Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Dịch “Phong Kiều dạ bạc”

 

Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế là một trong những bài thơ Đường nổi tiếng nhất. Trong số những bản dịch sang tiếng Việt, phổ biến rộng rãi hơn cả là bản không biết của Nguyễn Hàm Ninh (1808-1867) hay của Tản Đà (1889-1939). Nếu là của Nguyễn Hàm Ninh, thì Phong Kiều dạ bạc đã được dịch rất sớm, đại khái cùng thời với Thu hứng (Đỗ Phủ) và Tỳ bà hành (Bạch Cư Dị).

*
Các cụ ta xưa dịch thơ như thế nào?

Trong Chinh phụ ngâm bị khảo (Nxb. Minh Tân, 1953), Hoàng Xuân Hãn nhận xét: “(Người dịch) chỉ lĩnh hội ý (…) rồi viết (…) Có lúc (…) góp (…) hai vế thành một vế (…) Có lúc nguyên văn cố ý lặp đi lặp lại các chữ vì điệu nhạc phủ, thì ông ước lược cho hợp với điệu văn song thất lục bát ta. Có khi gặp những ý, những câu diễn ca khó mà bỏ đi cũng không mất tứ, ông không ngần ngại đã bỏ phắt đi. Trong một vế, ông thường bỏ bớt ý mà thêm ý mình. Lại có khi, vì vần hoặc vì muốn thu gọn, ông đảo lộn các vế ở nguyên văn, hoặc tráo lẫn ý trong vài vế nguyên văn”. Nghĩa là ai đó đã “chuyển ngữ” nguyên tác Hán văn của Đặng Trần Côn theo một lối cực kỳ phóng túng!

Dịch lối ấy có thể đưa đến kết quả gì? Vẫn Hoàng Xuân Hãn về bản dịch Chinh phụ ngâm nổi tiếng: “… văn dịch mà y như văn làm. Các câu văn đọc lên nghe tự nhiên như từ nguồn thi hứng ào ào chảy ra, không bị (…) nguyên văn kiềm thúc”.

Dĩ nhiên dịch thơ Hán văn thành công đâu chỉ có Đoàn Thị Điểm hay Phan Huy Ích. Xem lại, từ Nguyễn Công Trứ dịch Thu hứng đến Phan Huy Vịnh dịch Tỳ bà hành đến Nguyễn Khuyến dịch thơ chữ Hán của mình đến Tản Đà dịch gần một trăm bài thơ Đường, ai nấy khi làm việc ấy đều thoải mái “góp hai vế thành một, đảo lộn vế, ước lược chữ, tráo lẫn ý”, có khi “bỏ phắt” ý trong nguyên văn, có khi “thêm ý mình”!

Rõ ràng, tiền nhân đã quan niệm dịch thơ là làm một bài thơ khác bằng tứ của nguyên tác. Cứ làm sao cho diễn được hiệu quả cái tứ ấy thì làm, không cần phải câu nệ chi tiết.

Trong số những “biện pháp” mà các cụ ta xưa hay dùng khi dịch thơ Hán văn, chúng tôi chú ý nhất đến cái biện pháp bỏ bớt chi tiết.

Tại sao có thể giảm chi tiết mà “không sao”? Thiết nghĩ bởi vì trong thơ, chi tiết không quan trọng như trong tiểu thuyết, bản dịch thơ nếu không giữ đủ chi tiết vẫn có thể chuyển được tứ của nguyên tác.

Nhưng tại sao các cụ lại đi làm thế? Lại thiết nghĩ do Hán văn điển hình rất súc tích, chứa nhiều chi tiết, nếu dịch cho đủ thì còn chỗ đâu nữa để vận dụng những đặc tính sở trường của tiếng Việt mà làm cho câu thơ giàu chất nhạc như thi nhân ta mong muốn! Để ý câu tiếng Việt hay dùng hư tự và từ láy từ kép (tốn chỗ gấp đôi từ đơn).

Trong một bài viết, chúng tôi đã đề xuất: “Thơ Việt như nhạc, thơ Tàu như tranh”(1). Dịch thơ Tàu ra thơ Việt là “dịch” tranh thành nhạc, là đem “diễn ca” cái hồn của tranh. Dẫu rằng “tranh” đây là thứ tranh vẽ rất thoáng, người dịch thường khi vẫn phải chọn bỏ bớt một số chi tiết thì mới “hát” lên nổi cho hay!

