Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Đó là gì nếu không là quy chụp chính trị?

Kỳ 2
(Tiếp theo số báo 474, ngày 2-11-2017)

Ông Giang còn cho rằng:“Có thể do đặc điểm lịch sử Việt Nam bị chi phối thường xuyên bởi yếu tố chiến tranh nên trong thực tế các lĩnh vực, các lĩnh vực chính trị, quân sự thường chiếm tỷ trọng cao trong các bộ sử, trong khi đó những mặt cơ bản của lịch sử như hoạt động kinh tế, đời sống xã hội – văn hóa của người dân lại thường ở những vị trí không tương xứng, thậm chí còn bị lãng quên.

Tình trạng này đã dẫn đến những hiểu biết lệch lạc về lịch sử và con người Việt Nam. Đã có thời chính chúng ta đã tưởng lầm rằng người Việt chỉ giỏi tiến hành các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, còn người nước ngoài thì cho chúng ta là kẻ hiếu chiến… Chính những nhận thức phiến diện này đã khiến nhiều người ngỡ ngàng không thể lý giải khi có người Việt Nam vượt lên trên tất cả các quốc gia châu Âu để đoạt giải nhất cuộc thi Piano mang tên Chopin danh giá, hay gần đây vươn lên giành giải Field, một giải thưởng tương đương với Nobel trong toán học…

Dẫn đến tình trạng trên có thể do nhiều nguyên nhân, nhưng cách viết sử thiên lệch, nói nhiều về chiến tranh, ca ngợi một chiều về chiến thắng quân sự và trình bày chưa đúng tầm mức về kinh tế, xã hội và văn hóa (thiếu toàn diện) đã ảnh hưởng không nhỏ đến những nhận thức sai lầm ấy”.

Ông Giang biết đấy, sử sách Việt Nam có rất nhiều, xin đơn cử:

Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam đã biên soạn Lịch sử Việt Nam được tham khảo từ hàng trăm tài liệu của nước ngoài như: Pháp, Anh, Trung Quốc với các tác giả như Alexandre de Rhodes, Barrow… và nhiều tài liệu trong nước của những bậc thầy như: Lê Quý Đôn, Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức, Hoàng Xuân Hãn, Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh, Nguyễn Khánh Toàn, Trần Huy Liệu, Trần Văn Giàu…

Đại cương Lịch sử Việt Nam – Chủ biên: GS. Trương Hữu Quýnh, GS. Đinh Xuân Lâm, PGS. Lê Mậu Hãn – NXB Giáo dục (sđd.) dày hàng nghìn trang đều viết đầy đủ: Lịch sử Việt Nam từ thời nguyên thủy đến 1858; từ 1858 đến 1945 và từ 1945 đến 2000 – trong đó ghi chép đầy đủ và trọn vẹn về lịch sử dân tộc: con người, chính trị, quân sự, kinh tế,

văn hóa – xã hội Việt Nam. Riêng triều Nguyễn, bộ sử này viết đủ cả: Tổ chức chính quyền, Luật pháp, Quân đội, Ngoại giao. Về kinh tế thì có: Nông nghiệp, Công thương nghiệp; Tình hình xã hội và các cuộc đấu tranh của nhân dân; Tình hình văn hóa ở nửa sau thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX trong đó có: Tôn giáo, tín ngưỡng; Giáo dục và văn học; Nghệ thuật; Khoa học kỹ thuật… Các sử sách xưa nay “thiếu toàn diện” như các ông áp đặt, là do các sử sách ấy và văn học dân gian lưu truyền từ đời này sang đời khác không xem Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký là yêu nước, không xem Gia Long có công thống nhất đất nước và cũng không xem Bảo Đại với cái gọi là “Quốc gia Việt Nam”; Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu với cái gọi là “Việt Nam cộng hòa” là một “thực thể” cũng như không gọi chúng là ngụy quyền ngụy quân nữa! Các ông cứ mở các bộ sử ấy ra xem chứ không phải: “Có thể do đặc điểm lịch sử Việt Nam bị chi phối thường xuyên bởi yếu tố chiến tranh nên trong thực tế các lĩnh vực, các lĩnh vực chính trị, quân sự thường chiếm tỷ trọng cao trong các bộ sử, trong khi đó những mặt cơ bản của lịch sử như hoạt động kinh tế, đời sống xã hội – văn hóa của người dân lại thường ở những vị trí không tương xứng, thậm chí còn bị lãng quên”(?!).

