Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Dở dang một quyển truyện dài

Lời nói đầu:

Năm 1966, dưới sự lãnh đạo của Cách mạng, Lực lượng Bảo vệ Văn hóa Dân tộc ra đời giữa lòng Sài Gòn – bấy giờ là thủ đô Ngụy quyền – được quần chúng hưởng ứng rất nồng nhiệt. Với một luận điệu xuyên tạc, một vài tờ báo chế độ cũ cho rằng “bảo vệ văn hóa dân tộc là quan điểm bảo thủ, dị ứng với những giá trị văn hóa trên thế giới”. Bấy giờ, với tư cách là Tổng thư ký của Lực lượng tôi bèn trả lời lại luận điệu ấy bằng một truyện dài – Con tê giác cô độc – đăng trên nhật báo Sóng Thần, do cô Trùng Dương thay thế Chu Tử làm chủ bút.

Nội dung đề cao tinh thần tiếp thu cởi mở và đúng đắn những giá trị tốt đẹp đến từ bên ngoài, song song với sự chống đối quyết liệt mọi thứ ngoại nhập gây hại cho đất nước.

Cốt truyện dựa trên vài sự kiện có thật, để gợi hiếu kỳ cho bạn đọc, xảy ra trong xã hội miền Nam cách đó 15 năm. Sau khi Pháp đã phản bội Hiệp định Genève đem giao miền Nam cho Mỹ để mà trừ nợ, thì Mỹ đưa tên tay sai Ngô Đình Diệm về trị vì. Lúc quân đội Pháp rút lui, Ngô Đình Nhu có giữ lại một trung sĩ Lê dương loại thiện xạ nhất để hạ con tê giác đơn độc, sống ở vùng ba biên giới, thường vào Việt Nam những dịp xuân về. Nghe nói, rốt cuộc tay thiện xạ không giết được con vật. Thời ấy, ma túy đã là một tệ nạn lớn nhất và chất độc này xâm nhập nước ta bằng nhiều con đường. Một bọn buôn lậu đã biết dùng voi vận chuyển ma túy, theo phương thức khá tinh vi, nên khó bắt chúng tại trận, nhưng sau do sự chia chác không đều chúng tố giác nhau và bị tóm gọn. Con voi được đưa vào Thảo Cầm Viên Sài Gòn.

Nội dung quyển sách tôi định sáng tác là lời kể chuyện của một thợ săn chuyên nghiệp – tên là Kỳ Sinh – vì muốn có tiền cưới vợ nên đã nhận tiền đặt cọc của một người Hoa, chủ tiệm thuốc ở Chợ Lớn, để săn tìm sừng tê giác. Và kết hợp các sự kiện đã ghi trên đây, tôi sẽ thêu dệt thêm tình tiết, và kéo lùi thời điểm cho vào cuối năm 1945 để hướng về cái chủ đề đã chọn. Truyện điểm thêm đôi nét sinh hoạt tiêu biểu của đồng bào dân tộc sống tận non cao, những cảnh thiên nhiên hùng vĩ cùng các giống loài thú rừng kỳ lạ của đất nước mình – những gì tôi đã đọc thấy qua các sách báo hoặc đã nhìn thấy tận mắt trong những tháng ngày tham gia lực lượng Thanh niên xung phong chống Pháp, trên các núi rừng Tây Nguyên.

Những vấn đề định nói đến trong tiểu thuyết ấy là những giá trị lâu dài cùng những quan điểm văn hóa cơ bản của xã hội ta. Đó là đề cao tình yêu nước, tình đoàn kết dân tộc, sự tiếp thu có lựa chọn các giá trị ngoại nhập, nhu cầu bảo vệ môi trường thiên nhiên cũng như môi trường xã hội.

Quyển sách ước tính cũng phải kéo dài trên vài trăm trang nhưng chỉ xuất hiện vài tuần ở trên mặt báo đã phải chấm dứt, vì Lực lượng bị phá vỡ, các lãnh đạo phải vào tù, và tôi là Tổng thư ký nên “gỡ lịch” đến 3 năm. Ra tù không có điều kiện sáng tác tiếp mấy trang dở dang ấy, nhưng mỗi lần nghĩ lại tôi vẫn còn nuối tiếc vì đã không hoàn thành được tác phẩm. Ngày nay, trên nửa thế kỷ quyển sách phải bị dở dang, tôi thấy chủ đề tác phẩm vẫn còn hợp thời, vì đã mở rộng giao lưu quốc tế thì sự tiếp cận văn hóa nước ngoài đòi hỏi một quyết định sáng suốt nhất.