So-587--Anh-minh-hoa---Dich-Phong-Kieu-da-bac---Anh-1

*
Chúng tôi cũng có dịch Phong Kiều dạ bạc. Lần đầu năm 2007, rồi thỉnh thoảng lại dịch, đến nay tổng cộng 9 lần! Sau đây xin trình làng tất cả, cùng với bản dịch rất nổi tiếng đã nhắc ở trên.

Nguyên văn

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Dịch nghĩa

Trăng lặn, quạ kêu, sương đầy trời
Hàng phong bờ sông và những đèn câu “đối” giấc ngủ buồn
(Từ) chùa Hàn San bên ngoài thành Cô Tô
Nửa đêm tiếng chuông vọng đến thuyền khách.

Dịch thơ

Bản 1:

Quạ kêu trăng xế trời sương
Đèn lu cây tối, chập chờn tỉnh mê
Nửa đêm thức giấc nằm nghe
Chùa đâu chuông đánh xa đưa tận thuyền.

Bản 2:

Sương giăng quạ réo trăng tà
Lom đom chài lửa lờ mờ bến cây
Ngủ đêm thuyền đỗ buồn ơi
Nửa khuya nghe tiếng chuông rơi, ngỡ ngàng…

Bản 3:

Quạ kêu, trăng rụng, sương mù
Đìu hiu bến bãi chia sầu người mơ
Nửa đêm chuông nổi chùa xa
Mui bồng tiếng lọt, ngẩn ngơ khách nằm…

Bản 4:

Trăng tà, quạ réo, sương rơi
Đèn câu, cây bến, buồn ơi ngủ đò…
Nửa đêm ai thỉnh chuông chùa
Nằm nghe tiếng vọng, nửa ngờ chiêm bao…

Bản 5:

Trăng đâu mất, Quạ kêu, sương bủa
Bến đìu hiu, khách ngủ buồn sao
Thật chăng hay giấc chiêm bao?
Nửa đêm nghe tiếng chùa nào chuông vang!

Bản 6:

Trăng đâu? quạ réo, sương lùa
Quạnh hiu bến nước thêm sầu giấc ai
Chuông chùa mấy tiếng chơi vơi
Dư âm dứt đã, chưa thôi bàng hoàng…

Bản 7:

Đìu hiu bến quạnh, mộng sầu
Trăng rơi khuất bóng, quạ gào, sương sa
Chùa đâu chuông bỗng ngân nga
Nửa đêm vòng sóng lan xa tận thuyền…

Bản 8:

Lửa chài soi giấc ngủ côi
Quạ kêu trăng xế, kín trời sương sa
Nửa đêm chuông thỉnh chùa xa
Dở mê nghe tiếng ngân nga, giật mình.

Bản 9:

Trăng xế, quạ kêu, sương kín trời
Đèn lu, cây tối, ngủ buồn ơi
“Nửa đêm” chuông đánh, chùa đâu lạ
Tỉnh giấc ai ơi, sắp sáng rồi!(2)

Bản dịch thơ khác

Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
(Nguyễn Hàm Ninh hay Tản Đà?)

Thu Tứ
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 587

———————–
Tên bài nghĩa là “Đêm đỗ thuyền ở Phong Kiều”.
(1) Bài “Thơ nhạc, thơ tranh”, sách Cảm nghĩ miên man, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học và Nxb. Thế giới, 2015.
(2) Trong Thơ Đường – Tản Đà dịch (Nxb. Trẻ, 1989), Nguyễn Quảng Tuân nhận xét: “… nửa đêm không làm gì có tiếng chuông chùa (…) nguyệt lạc (…) là cảnh lúc về sáng rồi. Tác giả đi nằm lúc nửa đêm song cứ mơ màng (…) khi chợt tỉnh (…) bị ảo tưởng thời gian nên cho là mới có nửa đêm”. Đúng là chuông chùa hiếm khi thỉnh lúc nửa đêm, nhưng chắc nếu có lý do vẫn thỉnh được, còn về thời điểm trăng lặn thì trăng thượng huyền mọc ban ngày, lặn lúc nửa đêm. Tuy nhiên, chúng tôi cũng nhân đọc ý kiến này mà dịch thêm một bản.

Ý Kiến bạn đọc