Trong nước

Đi tìm lời mới 20 bản tổ đờn ca tài tử

 

Tiếp tục bảo tồn và phát huy giá trị Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Đờn ca tài tử Nam bộ, để tìm cái mới cho loại hình này, tỉnh Bạc Liêu tổ chức cuộc thi “Sáng tác lời mới 20 bài bản Tổ Đờn ca tài tử Nam bộ”. Đối tượng của cuộc thi là các văn nghệ sĩ, soạn giả, đội ngũ sáng tác chuyên nghiệp lẫn không chuyên và kể cả quần chúng nhân dân yêu mến Đờn ca tài tử Nam bộ.

Cuộc thi nhằm tìm kiếm lời mới cho 20 bài bản Tổ Đờn ca tài tử Nam bộ, gồm: “3 Nam” – Nam xuân, Nam ai, Nam đảo (tối thiểu 20 câu, khuyến khích viết 2 lớp Trống xuân, Mái ai và Song cước); “6 Bắc” – Lưu thủy trường (32 câu), Phú lục chấn (lớp 1, 2 và lớp chót), Bình bán chấn (tối thiểu 22 câu), Xuân tình chấn (tối thiểu 2 lớp), Cổ bản vắn (34 câu), Tây thi vắn (26 câu); “7 Hạ” – Xàng xê nhịp tư (20 câu), Ngũ đối thượng (tối thiểu 20 câu), Ngũ đối hạ (tối thiểu 20 câu), Long đăng (tối thiểu 2 lớp), Long ngâm (33 câu), Vạn giá (tối thiểu 22 câu), Tiểu khúc (29 câu); “4 Oán” – Tứ đại oán (lớp 1 và hồi thủ, hoặc lớp 1 và Xang vắn, Xang dài), Phụng hoàng lai nghi (tối thiểu 2 lớp), Giang nam cửu khúc (tối thiểu 2 lớp), Phụng cầu hoàng duyên (tối thiểu 16 câu).

Các lời mới thể hiện nội dung ca ngợi, giới thiệu hình ảnh quê hương đất nước, con người Việt Nam nói chung và Bạc Liêu nói riêng; những thành quả cách mạng, quá trình xây dựng nông thôn mới, dấu ấn công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, lịch sử dân tộc; tôn vinh những điển hình tiêu biểu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

So-599--Di-tim-loi-noi-20-ban-to-don-ca-tai-tu---Anh-1
Thầy đờn cổ thụ Vĩnh Bảo.

Thành phần Ban giám khảo có sự tham gia của nhiều soạn giả có uy tín ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và TP. Hồ Chí Minh

Tác giả gửi bài dự thi về Sở Văn hóa, Thông tin, Thể thao và Du lịch tỉnh Bạc Liêu (16 Hùng Vương, phường 1, TP. Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu) từ nay đến hết ngày 30/8/2020. Lễ tổng kết và trao giải dự kiến diễn ra vào tháng 10/2020.

Trong Đờn ca tài tử Nam bộ, 20 bản tổ chia ra 4 loại: 4 mùa (Xuân, Hạ, Thu, Ðông) và 4 hướng (Ðông, Tây, Nam, Bắc), gồm:

- Ba bài Nam gồm: Nam Xuân, Nam Ai + Nam Ai Lớp Mái , Đảo Ngũ Cung

+ Song Cước .

- Sáu bài Bắc gồm: Lưu Thủy, Xuân Tình, Phú Lục , Bình Bán, Tây Thi, Cổ Bản.

- Bảy bài Lễ gồm: Xàng Xê, Ngũ Đối Thượng, Ngũ Ðối Hạ, Long Ðăng, Long Ngâm, Vạn Giá, Tiểu Khúc.

- Bốn bài Oán gồm: Tứ Ðại Oán, Giang Nam, Phụng Cầu Hoàng, Phụng Hoàng Cầu.

- 4 bài Oán phụ gồm: Văn Thiên Tường, Bình Sa Lạc Nhạn, Thanh Dạ Đề Quyên, Xuân Nữ.

Theo các Thầy đờn, Sáu bài Bắc được xếp vào mùa Xuân, giọng nhạc vui tươi. Nhạc sĩ đờn 6 bài nầy thì day mặt về hướng Bắc; Bảy bài nhạc Lễ: xếp vào mùa Hạ, nên thường gọi là 7 bài Hạ, giọng nhạc bực tức, hùng hồn. Nhạc sĩ đờn 7 bài nầy day mặt về hướng Ðông; Ba bài Nam xếp vào mùa Thu, giọng nhạc trầm buồn ai oán. Nhạc sĩ đờn 3 bài nầy thì day mặt về hướng Nam; Bốn bài Oán xếp vào mùa Ðông, giọng nhạc hiền hòa, non nước thanh bình. Nhạc sĩ đờn 4 bài nầy thì day mặt về hướng Tây.

Cũng theo các Thầy đờn, nhạc cổ và cải lương được phân thành mười mục: Nhứt Lý (các điệu Lý); Nhì Ngâm (ngâm Kiều, ngâm thơ, ngâm sa mạc…); Tam Nam (ba bài Nam lớn); Tứ Oán (các bài Oán); Ngũ Điểm (sáu bài Bắc lớn); Lục Xuất (sáu bài ngắn); Thất Chinh (bảy bài nhạc lớn lễ, cung đình); Bát Ngự ( tám bài Ngự); Cửu Nhĩ (2 bài do nhóm tài tử miền Đông biên soạn); Thập Thủ (thập thủ liên hoàn, 10 bài ngắn).

Một Thầy đờn thuộc top “cổ thụ” tâm sự rằng, bài Vọng Cổ, hậu thân của bài Dạ Cổ Hoài Lang của ông Sáu Lầu ở Bạc Liêu sáng tác trong những năm 1920, không thấy trong bảng phân loại nói trên. Không biết là bởi vì bài Vọng Cổ quá đặc biệt để phân loại hay do sự phân loại này được làm trước khi bản Vọng Cổ được phổ biến rộng rãi. Cũng cần nên nhắc qua là trước khi bài Vọng Cổ chiếm được vị trí số một trong âm nhạc cải lương thì bài Hành Vân được dùng rất rộng rãi trên sân khấu cải lương, như bài Vọng Cổ ngày nay vậy.

Trên thực tế chỉ có một số bản được sử dụng rộng rãi. Đa số những bài cải lương dùng trong những buổi đàn ca tài tử được trích từ các vở tuồng cải lương. Lý do là lời đặt riêng cho các điệu / bài bản không nhiều. Có thể nói là sau này không còn thấy lời mới nữa. Các soạn giả chỉ sáng tác lời cho bài vọng cổ (và các bài bản nhỏ, để hát xen kẽ với vọng cổ).

Cao Nguyễn – Văn Liêu
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 599

Ý Kiến bạn đọc