Do vậy, tôi ghi lại đây phác thảo của quyển sách dở dang ấy, với hi vọng góp ý, để có được bạn văn trẻ nào đó thực hiện một tác phẩm sâu sắc hơn, về chủ đề này.

 

Ông Xương Ký nói lời ngã giá cuối cùng:

- Này anh Kỳ Sinh, tôi biết anh là thợ săn chuyên nghiệp và là thiện xạ nên mới nói cái giá đó. Vậy tôi giao trước cho anh 1/3 tiền. Khi nhận được sừng, tôi sẽ giao đủ.

Tôi đồng ý và nhận tiền. Người ta tin tôi, sẵn sàng chịu mất một khoản ứng trước, nếu tôi thất bại. Nhưng làm sao tôi có thể thất bại? Trong những tháng năm săn đuổi giữa chốn rừng già, tôi chưa bắn hụt một con mồi nào. Như thế, sau chuyến trở về tôi có dư thừa tiền bạc để làm đám cưới.

Con tê giác ấy sống ở vùng ba biên giới và đến nước ta vào dịp đầu xuân. Nó màu trắng mốc, to hơn một con trâu rừng vào loại đầu đàn, di chuyển đơn độc với một chiếc sừng, đã là mơ ước của nhiều chủ tiệm dược phẩm người Hoa ở Chợ Lớn này, trong đó có ông Xương Ký. Con tê giác được xem như con vật huyền thoại, nhưng nó là một thực tế. Hàng năm, vào ngày và giờ gần như cố định, khi ánh trăng rằm tỏa sáng đỉnh núi Pu Tha thì nó khởi đầu du hành vào xứ sở này, lặn lội đến tận miền rừng Sông Bé, rồi khi mùa xuân qua đi lại lầm lũi về quê cũ. Nhiều người sống nghề củi gỗ và ham săn mồi đã theo chân nó, nhưng nó ẩn hiện khôn lường khiến họ sớm phải quay về với niềm tiếc rẻ.

Thúy Lan hết sức xúc động khi biết tôi đã chấp nhận chuyến săn đuổi này để có phương tiện mà làm đám cưới nhưng cũng lo buồn vì tôi phải bị cuốn hút trong chốn rừng già. Và cái Tết này, tôi phải xa nàng, cô đơn giữa cảnh hoang vu, giá buốt. Tôi dặn dò nàng trước khi lên đường, cho nàng biết qua lộ trình để tôi đến huyện đầu nguồn Chư Pram trước khi vào chốn rừng sâu.

- Trong vòng hai tháng, anh sẽ trở về. Em hãy yên lòng chờ đợi. Chắc chắn, anh phải thành công.

Mất trọn tuần lễ tôi mới tìm được một người dẫn đường thông thạo các lối đi về vùng ba biên giới và quen thuộc với dãy núi Pu Tha. Thú thật, mới gặp anh ta, tôi hơi nản lòng. Với vóc dáng khá nặng nề, anh ta có vẻ là dân la cà ở các quán rượu hơn là một người đã từng vượt suối, băng ngàn. Nhưng tôi không có lựa chọn nào khác, vì ngày săn rình đã cận kề rồi, còn phải mất độ bốn tuần lặn lội mới đến điểm hẹn với con tê giác.

Qua ngày thứ hai tôi biết là mình không lầm về người dẫn đường. Anh ta để ý quá nhiều đến chuyện ăn, ngủ và không vội vã chút nào trên những bước đường. Là một thợ săn chuyên nghiệp tôi luôn nhạy cảm cả trong giấc ngủ, và một đêm khuya chợt nghe tiếng động rất nhẹ nhưng mà bất thường, tôi hé mắt nhìn, bắt gặp anh ta lục lọi chiếc ba lô tôi như một kẻ trộm. Ngọn lửa thoi thóp giữa đống tro tàn, soi rọi hình ảnh của con người ấy một cách mờ ảo.

