Quốc sử như thế này sao?” của tác giả Hoàng Phương đăng trên tuần báo Văn Nghệ TP.HCM số 451 ngày 25-5-2017. Trong bài này tác giả viết: “Không thể có trong bộ Lịch sử Việt Nam đang được biên soạn, cần phải trình bày về Lịch sử Việt Nam theo quan điểm đầy đủ, toàn diện… Quan điểm đầy đủ, toàn diện… là quan điểm gì, thấy sao mơ hồ quá!”. Cách đặt câu hỏi như vậy có nghĩa là tác giả chưa / không hiểu gì về quan điểm này. Lẽ tự nhiên là một khi chưa hoặc không hiểu về một điều / vấn đề gì đấy thì phải cầu thị tìm hiểu. Đằng này tác giả chẳng những không làm thế mà lại tự đưa ra kết luận rất hàm hồ rằng: “Dư luận hoàn toàn không yên tâm nếu giao cho một nhóm người của Hội KHLS chỉnh sửa sách giáo khoa sử học và biên soạn bộ quốc sử nước nhà, Hội KHLS sẽ đứng trên lập trường, quan điểm như vừa nêu trên chắc chắn sẽ gây ra cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta những tổn thất không nhỏ trong lĩnh vực giáo dục chính trị tư tưởng cho mọi công dân. Rõ ràng Hội KHLS chỉnh sửa sách giáo khoa sử học và biên soạn bộ quốc sử nước nhà là không chấp nhận được”.

Ông Vũ Minh Giang đặt vấn đề khá hay: chưa / không hiểu về quan điểm này. Lẽ tự nhiên là một khi chưa hoặc không hiểu về một điều / vấn đề gì đấy thì phải cầu thị tìm hiểu. Tôi đã tìm hiểu rất kỹ lưỡng quan điểm đầy đủ toàn diện của các ông trong cái gọi là hội thảo khoa học “Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX”, hoặc “Sự cần thiết phải nhận thức và đánh giá về các chúa Nguyễn và triều Nguyễn một cách khách quan công bằng”. Nhằm công nhận Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký yêu nước; Gia Long có công thống nhất đất nước, Bảo Đại có “Quốc gia Việt Nam”; Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu có cái gọi là “Việt Nam cộng hòa” đều là thực thể – cố gắng tô vẽ cho đẹp như chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa do Bác Hồ của chúng ta làm đại diện; như có người cho rằng sẽ vượt qua mọi rào cản về “ý thức hệ”, không gọi các chế độ bù nhìn tay sai là ngụy quyền, ngụy quân nữa; mục đích cuối cùng của các ông phải là thay đổi chế độ nhà nước định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay và hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam. Tôi hiểu cái quan điểm đầy đủ toàn diện của các ông không giống như cái suy nghĩ về trách nhiệm của người viết sử là phải tôn trọng sự thật, trung thực, khách quan. Những người viết lịch sử chân chính, chính là người làm tốt công tác chính trị tư tưởng, là người góp phần hình thành nhân cách, phẩm chất, lối sống cho mọi công dân theo mục tiêu “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Nhu cầu hiểu biết tường tận về lịch sử dân tộc luôn là khát vọng của mọi người Việt Nam yêu nước. Các bài học, kinh nghiệm từ quá khứ lịch sử vẫn mang lại những giá trị to lớn đối với xã hội, để động viên nhân dân trong cuộc đấu tranh giành lại độc lập dân tộc dân chủ trước đây, cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Khi còn sinh thời, Bác Hồ kính yêu của chúng ta rất quan tâm tới lịch sử. Người viết: “Dân ta phải biết sử ta / Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Dân ta phải biết sử ta. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước, tiếng để muôn đời.

Phan-Thanh-Gian-tai-Paris-nam-1863---Anh-1
Phan Thanh Giản – tại Paris năm 1863 – Ảnh: wikipedia.org

Trước khi vua Gia Long bán nước ta cho Tây, nước ta vẫn là một nước độc lập. Đời nào cũng có người anh hùng mưu cao võ giỏi đứng ra đoàn kết nhân dân đuổi giặc cứu nước.

