Tản văn

Di sản của cha

Các bậc cha mẹ thường để lại cho con cái những di sản về vật chất và tinh thần. Ba tôi – nhà văn Bùi Hiển đã để lại cho chúng tôi di sản tinh thần có thể nói là vô giá.

Trên cái bề mặt của di sản ấy là những truyện ngắn còn được người đời nhắc tới như là Ma đậu, Nằm vạ, Chiều sương, Một trận bão cuối năm… trước Cách mạng, trong kháng chiến chống Pháp là Gặp gỡ, Đánh trận giặc lúa, Một câu chuyện trong chiến tranh. Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mỹ có Ngày công đầu tiên của cu Tý, Chị Mẫn, Hai giọt nước mắt của nữ tiểu đội trưởng Bích Hường, Kỷ niệm về người con đi xa, Chiếc mũ. Đổi mới được ghi dấu bằng truyện ngắn Cái bóng cọc viết từ năm 1979 như một dự báo về sự vô cảm xã hội, sau này là những Sai phạm cuối đời, Người từng điều khiển được chiêm bao, Những con số một. Về bút ký có tập Đường vui xứ bạn, Bám biển, Trên một nông trường miền biển, Chúng nó là một lũ đê hèn, Nợ máu… Chẳng những thế ba tôi còn là một dịch giả – qua bản tiếng Pháp của hàng loạt tác phẩm như Đội cận vệ thanh niên, Di chúc Pháp, Người từng yêu nữ thần biển, Truyện ngắn phương Đông… khoảng 6.000 trang sách dịch.

Nha-van-Bui-Hien
Nhà văn Bùi Hiển
(1919-2009)