Chúng tôi đến buôn Nậm Nui, ghé lại nghỉ ngơi vài ngày, uống với già làng một bữa rượu cần, vui với dân làng lễ hội cuối mùa, mua thêm vài món vật dụng cần thiết rồi mới tiến vào rừng sâu. Mưa bớt nặng hạt nhưng cái lạnh lẽo cuối năm buốt đến xương tủy. Lên dốc, xuống nương, hết những dòng suối cuồn cuộn đến những thác nước thét gào trong sự cuồng nộ đầy vẻ hoang sơ, rồi những con đường quờ quạng giữa những bụi rậm, dây lùm chằng chịt tựa hồ địa võng, thiên la. Chưa nói đến những sên vắt, muỗi mòng, đến những thú dữ gặp gỡ bất chợt trên những bước đường kể như vô định, hoặc giữa giấc ngủ chập chờn bên những đống lửa hắt hiu. Mỗi nghề nghiệp mà con người gắn bó đều có một sức cuốn hút, nhờ vậy chúng ta có thể vượt qua bao nhiêu gian khổ, nhọc nhằn. Nhưng gã Lê Sửu, người dẫn đường tôi, hẳn không có mê say ấy. Một sáng, tôi gọi nhiều lần nhưng gã không dậy.

- Thế nào? Không muốn đi sao?

Gã đáp:

- Tôi muốn quay về.

- Nhưng anh đã hứa đưa tôi đến núi Pu Tha.

- Bây giờ tôi không còn sức để tiếp tục nữa.

Rồi gã nhanh nhẹn lôi khẩu súng săn đặt bên cạnh mình, choàng dậy, chĩa thẳng vào tôi:

- Hãy quay lại đi! Nếu không nghe lời, tao bắn vỡ sọ.

Tôi nhào tới và y bóp cò. Súng không có đạn. Ban tối, lúc y ngủ say, tôi đã lấy đạn ra ngoài. Cú đấm của tôi gởi thẳng vào quai hàm y, khiến y lăn quay. Tôi bảo:

- Nếu mày biết điều, hãy nghe lời tao!

Y lại tỏ ra ngoan ngoãn, từ đấy như một đứa trẻ chỉ biết có sự tuân phục. Rồi đến một lúc, không ai ngờ tới, kẻ xấu lại chờ cơ hội ra tay.

Vào một buổi chiều, dừng lại nơi một hang đá gần suối để nghỉ qua đêm, tôi bỗng nghe tiếng sáo ở giữa rừng già. Đây không phải là ảo giác mà là sự thực. Tôi chợt hiểu được xuất xứ của tiếng sáo này: một bọn buôn lậu ma túy nổi tiếng từ lâu đã đến vùng ba biên giới đột nhập vào đất nước này nhưng vẫn thoát khỏi bàn tay pháp luật. Chúng huấn luyện một con voi thành thục, buộc ma túy dưới bụng voi rồi bọn con buôn đi trước, độ vài trăm mét, ẩn mình trong lớp cây rừng, dùng tiếng sáo thổi hướng dẫn cho voi đi theo. Các chú bồ tượng tuy rằng thân xác nặng nề nhưng lại nhạy cảm với âm nhạc.

Như thế, bọn buôn lậu không bao giờ bị bắt quả tang vì chỉ có vài ống sáo trên người. Còn việc bắt giữ một con voi lớn, đã được huấn luyện như vậy, ở giữa rừng già là điều không phải dễ dàng. Lần này, bắt gặp tiếng sáo giữa chốn hoang vu, nếu tôi theo dõi bọn chúng sẽ có cơ hội giúp ích chính quyền trong sự truy tìm.

Và khi tiếng sáo vẳng gần, tôi không kịp nén nổi mình, vội vàng cầm súng vụt chạy ra khỏi hang động.

Mới đến đầu dốc tôi phải ngã nhào về trước vì một tảng đá ném mạnh vào phía sau lưng. Có lẽ tảng đá nhắm vào đầu tôi nhưng đã đi trệch. Tôi bị lăn dài xuống dốc, rơi giữa vũng suối buốt lạnh. Nhờ sự buốt lạnh mà tôi tỉnh người. Vội vàng ra khỏi dòng nước, tôi lần mò tìm lại khẩu súng và chạy về hang. Lê Sửu đã không còn đấy. Số tiền tôi mang theo làm lộ phí cũng đã biến mất.