Đời Trần, quân Nguyên đánh đâu được đấy, chiếm nước Tàu và nửa châu Âu, thế mà 3 lần bị ông Trần Hưng Đạo đánh tan. Bình dân như ông Lê Lợi và ông Nguyễn Huệ đã đánh đuổi quân Tàu làm cho nước ta độc lập.

Người già như ông Lý Thường Kiệt quá 70 tuổi mà vẫn đánh Đông dẹp Bắc, bao nhiêu lần đuổi giặc cứu dân.

Thiếu niên như Đổng Thiên Vương chưa đến 10 tuổi mà đã ra tay cứu nước, cứu nòi. Trần Quốc Toản mới 15, 16 tuổi đã giúp ông Trần Hưng Đạo đánh phá giặc Nguyên.

Phụ nữ thì có bà Trưng, bà Triệu ra tay khôi phục giang san.

Những vị anh hùng ấy vì nước, vì dân mà làm nên sự nghiệp kinh thiên động địa. Nhờ những vị dân tộc anh hùng ấy mà nước ta được tự do, độc lập, lừng lẫy ở Á Đông.

Vì muốn giành làm vua mà Gia Long đem nước ta bán cho Tây. Thế là giang san gấm vóc tan tác, tiêu điều; con Lạc cháu Hồng hóa làm trâu ngựa.

Từ đó đến nay, biết bao nhiêu người oanh liệt đứng lên khởi nghĩa đánh Tây như ông Phan Đình Phùng, ông Hoàng Hoa Thám, vân vân.

Sử ta dạy cho ta bài học này:

Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn.

Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi dưới ngọn cờ Việt Minh để đánh đuổi Tây – Nhật, khôi phục lại độc lập, tự do” (Thơ Văn Hồ Chí Minh – NXB Giáo dục, tr.380-381).

Thời đại nào cũng vậy, đòi hỏi người viết sử phải có cái tâm trong sáng, những điều viết ra phải trung thực, không chỉ nêu lên những sự việc, ở những thời đại của quá khứ đã qua, mà còn viết về những sự kiện trong thời hiện tại mà mình đang sống; có thế nào, viết thế ấy, tôn trọng sự thật khách quan chứ không theo quan điểm đầy đủ, toàn diện như ông Phan Huy Lê và các ông đã nói, vì lời nói và việc làm của ông Phan Huy Lê và các ông lại rất mơ hồ, mâu thuẫn; không chỉ mâu thuẫn với lập luận của Bác Hồ (như vừa trích dẫn nêu trên), mâu thuẫn với sử sách lịch sử đã ghi chép và mâu thuẫn với chính lập luận của các ông và không đi đôi với sự thật khách quan của lịch sử thời đã qua, xin đơn cử:

GS. Lê Trí Viễn trong tác phẩm “Đặc điểm Lịch sử Văn học Việt Nam” do NXB Đại học và Trung học Chuyên nghiệp ấn hành, trang 240 ghi rõ: “… đến giữa thế kỷ XIX, giai cấp phong kiến tiêu biểu là triều Nguyễn, không nắm nổi ngọn cờ dân tộc, mà chọn con đường núp mình dưới bóng cờ xâm lược làm tay sai chống lại dân tộc và nhân dân…”.

Đại cương Lịch sử Việt Nam – Chủ biên: GS. Trương Hữu Quýnh, GS. Đinh Xuân Lâm, PGS. Lê Mậu Hãn – NXB Giáo dục, tr.495 viết: “Chính giữa lúc phong trào kháng chiến trong nhân dân dâng lên cao như vũ bão làm cho quân giặc hoảng vía kinh hồn như vậy thì bọn vua quan phong kiến đã phản bội quyền lợi nhân dân, quyền lợi Tổ quốc, ký hàng ước 5-6-1862, cắt đứt ba tỉnh miền Đông dâng cho giặc”. Bọn vua quan phong kiến đã phản bội quyền lợi nhân dân, quyền lợi Tổ quốc, đó chính là vua Tự Đức và Phan Thanh Giản làm đại diện đấy ông Giang ạ!

