Truyện ngắn

Điều không dễ quên

 

Lúc ấy tôi đang có một lời mời hấp dẫn đi tham quan một khu kinh tế mới Liên Hà do anh Lợi, Phó ban Tuyên giáo huyện nhắn. Đang chuẩn bị khăn gói quả mướp thì có một cuộc điện thoại khác, ngắn gọn: Chị Sáng bệnh nặng, gọi chú đấy!

Cái tên “Chị Sáng” làm tôi hơi ngỡ ngàng. Trong các mối quan hệ của tôi cũng có người tên Sáng, nhưng “Chị Sáng” mà thân tình đến độ trong lúc bệnh tật lại cần đến tôi?

- Chị Sáng nào nhỉ?

Người bạn kia cười, lộ rõ cả sự cáu kỉnh trong điện thoại:

- Chú buồn cười nhỉ! Chị Sáng mẹ thằng Quên. Còn nhớ không?

A… Tôi nhớ. Mẹ thằng Quên thì tôi nhớ.

- Được rồi. Tôi sẽ lên. Lên ngay!

Bỏ chuyến làm thượng khách, tôi phóng xe máy lên Đà Mẫu. Mùa mưa, đường trơn, có lúc bánh xe trượt đi, tưởng như xe bể bánh. Đã vậy đường vắng, hàng cây số không có bóng người, có sự cố gì thì chỉ còn nước khóc.

Nhưng lạ thay, ký ức của ta, có thể lẩn khuất đâu đó, nhưng bất chợt có một nguyên cớ nào đấy, nó tự phục hồi dần dần. Nhất là sau nhiều năm, trở lại, nhận ra hình thế, quang cảnh đã từng đi qua, nhiều điều dần sáng tỏ, như ngọn đèn pin chiếu vào cái kho trí nhớ lộn xộn.

Sẩm chiều, tôi đến Ngã ba Hiếu, nhận ngay ra cái quán ấy!

Cái quán ấy vẫn thế. Tôi nhớ là tôi mua 2 ngàn khoai lang luộc, tạt vào cái quán cô đơn, chờ đến đầu giờ chiều, ủy ban xã làm việc. Cô chủ quán ngồi gục trên cánh tay, mấy con gà rủ nhau vào chỗ thu ngân tránh nắng.

Thấy khách vô, cô đến trước mặt tôi, hỏi uống gì. Tôi đặt mấy củ khoai lang lên bàn, liếc nhìn, chỉ thấy người mặc chiếc áo bà ba, đã bạc ở ngực, cái chỗ căng nhất. Tôi kêu một ly cà phê đá, cho đến lúc cô đem ra, tôi vẫn chưa nhìn rõ mặt, mà chỉ thấy cái chỗ bạc trên áo bà ba đen.

Đài bán dẫn mở chương trình cải lương, giọng ca Lệ Thủy, Minh Vương nghe mà nhão hết cả buổi trưa. Mỗi khi hết bài ca, chuyển qua bài mới, lại nghe tiếng lá tranh khô nổ tí tách trên đầu.

Ăn hết mấy ngàn khoai lang với ly cà phê đá thì buồn ngủ quá. Tôi ngoẹo đầu vào thành ghế gỗ có mùi kiến, tai vẫn nghe câu vọng cổ: “Chiếc xuồng nhỏ đưa em về xóm nhỏ…”. Tôi thiếp đi cho đến khi có tiếng người lao xao, và bài vọng cổ vẫn chưa hết. “Lòng lâng lâng như giấc mộng ban đầu… Ở tận sông Hồng, em có biết…?”.

Cô chủ quán đang nói chuyện với người đàn bà đứng quay lưng lại phía tôi. Thấy tôi ngọ ngoạy, cô nhìn tôi hơi cười, làm người đàn bà kia quay lại. Chị nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên lắm lắm, khiến tôi phải để ý xem mình có ở tư thế sơ suất nào chăng?

- Ai vậy? Khách quen à?

Cô chủ quán lắc đầu rồi lấy cho tôi một ly trà đá, gọi là bổ sung cho ly cà phê đã tan, rão rục, màu nâu nhờ nhờ.

- Anh đi đâu mà tới đây?

Nghe giọng, tôi biết chị là người di cư.

- Tôi tới đây thôi! – Tôi đáp lại bằng một câu… vô duyên không kém câu hỏi của chị.