Hoàng hôn xuống rất vội vàng giữa chốn núi rừng và trời sụp tối. Những việc đã qua cho tôi nghĩ rằng Lê Sửu là một đồng bọn của nhóm buôn lậu ma túy theo lộ trình này. Hẳn y ngờ vực tôi là người được phái đi truy lùng bọn chúng nên tìm mọi cách cản ngăn hoặc là trừ diệt. Tôi phải nán đợi cho đêm trôi qua, và bọn buôn lậu cũng dừng chân lại một nơi nào đó còn tên Lê Sửu chắc sẽ nhập vào.

Một đêm gần như mất ngủ vì phải phòng ngừa tấn công và nôn nao chờ trời sáng. Có thể tôi sẽ lội ngược lại con đường đi đã mất nhiều ngày. Bây giờ không phải săn đuổi một con tê giác cô độc mà là truy lùng một đám bất lương đang cấu kết lại trong ổ tội phạm.

Mờ sáng, tôi tìm thấy được các dấu chân voi. Việc theo dõi này không mấy khó khăn, nhưng đương đầu với một đám tội phạm đã được tổ chức như thế không phải là điều đơn giản. Tôi đành giữ một khoảng cách lẽo đẽo đi sau bọn chúng trong một hành trình rất đỗi gian nan.

Một buổi chiều nọ, chúng dừng chân nghỉ trong một hang đá, gần buôn Chà Rốc. Tốt nhất, tôi vào trong buôn nghỉ ngơi và gắng thuyết phục già làng tổ chức tấn công bọn này. Khi tôi đến gần đầu dốc vào buôn bỗng nghe những tiếng kêu thét. Chạy đến, tôi thấy chính kẻ dẫn đường tồi tệ của tôi đang cố cưỡng hiếp một cô gái Thượng. Y không ngờ sự xuất hiện đột ngột của tôi, và chưa kịp tìm lối thoát đã bị quật ngã, trói chặt tay lại. Tôi bảo cô gái:

- Cô đừng hoảng sợ. Ta đưa tên khốn nạn này về buôn cho già làng trị tội.

Đối diện già làng, Lê Sửu lộ rõ đã có tiền án với buôn này. Trong một chuyến đi năm trước, y đã lường gạt dân buôn để đoạt heo gà, giờ đây lại có hành động xấu xa với người trong buôn. Già làng tập họp các vị cao tuổi để mà luận tội: Lê Sửu phải bị đâm chết, trước mặt dân làng.

Tôi xin tha tội cho y, với một điều kiện: cung cấp đầy đủ chi tiết về đồng bọn y để cho dân buôn triệt phá lớp tội phạm này.

Lê Sửu bị trói vào một cột buôn và ngay đêm ấy, dân làng bắt gọn cả ổ tội phạm cùng với con voi. Con voi được giữ lại làng, còn bọn tội phạm cùng các tang vật được những dân đinh giải về dưới huyện. Tôi được nhận lại những gì Lê Sửu tước đoạt. Già làng cho rằng tôi đã có ơn với cô gái Thượng, muốn gả cô gái cho tôi, nhưng tôi đã phải khéo léo chối từ. Biết rõ mục đích chuyến đi săn lùng của tôi, già làng hứa sẽ giúp đỡ hết lòng. Từ đây đến đỉnh Pu Tha, còn phải mất 10 ngày đường. Chin Pô, người anh của cô gái Thượng được tôi tiếp cứu vừa rồi, là tay thiện xạ trong buôn, có thể giúp tôi truy tìm con tê giác ấy.

Tôi được Chin Pô dẫn đường về đỉnh Pu Tha. Chúng tôi tranh thủ mà đi để tới đỉnh núi đúng vào ngày rằm.

Đêm ấy, trăng đã lên cao, sáng tỏ vằng vặc dội xuống núi rừng mênh mông một màu trắng lạnh. Chúng tôi lấy loại lá rừng có chất thơm nồng vò nát, xoa lên mặt, mũi, chân tay để vừa chống chọi lại muỗi mòng vừa át được mùi mồ hôi trên da thịt mình, mặc dù chúng tôi đã chọn vị trí đứng dưới đầu gió. Bởi loài tê giác, nếu kém cỏi về thị lực thì lại có được khả năng đánh hơi hết sức tài tình.