Chính các ông cũng viết: “Từ cuộc khởi nghĩa ở Tây Sơn Thượng đạo, khởi nghĩa Tây Sơn phát triển thành phong trào nông dân rộng lớn, vươn lên gánh vác sứ mệnh lịch sử của dân tộc, lập nên những kỳ tích hiếm có. Đó là, đánh đổ chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong, chính quyền của chúa Trịnh cùng chế độ quân chủ của vua Lê ở Đàng Ngoài, đập tan cuộc xâm lược của quân Xiêm ở phía Nam, quân xâm lược Mãn Thanh ở phía Bắc, bảo vệ nền độc lập dân tộc, xóa bỏ tình trạng chia cắt đất nước, bước đầu đặt nền móng cho sự thống nhất nước nhà.

Với những kỳ tích oanh liệt đó, phong trào Tây Sơn đã trở thành phong trào dân tộc vĩ đại, lừng danh trong lịch sử Việt Nam thời quân chủ”.

Chưa hết, các ông còn viết: “… Sau khi thành lập, vương triều Nguyễn đã thừa hưởng được thành quả to lớn của phong trào nông dân Tây Sơn trong sự nghiệp thống nhất đất nước, làm chủ một lãnh thổ dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, bao gồm cả Đàng Trong và Đàng Ngoài”.

Chỉ bấy nhiêu đó đã xổ toẹt cái gọi là: Hội thảo khoa học “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX”, hoặc “Sự cần thiết phải nhận thức và đánh giá về các chúa Nguyễn và triều Nguyễn một cách khách quan công bằng” do ông Phan Huy Lê chủ xướng và rêu rao.

Sự thật, trong dân gian từ bao đời nay vẫn truyền tụng những câu: “Bảo Đại là cháu Gia Long / Là con Khải Định là dòng Việt gian”,“Gia Long cõng rắn cắn gà nhà, Rước voi giày mả tổ”, hoặc “Phan Lâm mại quốc, triều đình khí dân”, “Tin đồn Khải Định nịnh Tây / Nghề này thì lấy ông này tiên sư”. Ngay từ đầu thế kỷ XX, cụ Ngô Đức Kế đã viết: “Ai về địa phủ hỏi Gia Long / Khải Định thằng này phải cháu ông?/ Một lễ tứ tuần vui lũ trẻ / Trăm gia ba chục khổ nhà nông / Mới rồi ngoài Bắc tai liền đến / Năm ngoái qua Tây ỉa vãi cùng! / Bảo hộ trau dồi nên tượng gỗ / Vua thời còn đó, nước thời không…”. Các ông thấy đấy, cái gì văn học dân gian từ bao đời nay đã đúc kết lưu truyền từ đời này sang đời khác không bao giờ sai; sử sách như vừa trích dẫn cũng không bao giờ sai. Vậy mà đất nước ta chỉ mới được độc lập, thống nhất, hòa bình chỉ mới 18 năm (1990-2008), ông Phan Huy Lê đã khởi xướng ra cái gọi là Hội thảo khoa học “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX” hoặc “Sự cần thiết phải nhận thức và đánh giá về các chúa Nguyễn và triều Nguyễn một cách khách quan công bằng”; đi ngược lại quan điểm của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, văn học bình dân lưu truyền trong dân gian và của các nhà sử học và các nhà khoa học khác…

Theo tôi, “Xét lại lịch sử” hoặc “Viết lại lịch sử” có nhiều loại với động cơ và mục đích khác nhau. Tôi đơn cử có 2 loại: Loại đầu độc về tư tưởng: Loại này cho rằng: Không cần phải chống Pháp, chống Mỹ làm chết hơn 3 – 4 triệu dân trong cả nước là vô ích! Theo quy luật phát triển tự nhiên đến một lúc nào đó Pháp, Mỹ cũng phải trả lại quyền độc lập, tự do cho nhân dân ta. Tôi rất đồng tình với tác giả Nguyễn Mạnh Quang – nhà sử học người Mỹ gốc Việt cho rằng: “Trừ phi không biết hoặc thuộc loại phản quốc, khi có một nước khác đến ngồi trên đầu làm chủ, không có một người dân tử tế nào bằng lòng chờ cho có ngày bọn thực dân tự động trả lại cơ đồ ông cha mình cả. Nếu theo luận điệu ươn hèn như trên, thì những công lao và sự hy sinh của hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ trong các lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta trong đại cuộc đánh đuổi giặc Pháp ngoại xâm từ năm 1858 đến năm 1954 đều là vô ích hay sao! Và hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến 1954 – 1975 để đòi lại miền Nam trong tay Mỹ, đem lại thống nhất cho đất nước cũng là vô ích hay sao! Đưa ra luận điệu này là tỏ ra vô ơn với hàng triệu anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống cho Tổ quốc Việt Nam được trường tồn”.