- Có vợ con gì chưa?

Lại một câu vô duyên. Tôi phá ra cười, hết hẳn buồn ngủ. Không hiểu tôi cười kiểu gì mà cả hai người đàn bà cũng phải cười theo. Mà cười thành tiếng, ha ha, he he. Nghe thế tôi lại càng cười. Và họ cũng càng cười. Tôi nghĩ bụng: thêm vài con vịt, con gà có lẽ đây là cái chợ đồng rừng mất.

- Chị bảo tôi có chưa?

- Ai biết! Đàn ông có cũng như không!

Tôi đứng lên nhìn cô chủ quán, cô chỉ ra phía sau, có cái thùng phuy đựng nước. Lau qua cái mặt buồn cười của mình, tôi về chỗ. Tự nhiên tôi thấy chị hàng xóm thân thiện, gần gũi như đã quen biết, thân tình.

- Tôi nói để chị nghe nè. Tuổi tôi mà chưa có vợ thì hoặc là bất tài, xấu xí, còn không thì pê-đê, hỏng máy. Chị thấy tôi có xấu xí lắm không?

- Không xấu! Đẹp trai! Phong trần, phong độ…

- Phong thấp nữa đó! Tóm lại là… tốt?

- Tóm lại là có vợ rồi chớ gì!

- Có vợ thì làm sao? – Tôi làm nghiêm mặt hỏi.

Chị cũng thôi cười, nhưng vẫn còn cái vẻ tấm tức, nghĩa là có dịp lại bung ra.

- Chả làm sao! Hỏi cho biết vậy thôi. Anh ở bên khai thác hay kiểm lâm?

- À… vừa khai thác, vừa kiểm lâm.

- Xạo! Thôi tôi hỏi nè. Anh có biết anh nào tên là Bích không? Bích hay là Biết gì đó, tôi nhớ không chắc. Làm bên khảo sát.

Bích hay Biết? Đến chị còn chả nhớ, tôi dễ gì biết. Nghe ra người này có tâm sự gì đó, có lẽ là tình duyên với người đàn ông kia, tôi không nỡ đùa:

- Khảo sát à? Để coi. Tôi cũng không quan hệ rộng lắm. Để tôi hỏi anh em.

- Anh hỏi giúp giùm tôi đi.

Chị chào tôi rồi ra cửa. Tôi chỉ kịp nhớ hìnhh ảnh người đàn bà chắc khỏe, bước chân đi nhấc cao, thói quen của dân đồng rừng.

Bỗng chị quay lại:

- Mà anh có quay lại đây nữa không đó!

- Quay chứ!

- Vậy là được.

Tôi tính tiền cà phê, mà vẫn thấy cô chủ quán chúm miệng, đang giữ trận cười âm ỉ. Bất ngờ, tôi cười to. Cô bụm miệng, chạy vào bên trong nhà trong cười rũ:

- Thôi! Không lấy tiền cà phê của anh đâu.

tapchi35--Duong-ve---Le-Thi-Nhu-Hoai
Đường về – tranh khắc gỗ – Lê Thị Như Hoài.

Tôi đặt tờ bạc lên kệ tính tiền rồi phóng xe về phía ủy ban, mà vẫn còn nghe tiếng cười trong vắt của cô. Nó như người ta khuấy những viên đá nhỏ trong ly nước chanh ngày nắng nóng.

Hôm nay tôi trở lại. Cái quán ấy vẫn còn, cô chủ quán già đi chút ít. Một nách 4 đứa con. Ngót hai mươi năm rồi kia mà. Thấy tôi lên, cô reo như gặp người thân. Trong 16 năm ấy, tôi có trở lại đây vài lần, lần nào cũng cố nhịn cười, rồi lại cười thả ga, chỉ thiếu tiếng quang quác của con vịt.

- Chị Sáng làm sao hả Mai?

Tôi đã trở thành người quen mặt của quán này.

- Hôm qua chị ấy ngồi nói chuyện với em cả buổi chiều. Trông chị tàn tạ lắm.

- Tôi mới nghe anh Hiệp bên Trung tâm gọi điện cho hay. Anh Hiệp nói chị Sáng bệnh nặng, kêu tôi lên nhắn nhủ điều gì đó.