Đại bộ phận người dân Việt Nam không ai hiểu biết lệch lạc về lịch sử và con người Việt Nam và cũng không ai tưởng lầm rằng người Việt chỉ giỏi tiến hành các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, còn người nước ngoài thì cho chúng ta là kẻ hiếu chiến. Các ông xem, từ xa xưa, dân tộc ta là một dân tộc rất yêu chuộng hòa bình, trong 10 năm kháng chiến chống quân Minh, sử sách còn ghi chép: tướng giặc Vương Thông bị ta bao vây, cô lập. “Ngày 16 tháng chạp năm Đinh Mùi (1427), tại một địa điểm gần thành Đông Quan, Vương Thông – tướng chỉ huy đội quân xâm lược Minh đã phải tuyên thệ: xin rút hết quân về nước. Bình Định Vương Lê Lợi cấp 500 chiến thuyền giao cho bọn Phương Chính, Mã Kỳ đi đường thủy về nước. Lê Lợi còn cấp 2 vạn con ngựa và lương thực cho bọn Sơn Thọ, Hoàng Phúc dẫn 2 vạn quân đi đường bộ.

Trước đó, một chiều mùa đông năm Đinh Mùi, trước khi lên đường, Phương Chính, Mã Kỳ tới đại bản doanh của Lê Lợi ở Bồ Đề (Gia Lâm, Hà Nội) để xin từ biệt. Hai viên tướng này lưu luyến ở lại tiếp chuyện với Lê Lợi, Nguyễn Trãi suốt cả một buổi chiều. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép lại rằng Vương Thông cùng Lê Lợi nói chuyện từ biệt suốt đêm. Khi chia tay, Lê Lợi sai sắm trâu rượu, trướng vẽ và lễ phẩm hậu tặng hai viên tướng này. Khi ấy, các tướng sĩ và nhân dân đều căm thù sự tàn ác của người Minh đã gây ra, mọi người đều một lời khuyên Lê Lợi nhân dịp này giết chết cả đi, nhưng Lê Lợi không nghe theo vì muốn giao hòa, hữu hảo với nhà Minh. Sau đó, Vương Thông rút về nước, từ đó nước ta sạch bóng quân xâm lược” (Tìm hiểu về các triều đại Việt Nam của TS. Cao Ngọc Lân – ThS. Cao Vũ Minh, NXB Lao Động, tr.220). Rõ ràng, từ 590 năm trước, Lê Lợi là người đại diện cho nhân dân ta không chỉ giỏi về tổ chức kháng chiến chống ngoại xâm thắng lợi, mà còn tỏ rõ đức hiếu sinh và yêu chuộng hòa bình.

Đến thời hiện đại: “Dân tộc Việt Nam vốn là một dân tộc rất yêu chuộng hòa bình. Nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta, những người cộng sản Việt Nam rất yêu chuộng hòa bình, không muốn chiến tranh, rất ghét bạo lực, nhưng phải là hòa bình trong độc lập tự do. Tuy nhiên, bọn đế quốc thực dân vẫn thực hiện dã tâm xâm lược nước ta, áp đặt chiến tranh cho nhân dân ta, hết cuộc chiến tranh này đến cuộc chiến tranh khác, buộc nhân dân ta phải cầm súng chiến đấu liên tục suốt mấy thập kỷ liền. Bạo lực cách mạng chỉ cần thiết khi buộc phải đối phó với bạo lực phản cách mạng. Dùng binh là việc nhân nghĩa, muốn cứu nước, cứu dân (Hồ Chí Minh). Tuyên bố với phóng viên báo Paris – Sài Gòn ngày 13-12-1946, trước ngưỡng cửa cuộc kháng chiến toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đồng bào tôi và tôi thành thật muốn hòa bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh. Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi cách. Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta bắt buộc chúng tôi phải làm, thì chúng tôi sẽ làm, chúng tôi không lạ gì những điều đang đợi chúng tôi… nhưng dân tộc Việt Nam đã sẵn sàng chịu đựng tất cả, chứ không chịu mất tự do.

Trong quá trình chiến tranh, hơn một lần chúng ta muốn kết thúc chiến tranh bằng hòa bình, thông qua các cuộc thương lượng hòa bình và đã ký kết những hiệp định hòa bình. Chúng ta muốn tranh thủ mọi khả năng hòa bình có thể được. Nhưng cuối cùng chúng ta vẫn phải giành lấy hòa bình bằng chiến tranh, thông qua chiến tranh. Chúng ta không cho phép ai dùng chiêu bài “hòa bình” để giành lấy những gì không giành được trên chiến trường, buộc nhân dân ta phải khuất phục”.