Tôi như một nhà khảo cổ – không phải để đào bới từ những niên đại cách đây hàng chục triệu năm mà chỉ cách đây vài chục năm, thậm chí mươi mười lăm năm trở lại đây. Lật dưới cái di sản lộ thiên là những tác phẩm viết và dịch của ba bỗng thấy phát lộ ra một kho báu mà từ trước đến nay tôi chỉ biết một cách lờ mờ. Nhà tập thể chật chội, bàn tủ sơ sài, di chuyển liên miên vì phải đi sơ tán Hà Bắc, Hà Tây không biết bằng cách nào ba vẫn lưu giữ được nhiều thư từ trong gia đình, nhất là thư từ của bạn bè văn nghệ. Với nét chữ thanh mảnh trên tờ giấy sang trọng Nguyễn Tuân cảm ơn vì được tặng cuốn Nằm vạ trước cách mạng; lời nhắn nhủ của Tố Hữu mời gọi lên chiến khu Việt Bắc để tập hợp thành một đội quân văn nghệ; với nét chữ tròn vo Tô Hoài khoe đã được kết nạp Đảng và mới lấy vợ; dòng chữ nguệch ngoạc của Nguyên Hồng tâm sự về chuyện nghề trong kháng chiến chống Pháp. Sau 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc riêng chuyến đi lao động thực tế năm 1958 có đến vài chục lá thư. Bằng lời lẽ tươi vui hóm hỉnh nhà văn Đào Vũ, tổ trưởng một tổ văn nghệ sĩ thâm nhập một hợp tác xã ở Hải Dương mời tổ của Bùi Hiển sang giao lưu học hỏi. Thư của nhà thơ Hoàng Trung Thông trao đổi kinh nghiệm sáng tác và thâm nhập thực tế theo kiểu như một “chính trị viên” chỉ ra từng bước đi cụ thể một là, hai là. Nhà văn Lê Minh kể lại rất chi tiết quá trình ba cùng với công nhân ở Nhà máy dệt Nam Định. Với lời lẽ mộc mạc chân tình nhà thơ Hoàng Minh Châu – người được phân công ở lại để lo chế độ chính sách và thăm hỏi gia đình những anh chị em đi thực tế đã viết thư cho từng người trong đoàn. Nhà thơ Chế Lan Viên – người bạn thân thiết từ thời văn nghệ liên khu Tư có khoảng vài chục bức thư, viết trên đủ loại giấy, nét chữ xiên xiên lên dốc rồi đổ xuống đèo, có thư vài ba trang vừa tâm sự vừa chuyện nghề, có khi chỉ vài dòng ngắn ngủi viết trên tờ cạc-vi-dích. Những thư này được viết từ những năm 1957-1958 khi ông chữa bệnh ở Trung Quốc cho đến khi từ giã cõi đời năm 1989. Rồi những bức thư của nhà văn Anh Đức gửi từ Hội Văn nghệ Giải phóng nói lên nỗi nhớ “anh chị em văn nghệ ngoài ấy” của một người bám trụ lâu năm ở chiến trường, thư của nhà thơ Minh Huệ gửi từ Nghệ An trao đổi công việc của Hội Văn nghệ Nghệ An trong thời chống Mỹ. Sau giải phóng năm 1975 là thư của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường với đề nghị hỗ trợ cho những chuyến thực tế, thư của nhà văn Nguyễn Minh Châu nhờ viết về truyện ngắn cho Văn nghệ quân đội, thư và vài lời nhận xét của nhà văn Ma Văn Kháng về truyện ngắn của Bùi Hiển chưa bao giờ xưa cũ, thư của nhà văn Hoàng Văn Bổn kể về các cây bút mới của Đồng Nai. Lớp trẻ hơn là nhà thơ Lê Quang Trang trao đổi về công việc của Hội đồng chấm giải và cây bút trẻ, cô giáo Trần Thị Nhật Tân với giọng đầy xúc động cám ơn về sự động viên với tác giả của tiểu thuyết Dòng xoáy. Thư của những phụ nữ là nhân vật của bài bút ký, nhận xét anh bộ đội nhân đọc một truyện ngắn, thẩm định của Vụ Mầm non (Bộ Giáo dục) về cuốn Người mẹ trẻ. Qua đó thấy sự gắn bó máu thịt giữa nhà văn và nhân vật, với bạn đọc, với các ngành nghề. Tôi còn lật thấy hàng mấy chục cuốn sổ tay ghi chép, nhật ký về những chặng đường đã qua, cuốn nào cũng được ghi bằng câu tục ngữ mở đầu: “Năng nhặt chặt bị”. Chặng đường đi thực tế Bình Trị Thiên hành quân cùng bộ đội, bị địch vây lùng, sống cùng dân, cảnh sinh hoạt trong vùng tạm chiếm được ghi chi chít bằng những cuốn sổ tay bé bằng nửa bàn tay, nhòe mực bởi thấm mưa dầm xứ Huế (trong đó có hai cuốn nhà thơ Chế Lan Viên tặng, gia đình đã trao lại cho nhà văn Vũ Thị Thường – vợ ông). Những chuyến đi thực tế hợp tác xã nông nghiệp, nhà máy, trao đổi văn hóa với nước ngoài, đặc biệt là những năm chống Mỹ bám sát tuyến lửa khu Bốn, bám trụ Hà Nội được ba tôi ghi chép rất kỹ lưỡng. Từng vệt bom, ruộng lúa, cảnh máy bay rơi nhất là cái khuôn mặt tinh thần đau thương bừng sáng ý chí quyết tâm đánh thắng kẻ thù của quân dân ta được khắc họa rất rõ nét. Tôi còn lưu giữ cuốn sổ nhật ký dày trong hai năm 2000-2001 ghi lại những trăn trở về cuộc sống, về văn chương của một nhà văn nặng trĩu trách nhiệm với cuộc đời. Ba tôi còn để lại cho con cháu tờ báo Ngày nay in truyện Nằm vạ có lời đề tựa như một tiếng reo vui của Thạch Lam về một cây bút trẻ xứ Nghệ, bản thảo viết tay truyện ngắn Một câu chuyện trong chiến tranh, Cái bóng cọc. Ngoài ra, còn một số bức ảnh từ những năm tháng ấu thơ chụp cùng bố mẹ và chị gái cùng các em trai ở quê hương Quỳnh Lưu, ảnh thời ở Vinh và các ảnh với bạn bè văn nghệ ở Hà Nội, ở Huế, Quảng Bình, Nghệ An, Quảng Trị… Sổ tay ghi lại những cuộc họp của Hội đồng văn xuôi, Hội đồng tuyển chọn tuyển tập truyện ngắn, nhận xét về phong trào, sau khi đọc xong một cuốn sách, ngẫm nghĩ về nghề. Chính từ những ghi chép này ba tôi đã viết cuốn phê bình, tiểu luận Bạn bè một thuở. Trong di sản còn có những cuốn sách của bạn bè văn nghệ tặng từ trước cách mạng và sau này, từ những bạn văn cùng thế hệ tiền chiến như Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Lý Văn Sâm đến những bạn văn trong kháng chiến chống Pháp như Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Phạm Hổ, Trần Hữu Thung, Minh Huệ, Vĩnh Mai, Vũ Tú Nam, Hoàng Văn Bổn. Các nhà văn lớp sau này có Vũ Thị Thường, Ngô Quân Miện, Xuân Quỳnh, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Cẩm Lai, Bằng Việt, Đỗ Chu, Hồ Anh Thái, Nhật Tuấn, Đức Ánh, Trần Công Tấn, Xuân Hoài, Bá Dũng, Hồng Nhu… Đọc những lời đề tặng ở trang đầu cuốn sách có thể thấy được tình cảm của người tặng với người được tặng. Nhà thơ Xuân Diệu có lời đề tặng rất chân thật: “Tặng Bùi Hiển thân quý”, và chữ ký Xuân Diệu to đùng choán hết nửa trang. Nhà thơ Chế Lan Viên lời lẽ rất thắm thiết khi viết đề tặng cho tập bút ký Thăm Trung Quốc của ông: “Tặng Bùi Hiển thương yêu, gửi bạn rất độ lượng với văn xuôi của tôi và tôi viết được cũng là nhờ sự động viên của bạn”. Đây là lần đầu tiên ông thành công với thể loại văn xuôi mặc dù trong kháng chiến chống Pháp ông đã thử sức ở thể loại này. Từ những tư liệu nhỏ nhặt đến những kỷ vật lớn ba tôi đều có ý thức giữ gìn, bảo lưu, do ông trân quý một thời của văn học, một bộ phận của văn hóa nước nhà. Và bây giờ trải qua thời gian nó đã trở thành những di sản quý giá vô ngần. Lần giở những kỷ vật ấy tôi thấy gì? Đó là một thế hệ tâm huyết, dấn thân vì nghĩa lớn của dân tộc, đi vào cuộc sống chiến đấu và sản xuất bất chấp sự hy sinh gian khổ để có những tác phẩm xứng đáng. Nhà văn thời ấy giàu lòng yêu nước, yêu dân tộc, có bề dày văn hóa, kinh nghiệm sáng tác, luôn trăn trở tìm tòi, từ chủ đề, bút pháp khá đa dạng, phong phú, không phải là thứ “văn học đồng phục” như có kẻ đã phủ nhận. Dẫu chưa có nhiều tác phẩm đỉnh cao nhưng sáng tác của họ đã đóng góp xứng đáng vào công cuộc cứu nước và đổi mới của dân tộc. Có thể có những tranh luận về vấn đề này nọ nhưng họ rất khiêm tốn, luôn quý trọng tài năng của nhau, động viên nhau trong cuộc sống và sáng tác. Tôi nhớ có lần vào năm 2000, nhà văn Nguyễn Đình Thi đến tận nhà cám ơn bài viết trên báo Văn nghệ của ba tôi ghi lại cuộc thảo luận về bộ tiểu thuyết Vỡ bờ. Dù cuốn tiểu thuyết ra đời đã lâu từ những năm 1960-1962 nhưng đọc lại nhà văn vẫn có thái độ rất trọng thị. Đó là những điều thế hệ cầm bút sau này phải học tập. Ngày nay bên cạnh những cây bút tài năng tâm huyết còn có một số cây bút ít chịu lăn lộn với thực tế, ngại khó ngại khổ, lười biếng, hời hợt trong lao động sáng tạo. Họ còn khoe khoang hợm hĩnh, coi thường bạn văn, tìm mọi cách để tâng bốc nhau hoặc thóa mạ nhau. Kết quả là họ đã làm ra thứ hàng giả, hàng nhái, kém chất lượng. Tác phẩm của họ không có đời sống lâu bền, quảng bá cho nó nổi phềnh một thời gian rồi chìm nghỉm, rơi vào quên lãng.