- Bệnh tình gì đâu. Thằng con chỉ ấy…

-Thằng Quên ý à? Nó làm sao? Tai nạn hay bệnh tật?

Ngần ngừ, cô Mai kể:

- Nó đi theo người ta bắn bò tót. Bị kiểm lâm bắt. Nghe đâu Nhà nước sắp xử tù nó đó anh.

Chết thật. Cái thằng Quên, thằng Tác-zan ấy lại phạm tội thế sao?

Tôi mừng vì là chị Sáng không bị bệnh tật gì ghê gớm. Nhưng lại lo nỗi lo của chị. Hai mẹ con thui thủi sống bên mé rừng. Bây giờ, chả may thằng Quên đi tù, chắc chị phải đau khổ lắm.

*
Lần thứ hai tôi có việc phải trở lại đây. Lúc này Nhà nước đã ngưng hẳn việc cấp phép khai thác rừng Đà Mẫu, để chuyển sang thành lập khu bảo tồn sinh quyển.

Cấm là cấm, nhưng vẫn có những người cầm tiền từ thành phố lên thuê người vào rừng ngả cây trái phép. Nếu có bắt thì chỉ những người dân thuê mướn đốn gỗ bị tội. Những đại gia có mất thì họ chỉ mất tiền. Hai chữ “lâm tặc” để chỉ những người làm thuê, còn các “đại gia” vẫn vô can. Phận làm báo của tôi vẫn có những việc phải đi mà viết, mà phản ánh. Không chỉ Đà Mẫu, Đồng Nai mà còn những vùng nóng bỏng hơn nhiều, Đức Linh, Tánh Linh, Lò To, Thuận Hải…

Tôi từ ủy ban xã bước ra, vừa ghé quán cô Mai, đã thấy người đàn bà ấy ngồi đó. Thấy chị, tôi lại nhớ ngay đến chuyện anh Bích hay anh Biết nào đó trong đoàn khảo sát lâm nghiệp mà tôi chưa dò tìm ra được.

Lần ấy chị mời tôi đến nhà chị “cho biết”. Tôi thật ngại, nhưng thấy chị nồng nhiệt quá, coi tôi như ân nhân, và muốn giãi bày, nên tôi không nỡ. Để xe máy tại quán cà phê, tôi lội bộ theo chị đến hơn cây số đường rừng.

Chị kể:

- Tôi là Thanh niên xung phong, hết hạn không biết làm gì, đăng ký đi kinh tế mới lên đây. Ngày ấy người ta khai thác rừng dữ lắm. Người đông như lễ hội, đủ các hạng người. Hung dữ, xảo quyệt, tàn ác có, hiền lành, nhu nhược, ngu dại cũng có. Luật lệ do người ta đặt ra, luật rừng mà anh. Gia đình, cha mẹ tôi không chịu nổi, bỏ về thành phố. Tôi ở lại vì mắc tí chức vụ nho nhỏ trong lâm trường. Đến khi giám đốc đi tù, lâm trường giải tán, tôi không về thành phố mà ở lại…

- Một mình?

- Tôi không sợ! Anh ngó tôi vậy chứ tôi gan lắm đó. Dễ gì ăn hiếp được tôi. Gái Thanh niên xung phong mà.

Nhà vắng vẻ đến phát sợ. Nhưng chị vẫn thản nhiên như không. Xa xa có tiếng kêu nghe rất lạ.

- Anh có biết tiếng gì không? Voi đấy! Nghe gần vậy chứ cũng chừng mười mấy, hai chục cây số.

Nghĩ đến câu thành ngữ “Tránh voi chẳng xấu mặt nào”, tôi hỏi:

- Chị không sợ à?

- Không có gì phải sợ. Trừ khi mình trêu chọc nó. Mình phá miếng ăn của nó. Voi cũng như người vậy thôi. À có một lần tôi sợ, để tôi kể anh nghe… Lần ấy cũng lâu rồi, khi còn Lâm trường khai thác gỗ kia. Người ta thuê máy cưa về cưa ầm ầm suốt ngày, có đứa thấy voi thì hoảng sợ, đem súng ra bắn dọa. Nửa đêm, cả một bầy voi kéo về lán. Đám người chạy tán loạn. Lúc voi bỏ đi rồi, họ quay trở lại thấy bầy voi phá tan hoang, nhưng nhà lán, cây cối vẫn còn nguyên. Nó chỉ phá nát mùng mền, quần áo. Đặc biệt là những thứ máy móc: máy cưa, máy điện, đài bán dẫn, xà bông, kem răng… voi giày bằng nát!