Còn người nước ngoài cho chúng ta là kẻ hiếu chiến ư? Nếu như vậy, thì tại sao người nước ngoài lại ủng hộ “kẻ hiếu chiến Việt Nam” đến như vậy ngay tại nước Mỹ thời chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược: “phong trào nhân dân Mỹ phản đối chiến tranh đã bùng nổ dữ dội, lan rộng chưa từng có, làm lay chuyển cả nước Mỹ. Nhiều cuộc biểu tình, diễu hành, hội thảo được tổ chức ở 120 thành phố, với sự tham gia của 2.000 trường học, hàng trăm tờ báo phản chiến và hơn 200 tổ chức quần chúng, tổ chức phi chính phủ làm rung động Nhà Trắng. Thanh niên, sinh viên đốt thẻ quân dịch, cựu binh vứt bỏ huân chương để phản đối chính phủ. Chiến sĩ hòa bình Nôman Môrixơn tự thiêu trước cửa sổ Lầu Năm Góc… Oantơ Lipman, nhà bình luận chính trị nổi tiếng nước Mỹ hồi đó nhận xét: “lương tâm người Mỹ nổi giận… Cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là cuộc chiến tranh không được lòng người nhất trong lịch sử Hoa Kỳ”. Trên thế giới, Hội nghị 50 nước trong phong trào Không liên kết họp ở Gioócgiơtao (1972) lên án cuộc chiến tranh của Mỹ xâm lược Việt Nam. Các tổ chức hòa bình, Tòa án quốc tế Béctơrăng Rútxen, Giáo hoàng, nhiều nhà khoa học nổi tiếng… xét xử tội ác, lên án và phản đối Mỹ…” (Chiến tranh Cách mạng Việt Nam 1945 – 1975: Thắng lợi và Bài học – Ban chỉ đạo Tổng kết Chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, NXB Chính trị Quốc gia, tr.204, 205, 237, 238). Rõ ràng, ông Giang và các ông chỉ suy diễn theo ý nghĩ chủ quan của các ông rồi áp đặt cho lịch sử chứ lịch sử không có cơ sở nào làm điểm tựa để bênh vực cho các ông.

Ông Giang còn cho rằng, chính những nhận thức phiến diện này đã khiến nhiều người ngỡ ngàng không thể lý giải khi có người Việt Nam vượt lên trên tất cả các quốc gia châu Âu để đoạt giải nhất cuộc thi Piano mang tên Chopin danh giá, hay gần đây vươn lên giành giải Field, một giải thưởng tương đương với Nobel trong toán học…

Như ông Giang biết đấy, người Việt Nam luôn có lòng yêu nước nồng nàn, vốn siêng năng, cần cù, thông minh, sáng tạo. Đặc điểm lịch sử của đất nước chúng ta từ khởi thủy đến nay luôn bị bọn ngoại bang dòm ngó, xâm lăng, thôn tính, do vậy nhân dân ta có nhiều thời gian phải kháng chiến và kiến quốc. Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, nhân dân ta không chỉ chắc tay súng, vững tay búa, vững tay cày đó sao? Bất kể thời chiến hay thời bình, nếu có người có điều kiện, siêng năng ăn học đến nơi đến chốn, thi đoạt giải nhất cuộc thi Piano mang tên Chopin danh giá, hay gần đây vươn lên giành giải Field trong toán học mang lại lợi ích cho quốc gia, dân tộc; đó là điều đáng trân trọng, nên nêu gương để thế hệ trẻ học tập, chứ người Việt Nam chúng ta chẳng ai phải ngỡ ngàng và không thể lý giải những điều ông Giang vừa áp đặt.

Sự thật lịch sử Việt Nam đã chứng minh, theo nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao – Nguyễn Dy Niên nói về đồng chí Lê Đức Thọ: “Ông là nhà ngoại giao khổng lồ. Ông khổng lồ ở chỗ đối phương đối thoại với Lê Đức Thọ là Kissinger, một học giả rất lớn của Mỹ thời đó. Lúc đó, Kissinger rất ngạo mạn, những tưởng có thể đè bẹp Lê Đức Thọ nhưng không thể được. Ví như làm thế nào để thống nhất được với Mỹ về vấn đề Mỹ phải rút quân. Mỹ muốn nếu Mỹ rút quân thì miền Bắc cũng phải rút quân khỏi miền Nam, đánh đồng như thế không thể được. Cuối cùng đồng chí Lê Đức Thọ đưa ra một công thức đó là vấn đề quân đội Việt Nam ở lãnh thổ Việt Nam do các bên Việt Nam giải quyết với nhau. Còn việc Mỹ rút quân là chuyện Mỹ phải rút. Tôi nghĩ trí tuệ của ông ở chỗ tìm một giải pháp đúng với lợi ích của mình”. Ông được trao tặng Giải Nobel năm 1973 cùng với Henry Kissinger vì thương thảo thành công Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (ông là người Việt Nam duy nhất được nhận giải này). Henry Kissinger thì hăm hở đi nhận, nhưng ông Lê Đức Thọ lại từ chối nhận giải với lý do hòa bình vẫn chưa thực sự lập lại trên đất nước Việt Nam. Hành động đó của ông Lê Đức Thọ đã làm nhân dân thế giới ngả mũ kính chào trước tài năng và đức độ của ông. Như vậy, đâu phải ai thấy Giải Nobel cũng “ham muốn” đi nhận hết đâu!

