Tản văn

Đệ nhứt cù lao

 

Sông Mékong sau khi băng qua nhiều quốc gia, vượt bao ghềnh thác núi đồi hiểm trở cùng đồng bằng mênh mông; đoạn cuối dòng sông mang theo nhiều phù sa đổ vào miền Nam Việt Nam bồi đắp nên một vùng đất nê địa, dần dần trở thành châu thổ phì nhiêu, trong đó nổi lên nhiều cù lao lớn nhỏ chia sông thành nhiều dòng chảy ra biển với hai con sông Cái là Tiền Giang và Hậu Giang cùng nhiều nhánh sông khác. Sông chảy ra biển bằng 9 cửa nên còn mang tên Cửu Long, ví như 9 con rồng của miền tây nam Việt Nam.

An Giang là tỉnh đầu nguồn đón nhận dòng sông nầy, nói cách khác, từ xa xưa, con sông đã mang phù sa về bồi đắp nên vùng đất An Giang phì nhiêu, trù phú. Chính nguồn phù sa dồi dào đã tạo nên hàng chục cù lao phủ đầy cây trái hoa màu xanh mượt. Ngoại trừ thành phố Châu Đốc và các huyện miền núi phía tây như Tịnh Biên, Tri Tôn, Thoại Sơn không có cù lao, các huyện, thị xã và thành phố phía đông là An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Châu Phú, Chợ Mới, Châu Thành, Long Xuyên đều có cù lao.

Và, một trong những cù lao nổi tiếng, được nhiều người biết đến của An Giang là Cù lao Giêng.

Cù lao Giêng nằm trên sông Tiền, thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, có chiều dài hơn 14 kílômét, nơi rộng nhất khoảng 5 kílômét, diện tích trên 6 ngàn 4 trăm hécta. Xưa thuộc Tân Châu đạo, nay gồm 3 xã Tấn Mỹ, Bình Phước Xuân và Mỹ Hiệp.

Đầu triều Nguyễn, Cù lao Giêng thuộc Vĩnh Trấn, sau đổi là trấn Vĩnh Thanh. Dưới thời Minh Mạng trấn đổi thành tỉnh, Cù lao Giêng có sáu thôn là Tấn Đức, Mỹ Hưng, Mỹ Chánh, Bình Đức Đông, Phú Xuân, Tân Phước thuộc tổng An Bình, huyện Đông Xuyên, phủ Tuy Biên, tỉnh An Giang. Thời Pháp chia An Giang thành 3 hạt, rồi đổi hạt thành tỉnh, Cù lao Giêng thuộc tỉnh Long Xuyên. Năm 1920, từ 3 làng Bình Đức Đông, Tân Phước, Phú Xuân thành lập làng Bình Phước Xuân. Năm 1939, 3 làng Tấn Đức, Mỹ Hưng, Mỹ Chánh sáp nhập và chia thành 2 làng Tấn Mỹ và Mỹ Hiệp. Từ thời chính quyền Sài Gòn, 3 xã này thuộc huyện Chợ Mới tỉnh An Giang cho đến ngày nay.

Cù lao Giêng có nhiều tên. Theo lời kể của các bô lão sống lâu đời trên đất cù lao và một số tài liệu nghiên cứu ghi lại, ban đầu có tên là Cù lao Đầu Nước, người Khmer gọi là Koh Teng. Tên thông dụng nhất là Cù lao Giêng, xuất phát từ địa danh Dinh Châu (hay Doanh Châu), ý chỉ đây là vùng đất tươi đẹp, trù phú. Có người khi đặt chân lên bãi bồi phì nhiêu nầy đã gọi là Bãi Dinh. Chữ Dinh bị người địa phương đọc trại ra thành Giêng, với giọng Nam bộ có khi gọi là Diên. Những lưu dân đến khai phá vùng ven còn gọi là Cù lao Ven, hoặc Cù lao Riêng do có một số người tách đoàn ra cắt cứ một vùng đất riêng. Còn chữ Cù lao Gieng có thể do cách viết không dấu của người Pháp.

So-607--Thong-diep-hanh-trinh-ve-phuong-Dong---Luong-Khanh-Toan---Anh-1
Thông điệp hành trình về phương Đông – sơn mài – Lương Khánh Toàn.