- Ghê quá nhỉ? – Tôi lắc đầu. Nó căm thù những thứ hiện đại, những thứ phá rừng, phá môi trường sinh tồn của nó.

- Từ đó, tôi ở đây, không thấy gì. Lâu lâu có nghe tiếng voi rống lên, nhưng chúng không vào nhà dân, không phá phách gì cả.

Tôi nhìn chị ái ngại:

- Sao chị không bỏ về thành phố hay ra thị trấn?

- Chuyện cũng có cái khó của nó. Nói ra không hay. Mà cũng không ai tin.

Tôi cười:

- Để tôi đoán nhé: Có một lời hẹn ước, thề nguyền nào đó với một người nào đó phải không?

- Đâu có! – Chị cười ngặt nghẽo. Làm gì có chuyện như trong tuồng cải lương như vậy.

- Thế còn anh Bích hay anh Biết đó?

Chị trầm tư, rồi đứng dậy ngó ra sau. Lúc quay vào chị lại cười:

- Chuyện mắc cười, kể ra anh đừng cười tôi nha. Hồi đó, lúc tôi ra ở cái nhà này rồi nè. Buổi chiều có một toán cán bộ khảo sát lâm nghiệp đi ngang qua đúng lúc trời đổ mưa. Mưa to lắm, mưa sầm sập. Mưa rừng chắc anh cũng từng gặp rồi chứ gì. Thấy nhà tôi, họ kéo vào xin trú mưa. Mưa to và dai lắm. Tôi ngồi thu lu một góc giường, nghe họ nói chuyện, hút thuốc lá. Mãi cho đến khi trời sập xuống, mưa cũng nghe ngớt, họ bảo nhau đứng dậy ra về. Còn lại một mình, tôi cũng thấy lo lo. Lo gì tôi không biết, không chắc, nhưng buồn thì thật buồn. Tôi vẫn ngồi lặng trên giường, không thấy đói, không thấy mệt, mà chỉ thấy buồn sao đó. Vô cớ, vô duyên…

Bỗng tôi nghe có tiếng chân chạy gấp. Rồi một người trong số họ xuất hiện. Anh ta ướt như chuột, đứng trước cửa nhăn răng cười. Tôi hồi hộp, không nói thành tiếng hỏi:

- Anh… anh quên gì à?

Anh ta cũng run bắn, có lẽ vì lạnh:

- Tôi… Tôi quên chiếc dép…!

Chân anh chỉ có một chiếc dép, chân kia để trần. Tôi nhìn dưới sàn đất: chiếc dép của anh còn đó.

Mưa lập tức quất mạnh sàn sạt trên nóc nhà. Gió hất cánh cửa, giật vào lại thả ra.

- Anh vô nhà đi. Đứng đó mưa lạnh chết.

Anh rón rén bước vào. Tôi lúng túng không biết làm thế nào, khi trên người anh bộ quần áo ướt sũng bó lấy thân thể đàn ông mạnh mẽ lộ rõ dưới ánh đèn dầu chai tù mù…

Chị ngưng kể mà cười. Nụ cười hoài niệm giấu dưới đôi mắt buồn.

- Thế rồi?

- Sáng hôm sau anh nói với tôi: Anh về lán đơn vị lấy cái áo. Anh quên cái áo…

- Từ đó?

- Từ đó…

- Để rồi?

Chị lắng tai nghe tiếng động, rồi cất tiếng gọi: Quên ơi! Quên!

Một thằng bé chừng năm, sáu tuổi xuất hiện ở cửa. Nó mặc quần cộc, áo may ô sát nách, để lộ phần da thịt đen nhẻm. Đầu tóc và tiếng chào của nó, tôi thốt lên:

- Quên là vậy đó hả?

Chị kéo con trai vào lòng, vò vò cái đầu bù xù của nó:

- Con đi vô rừng có kiếm được gì không?

Nó cười nhe hàm răng đang sún, lắc cái đầu khét nắng.

- Tac-zan! – Tôi khẽ thốt lên.