Đọc lịch sử Việt Nam hẳn mọi người còn nhớ, giữa thế kỷ XIII, vó ngựa của quân xâm lược Nguyên Mông tung hoành từ châu Á đến châu Âu, đi đến đâu thành lũy tan hoang, nhà cửa đổ nát, nhân dân chết chóc hoặc bị bắt làm nô lệ. Vậy mà trong 30 năm, từ 1258 – 1288, chúng xâm lược nước ta đến ba lần, cả ba lần chúng đều bị quân và dân ta đánh cho tơi tả, mấy chục vạn quân địch phải bỏ xác trên đường rút chạy; nhiều tướng giặc như: Nghệ Nhuận, Lý Quán, Toa Đô… bị giết; Uriangkhađai, đại hãn Mông Ke, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ… cùng bọn bộ hạ bị ta bắt sống, ta còn thu được vô số phương tiện chiến tranh; đạo quân bộ do Thoát Hoan chỉ huy cũng vội vã rút về nước, đất nước ta lại sạch bóng quân thù. Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (1228 – 1300), vị danh tướng anh hùng của dân tộc Việt Nam đã đánh bại đạo quân thiện chiến vô địch của con cháu Thành Cát Tư Hãn. Sau chiến thắng 1288, đế chế Mông Cổ bắt đầu suy yếu và tan rã trên phạm vi toàn thế giới. Hội đồng Hoàng gia Anh đã xét tặng Đức Thánh Trần danh hiệu Người đánh bại đế chế Mông Cổ. Ông là danh tướng nổi bật, tiêu biểu cho chiến tranh thời trung cổ.

Đại tướng Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam – Võ Nguyên Giáp. Đại tướng được Viện Hàn lâm Hoàng gia Anh vinh danh ông là người đánh đổ hai chế độ thực dân cũ và mới, bậc thầy của chiến tranh du kích. Ông là danh tướng nổi bật, tiêu biểu cho chiến tranh thời hiện đại.

Đức Thánh Trần và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã làm cả thế giới ngỡ ngàng không thể lý giải tại sao thời trung cổ dưới sự lãnh đạo của Đức Thánh Trần, Việt Nam lại đánh bại đế chế Mông Cổ. Đến thời hiện đại dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã lãnh đạo quân đội ta góp phần cùng nhân dân ta đánh đổ được hai tên hung nô của thời đại là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Hai vị danh tướng của nước ta đã làm cho cả thế giới cúi đầu kính phục chứ không phải ngỡ ngàng, không thể lý giải. Không ai phải ngỡ ngàng cả, còn lý giải điều này rõ ràng như Bác Hồ đã nói: “Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”.

Căn cứ theo Nghị quyết 23 – NQ/TW, ngày 16-6-2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học – nghệ thuật trong thời kỳ mới, tuần báo Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh cho đăng tải 19 bài như ông Giang thống kê, những bài viết đó đều căn cứ vào những sách lịch sử và tư liệu lịch sử được Đảng và Nhà nước cho phép phát hành. Cũng đừng cho rằng vì họ không làm trong lĩnh vực sử học mà họ lập luận lại đầy rẫy những sai phạm ấu trĩ (?!). Ông Giang xem, các GS: Trần Huy Liệu, Trần Văn Giàu, Lê Trí Viễn, Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm… chắc chắn trong lĩnh vực sử học, các vị GS ấy là những người viết ra sách sử học nhất định là không sai; Nhân dân là những người làm nên lịch sử và lịch sử được lưu truyền trong nhân dân từ đời này sang đời khác như văn học dân gian cũng không sai. Những người có bài được đăng trên tuần báo Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh, tôi theo dõi thấy họ (trong đó có tôi) viết bài đều căn cứ theo các sử liệu rất khoa học từ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, đến những bậc tiền bối như Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, Ngô Đức Kế… đến các bậc lão thành cách mạng như các GS: Trần Huy Liệu, Trần Văn Giàu, Lê Trí Viễn… Họ viết có chứng cứ cụ thể, nghiêm túc.