Đáp lại với nỗi mong chờ khắc khoải nơi tôi, giữa khuya đã thấy bóng con tê giác xuất hiện. Nó đĩnh đạc xuất hiện trên cao, như ngước chào vừng trăng sáng rồi lặng lẽ trong giây lát ngắm nhìn rừng núi Việt Nam bát ngát ở trước mặt mình. Ánh trăng làm màu lông trắng long lanh và con tê giác to lớn, uy nghi, không chút ngờ vực, từ từ tiến vào trong đất nước này.

Tôi đứng lặng người, ngẩn ngơ nhìn ngắm con vật đẹp như là một sản phẩm huyền thoại. Thật không thể nào hình dung được hết những nét kỳ ảo của một khung cảnh như tôi đã thấy đêm nay. Chin Pô bấm nhẹ vào cánh tay tôi, ra dấu hợp đồng cho cuộc tấn công. Tôi lặng lẽ khoát tay, bảo anh lùi lại. Và tôi cùng anh nhẹ nhàng lùi lại, lùi lại… khi con tê giác tiến sâu vào núi rừng này. Mày đã đến đây với một ý muốn thanh bình, theo sự mời gọi của những cây cỏ vào xuân. Đất nước này không thiếu những giống loài quí hiếm khắp cõi sơn lâm nhưng sự hiện diện của mày góp thêm cho sự đa dạng và vẻ tân kỳ… Tại sao ta lại đi giết hại mày? Không, ta phải bảo vệ cho mày, trân trọng và nâng niu mày. Vào đi, và nếu có thể hãy ở lại mãi nơi đây, hòa nhập vĩnh viễn vào núi rừng này…

Tôi kéo Chin Pô xuống khỏi dốc núi rồi tìm đường quay về buôn. Chin Pô ngơ ngác:

- Không giết nó sao?

- Nó vừa quí hiếm lại vừa xinh đẹp. Núi rừng chúng ta vẫn cần có nó. Làm sao mà tiêu diệt nó cho đành!

Tôi chợt nghĩ đến món nợ từ tiền ứng trước của ông Xương Ký, nhớ đến ngày cưới mong đợi cùng với Thúy Lan. Và tôi tự nhủ: Nếu ai cũng chỉ biết đến mỗi điều tư lợi thì cuộc sống này sẽ tồi tệ hơn là chốn địa ngục.

Về đến Chà Rốc, tôi thật bất ngờ khi thấy Thúy Lan có mặt ở đây. Nàng đã nôn nóng tìm tôi và khi lặn lội đến huyện đầu nguồn đã may mắn gặp dân làng giải bọn tội phạm ma túy về đấy nên biết được điểm hẹn này. Thúy Lan cho biết, tình hình đất nước có biến động lớn: giặc Pháp đã quay lại chiếm Nam bộ và toàn dân đã nhất tề đứng lên trong cuộc chiến đấu một mất, một còn.

Chúng tôi đồng ý hoãn cuộc hôn nhân, chờ đợi ngày nào đất nước thanh bình mới lo nghĩ đến hạnh phúc lứa đôi. Tôi sẽ gia nhập bộ đội, cầm súng chiến đấu, còn nàng quyết định xin vào đội nữ cứu thương phục vụ chiến trường. Ở trong tình thế dầu sôi lửa bỏng, hẳn ông Xương Ký cũng chẳng buồn lòng về khoản ứng trước không thu lợi được.

Già làng vui vẻ bàn giao con voi để tôi đem về nộp cho chính phủ kháng chiến. (Thực tế, miền Nam bấy giờ có một đàn voi phục vụ chiến trường rất là tích cực).

Ngồi trên lưng voi, Thúy Lan và tôi vượt núi băng rừng trở lại đồng bằng. Trên những chặng đường khúc khuỷu, gập ghềnh, tôi nhìn Thúy Lan lặng lẽ trầm tư theo bước voi đi, có lúc tưởng chừng như nàng là sự hiện thân nào đó của các bà Trưng, bà Triệu ngày xưa.

Vũ Hạnh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 556

Ý Kiến bạn đọc