Sau này có một lần tôi ghé nhà chị Sáng, chỉ gặp thằng Quên ở nhà, mẹ nó đi vắng. Khi tôi gọi nó là Tac-zan, chú bé rừng xanh thì nó thắc mắc. Tôi phải nói nó là: đó là chú bé được hổ nuôi, nó suốt ngày ở trong rừng. Nó tỏ ra nghĩ ngợi và cởi mở hơn với tôi, nhận những chiếc kẹo tôi cho nó và lắng nghe tôi nói, trả lời những câu hỏi của tôi. Nó khoe, nó “biết” một con thỏ màu trắng.

- Chú có con thỏ nào không?

- Chú không có. Thỏ chỉ có ở trong rừng. Nhưng chú cũng “biết” một con thỏ trắng. Chú kể cho Quên nghe nhé.

Nó gật đầu “Ừ” một tiếng đầy thích thú.

- Có một ông lão nghèo khó, mặc bộ quần áo rách rưới và bụng thì rất đói. Ông đi vào rừng. Đầu tiên ông gặp một con Thỏ Nâu, khi nó đang làm nhà. Ông lên tiếng:

- Chào Thỏ Nâu. Ông đói quá. Thỏ Nâu có gì cho ông ăn với!

Thỏ Nâu nhìn quanh rồi nói:

- Thỏ Nâu chỉ có cỏ thôi. Ông ăn cỏ được không?

- Cỏ à? Không, ông không ăn cỏ được. Răng ông lung lay hết rồi.

Ông lão đói rách lại ra đi. Gặp một con Thỏ Xám đang múc nước, ông lão lên tiếng:

- Chào Thỏ Xám. Ông đói quá, Thỏ Xám có gì cho ông ăn với!

Thỏ Xám mời ông về nhà:

- Thỏ Xám chỉ có hạt dẻ thôi. Mời ông ăn trái hạt dẻ nhé?

Ông lão lắc đầu:

- Ông không ăn được hạt dẻ đâu. Cứng lắm, răng ông rụng hết rồi…

Thế rồi ông lão đói rét, rụng răng lại ra đi. Đến một khu rừng khác ông gặp Thỏ Trắng đang làm việc của nó.

- Chào Thỏ Trắng? Thỏ Trắng đang làm gì đó?

- Chào ông ạ. Thỏ Trắng đang lấy củi để sưởi mùa đông.

- Ông đang đói quá. Ông sẽ chết mất. Thỏ Trắng có gì cho ông ăn với?

Thỏ Trắng suy nghĩ một lát rồi nói:

- Thỏ Trắng nghèo lắm, không có gì cho ông ăn đâu. Nhà Thỏ Trắng chỉ có củi thôi. Hay là ông đốt củi lên rồi làm thịt nướng Thỏ để ăn nhé!

Ông già đói khát, răng rụng nghe thế thì nói:

- Ông rất cảm động khi nghe Thỏ Trắng nói vậy. Nhưng ông là Ông Thần đây. Ông không ăn thịt Thỏ Trắng đâu, nghe Thỏ Trắng nói thế ông tìm thấy rồi. Ông đi khắp khu rừng để tìm lòng tốt của muôn loài. Ông rất cảm động khi thấy Thỏ Trắng dám hy sinh mạng sống của mình cho ông ăn. Để cám ơn Thỏ Trắng, ông tặng cho Thỏ Trắng một cành hoa. Để cành hoa trong nhà, mỗi khi chúng tỏa mùi hương, thì trong lòng Thỏ Trắng sẽ thấy vui. Lúc nào cũng vui vẻ, không thấy buồn nữa!

Thằng Quên không hiểu câu chuyện, nhưng nó tin ở ông Thần Rừng, ở những nhánh hoa rừng. Chị Sáng cười bô bô:

- Chú nói gì với nó mà hôm nào nó cũng hái hoa rừng về treo quanh nhà thế?

- À, tôi nói là: Cháu phải ngoan, phải xinh đẹp như những bông hoa thì mẹ cháu sẽ không buồn! Mẹ sẽ rất vui.

Chúng tôi cười và cả cô chủ quán cũng không nén được cười. Cô bụm miệng chạy vào nhà trong, vừa cười, vừa ho:

- Không lấy tiền cà phê của anh đâu!