Người viết lịch sử phải có cái Tâm trong sáng, tôn trọng sự thật khách quan và tính trung thực chính là điều làm cho sử học hấp dẫn. Hứng thú khi đọc và học lịch sử cũng bắt nguồn từ đó. Lịch sử không cần và không cho phép việc “xét lại lịch sử”, “viết lại lịch sử” với tầm nhìn hạn hẹp, hoặc từ cái Tâm không trong sáng hay bất cứ một động cơ vụ lợi nào khác.

Trong văn bản số 51/HSH gửi Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật và Tổng Biên tập tuần báo Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh, ông Trần Đức Cường viết có đoạn:

“… Sau khi đọc những bài viết đó, theo chúng tôi, có thể do chưa cập nhật được một cách đầy đủ các kết quả nghiên cứu mới nhất, các tác giả đã có những đánh giá chưa thật xác đáng về kết quả nghiên cứu, từ đó có những biểu hiện phê phán cá nhân, qui chụp chính trị không đáng có…”. Theo tôi, dù cập nhật đầy đủ các kết quả nghiên cứu mới nhất cũng không bao giờ thay đổi được bản chất được lưu truyền trong sử sách hoặc trong văn học dân gian: “Cõng rắn cắn gà nhà, rước voi giày mả tổ” của vua Gia Long; cũng không bao giờ thay đổi được bản chất “Quốc gia Việt Nam” do Pháp dựng lên thuê Bảo Đại làm Quốc trưởng bù nhìn, hoặc thay đổi bản chất “Việt Nam cộng hòa” do Mỹ dựng lên và thuê Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu làm tổng thống tay sai; bản chất là ngụy quyền, ngụy quân thì vẫn là ngụy quyền, ngụy quân không bao giờ thay đổi được. Để củng cố quan điểm đó, hãy xem Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từng tuyên bố: “Sẽ từ chức ngày nào Mỹ ngừng viện trợ cho Việt Nam cộng hòa” (Tâm sự tướng lưu vong của Hoàng Linh Đỗ Mậu – NXB Công an nhân dân, tr.607). Còn tướng Cao Văn Viên, nguyên Tổng tham mưu trưởng quân ngụy Sài Gòn, đã thú nhận trong hồi ký về nội dung ông trả lời phái đoàn nghị sĩ và dân biểu đến gặp ông: “Chúng ta không có trách nhiệm về chiến tranh. Trách nhiệm về cuộc chiến ở đây là của người Mỹ. Chính sách do họ đề ra, chúng ta chỉ theo họ mà thôi!” (Sự kiện và Nhân chứng – Báo Quân đội nhân dân, 14-4-2008).

Trong bài viết trên tạp chí Xưa và Nay, ông Vũ Minh Giang kết luận: “Vậy mà không hiểu vì sao lại xuất hiện một vệt bài trên tuần báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh liên tục công kích vào công việc nghiên cứu và biên soạn bộ lịch sử này? Nếu những bài viết này xuất phát từ nhận thức chưa tới (tức chưa thật hiểu rõ công việc) thì chỉ là cái hại nhỏ. Nhưng nếu đây là sự cố tình xuyên tạc để nhân danh khoa học reo rắc (đúng là gieo rắc – HP) sự hoài nghi thì phải cảnh giác với ý đồ xấu, rất có thể nhằm tới việc phá hoại một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước”.

Các bạn viết trên tuần báo Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh cũng như cá nhân tôi đã trình bày ở trên: viết bài là căn cứ vào sử sách, tài liệu đáng tin cậy do Đảng và Nhà nước cho phép phát hành; chúng tôi phân tích cho rõ ngọn ngành, nhằm bảo vệ, xây dựng Đảng, Nhà nước; bảo vệ truyền thống yêu nước của dân tộc; bảo vệ đất nước độc lập, thống nhất, hòa bình, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chúng tôi chưa thấy ai có biểu hiện phê phán cá nhân hoặc quy chụp chính trị không đáng có. Vậy mà ông Giang kết luận bài viết như vừa nêu, rõ ràng các ông “nói vậy chứ không phải vậy”. Đó là gì nếu không phải là không phản biện được: bí về lý luận nên không “bút chiến” có căn cứ, có lý lẽ, có sức thuyết phục với các bài viết của các tác giả được đăng trên tuần báo Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh nên quy chụp chính trị?

Luật gia, nhà báo Hoàng Phương
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 475

Ý Kiến bạn đọc