Tôi nghĩ không chỉ riêng ba tôi mà các nhà văn thế hệ trước bằng cách riêng của mình cũng để lại những di sản tinh thần vô giá cho đất nước, cho văn học. Những hiện vật trưng bày trong Bảo tàng Văn học Việt Nam hàng ngày được nhiều thế hệ đến tham quan là một minh chứng. Còn một số những hiện vật khác ghi dấu lao động, cá tính sáng tạo, khoảnh khắc riêng tư với gia đình đã được vợ con các nhà văn lưu giữ. 60 năm thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, nghĩ về thế hệ vàng của văn học mà hầu hết đã trở thành người thiên cổ – những người viết văn chúng ta vô cùng tự hào. Không chỉ dừng lại ở tác phẩm mà nhân cách, lối sống của họ đang thấm vào, soi sáng cho thế hệ nhà văn lớp sau bước tới. Với bản lĩnh và khát vọng sáng tạo, cống hiến các nhà văn ngày nay bằng tác phẩm của mình tiếp tục ca ngợi truyền thống, đạo lý dân tộc vừa phân tích, lý giải về những vấn đề nóng bỏng của đất nước, đóng góp tích cực cho công cuộc đổi mới – như lời đồng chí Võ Văn Thưởng – Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương phát biểu trong Lễ kỷ niệm 60 năm thành lập Hội Nhà văn Việt Nam ngày 4-4-2017 vừa qua.

Bùi Quang Tú
(P. Tân Tiến, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 448