*
Tôi không muốn hỏi chị Sáng về chuyện thằng Quên bị bắt về tội săn bò tót. Tôi tìm ông Sáu, Giám đốc Trung tâm, người chịu trách nhiệm gây dựng và bảo vệ khu rừng sinh quyển này. Nhiệm vụ của ông và các cộng sự là phải “đưa khu rừng trở lại như nó vốn có”.

- Phá thì nhanh lắm, một vài năm thôi. Nhưng đưa nó trở lại nguyên sinh như chính nó là một cuộc phấn đấu gian nan lắm ông ạ. Phải trồng lại những cây vốn có ở đây, gọi là cây bản địa. Phải loại bỏ giống cây, giống thú di thực, để thuần là một cánh rừng Việt Nam.

- Kế hoạch trồng mới mấy triệu héc-ta rừng cũng thế à?

- Đâu được! Rừng thì có cây, nhưng chỉ cây thôi thì chưa thể là rừng. Ai nói là “Rừng cao su”, tôi không chịu. Đó chỉ là loại vườn cây, trống trải, xói mòn, kiệt quệ. Đó chỉ là cách ngụy biện, chống chế để khai thác gỗ, làm giàu. Cây cao su cũng làm giàu, nhưng chỉ là làm giàu cho mình, chứ không phải cho rừng, cho mặt đất, cho hành tinh…

Nhìn ông chủ rừng đăm chiêu, tôi thấy không thể hỏi ông về vụ “Bò Tót”.

Tôi tìm Hiệp, anh bạn đã gọi điện cho tôi báo tin chị Sáng lâm bệnh nặng. Hiệp bô bô:

- Thằng nhỏ nghe lời bọn kia xui dại, cho tiền đi bắn bò tót cho chúng lấy mật, rồi đem xác con bò về nhà nấu ăn xì xụp. Vậy mới bị bắt quả tang.

- Định xử nó thế nào?

- Tù là cái chắc. Còn tùy ở lượng khoan hồng hay cố chấp của quan Tòa.

- Không… “ấy” được à?

- Chú buồn cười. Thằng Quên con bà Sáng ngu, không hiểu biết luật pháp lại tham tiền. Giờ thì nó phải biết: có gan làm, có gan chịu!

Gặp tôi, chị Sáng không khóc lóc hay kêu than. Nhưng không còn cười được nữa:

- Thằng cháu Người Rừng của chú bị bắt nhốt rồi. Tôi nhờ chú kiếm đường cho tôi đi thăm nó.

Thì ra, thằng Quên đã được nhận vào làm công nhân, nó hiền lành, lì lợm và rất thạo công việc. Chính vì thế, có kẻ đã dụ dỗ nó đi tìm bò tót. Không oan nhưng ức thật.

Tôi đèo chị Sáng lên công an huyện hỏi thăm chỗ tạm giam thằng Quên. Cũng may nhờ Hiệp giúp nên gần trưa chúng tôi được tiếp, hẹn đến chiều sẽ cấp giấy vào thăm.

Hiệp mời chúng tôi vào một nhà hàng khá sang ăn trưa. Chị Sáng nuốt nước mắt, nhai chậm chạp.

Có một tốp quan chức hay công chức gì đó vừa ăn xong ra xe. Chiếc xe nổ máy chờ người. Có một ông đi ra sau, vẻ bệ vệ, vừa đi vừa xỉa răng. Bỗng chị Sáng đứng dậy, tần ngần nhìn theo. Chị lẩm bẩm câu gì đó rồi bất ngờ chạy ra sân nắng, nhìn người đàn ông miệng đang ngậm tăm:

- Anh… Anh Bích?

Người đàn ông hơi nghiêng người như muốn né tránh một người ăn xin hay bán vé số. Chị Sáng nhìn theo chiếc xe đã chạy khuất, rồi quay vào tìm nhà vệ sinh.

Tôi hỏi Hiệp:

- Tay nào thế?

- Thằng Biết bên kiểm lâm! Quen à?

Tôi lắc đầu, nhìn về phía chị Sáng vừa đi qua:

- Không! Hình như bà Sáng có quen.

Lúc chị Sáng ra, tôi đánh bạo hỏi:

- Chị vừa chào ai thế?

Chị lắc đầu:

- Tôi nhầm! À mà quên. Quên rồi!

HOÀNG ĐÌNH QUANG
Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 35

Ý Kiến bạn đọc