Loại phục vụ cho âm mưu “hạ bệ thần tượng, giật đổ tượng đài”, họ lớn tiếng hô hào xét (viết) lại lịch sử chỉ mượn danh khoa học lịch sử. Rất dễ nhận ra phương pháp họ sử dụng rất phi khoa học, tư liệu họ dùng để làm “bằng chứng” được ngụy tạo một cách sống sượng, gượng ép khó thuyết phục. Thí dụ: “… ngày 5-6-1862, Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp (Hiệp) đã thay mặt triều Nguyễn hạ bút ký hòa ước (sử sách thường gọi là Hiệp ước Nhâm Tuất), cắt đứt ba tỉnh miền Đông cho giặc. Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp (Hiệp) đều là những người yêu nước nhưng luôn mang tư tưởng chủ hòa nên có ảo vọng muốn ký kết sớm với Pháp để có thời gian chấn chỉnh đất nước, sau đó mới tính đến những chuyện thu hồi những vùng đất đã mất, mà không biết rằng kẻ thù không hề ngây thơ để cho ta làm như vậy”. Thực tế khi ký Hiệp ước Nhâm Tuất, Phan Thanh Giản đã 66 tuổi, nói chính xác là ông ta đầu hàng Tây để “vinh thân phì gia” chứ không thể cho rằng ông ta ngây thơ hay Tây ngây thơ được!

Khi còn sinh thời Bác Hồ dạy: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi hẳn lên, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”, và lịch sử đã chứng minh như vậy. Phan Thanh Giản có tư tưởng đầu hàng, phản bội dâng cả 6 tỉnh Nam bộ cho thực dân Pháp lại còn bồi thường 20 triệu phơrăng chiến phí (tiền công) nó đi cướp đất nước mình, đè đầu cỡi cổ nhân dân mình thì là ngu không hiểu nổi mà các ông lại cho rằng nhận thức của Phan Thanh Giản: “Đó cũng là nhận thức của phần lớn quan lại triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ”. Sự thực, phần lớn quan lại triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ như: Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Trương Định, Nguyễn Hữu Huân (Thủ khoa Huân), Nguyễn Trung Trực, Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Phan Đình Phùng… đều chống thực dân Pháp và sống vĩ đại chết quang vinh, họ để lại gương sáng muôn đời cho con cháu noi theo. Chứ đâu ai thấp hèn, đầu hàng bán nước cầu vinh như Phan Thanh Giản và các ông vua: Gia Long, Tự Đức, Đồng Khánh, Khải Định, Bảo Đại… Thế mà ông Phan Huy Lê và các ông cho rằng Phan Thanh Giản yêu nước, thương dân; còn Gia Long có công thống nhất đất nước! Sự thật, khi chưa làm vua, ngày 28-11-1787, Bá Đa Lộc thay mặt Nguyễn Ánh ký kết với chính phủ Pháp hiệp định Versailles nhượng hẳn quần đảo Côn Lôn, cảng Hội An và cam kết để cho Pháp độc quyền buôn bán trên cả nước, cung cấp binh lính và lương thực cho Pháp khi có tranh chấp giữa Pháp với một nước ở phương Đông. Vậy thì Gia Long thống nhất đất nước chỗ nào, thưa quí ông? Rõ ràng là không đúng sự thật, sống sượng, gượng ép, không thuyết phục được ai.

Vậy mà ông Giang đã nặng lời cho rằng “tác giả tự đưa ra kết luận rất hàm hồ”. Hàm hồ có nghĩa là cách nói năng thiếu căn cứ, không phân rõ đúng sai, không đúng sự thật. Như tôi đã trình bày ở trên, xin mời ông Giang, bạn đọc và các ngành chức năng xem xét Hoàng Phương có hàm hồ hay không và ai đã hàm hồ với ai?

(Còn tiếp kỳ sau)

Luật gia, nhà báo Hoàng Phương
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 474

Ý Kiến bạn đọc