Từ khi mới định hình, Cù lao Giêng là vùng đất màu mỡ, rừng tre bạt ngàn, cây trái xanh rờn giữa vòng tay yên ả của dòng sông Tiền mênh mang, đẹp như cảnh non tiên đúng như tên Dinh Châu mà người đời đã đặt. Đất lành chim đậu, cù lao sớm thu hút lưu dân đến khẩn hoang sinh sống và chẳng bao lâu sau an cư lạc nghiệp. Từ cuối thế kỉ XVII, cuộc sống sung túc của đông đảo người dân Cù lao Giêng đã khiến giặc Chân Lạp nhiều lần kéo đến cướp phá. Khi chúa Nguyễn Phúc Khoát cấm đạo Thiên Chúa, nhiều giáo dân đã chạy vào vùng đất tây nam xa xôi, hẻo lánh để ẩn trú cũng đã chọn Cù lao Giêng làm nơi lập nghiệp và phát triển đạo. Từ năm 1778, nhiều đoàn giáo dân kéo đến Cái Đôi (xã Hòa Bình hiện nay) và Bãi Dinh (xã Tấn Mỹ, Cù lao Giêng) để định cư.

Những đợt di dân của người Công giáo và lưu dân miền Trung theo chân các quan nhà Nguyễn đến và ở lại Cù lao Giêng khẩn hoang lập ấp đã góp phần cho vùng đất nầy nhanh chóng phát triển. Sức người cộng với thiên nhiên ưu đãi đã đem lại hoa lợi và sự ấm no cho mọi người. Vườn cây, ruộng rẫy tươi tốt, trên đồng nhiều kinh rạch bàu đìa nối nhau mang về nguồn thủy sản dồi dào. Cuộc sống vật chất ổn định, đời sống tinh thần bắt đầu phát triển theo truyền thống dân tộc. Trong dân gian hình thành những kho tàng văn hóa văn nghệ, đình miếu được xây dựng và trở thành nơi sinh hoạt tâm linh phong phú của dân làng. Tôn giáo cũng phát triển với nhiều chùa chiền, nhà thờ hình thành. Cù lao Giêng chẳng những là xứ đất lành chim đậu mà còn là vùng địa linh nhân kiệt. Nhiều nhân vật tài hoa, học giỏi, có chí lớn xuất hiện tạo nên những trang sử hào hùng cho đất cù lao như: Tấn Mỹ có Thư Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thư – tướng nhà Nguyễn; Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Ung Văn Khiêm; Mỹ Hiệp có Bộ trưởng Bộ Y tế – bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng; nhạc sĩ Hoàng Hiệp; Bình Phước Xuân có nhà biên khảo Nguyễn Văn Hầu…

Trước kia muốn sang Cù lao Giêng phải qua đò, giờ đã có cầu. Giao thông trên đất cù lao hiện nay khá tiện lợi với những con đường nông thôn được mở rộng và tráng nhựa. Đi một vòng cù lao, ta nhận ra đời sống tâm linh ở đây rất phong phú, đa dạng với hàng chục cơ sở thờ tự như đình, chùa, nhà thờ, thánh thất, phủ thờ… Xã Tấn Mỹ có chùa Cây Sộp (Tấn Phước tự), chùa Đạo Nằm (Thành Hoa tự), nhà thờ Cồn Trên, nhà thờ Cồn Én, nhà thờ Cù Lao Giêng, tu viện Fanxico, tu viện Chúa Quan Phòng, khu lưu niệm Thánh tử đạo, đền thờ Đô đốc Thuyết, đình Tấn Mỹ, khu lưu niệm Ung Văn Khiêm… Xã Bình Phước Xuân có chùa Bà Vú (Phước Minh tự), chùa Chim (Phước Thành tự), chùa Phú An, nhà thờ Rạch Sâu, thánh thất Bình Phước Xuân, đình Bình Phú (Phú An), đình Bình Phước (Tân Phước), đình Trung (Bình Đức Đông), phủ thờ Nguyễn tộc, lăng Ba quan thượng đẳng… Xã Mỹ Hiệp có chùa Ba Cô (Liên Hoa tự), chùa Ông Lão (Minh Tế tự), chùa Bà Cái (Phước Long tự), chùa Thái Bình, chùa Thới Minh, thánh thất Mỹ Hiệp, thánh thất Mỹ Hưng, đình Mỹ Chánh, dinh Quan thượng đẳng, Dương Công phủ, phủ thờ họ Phan… Trong các cơ sở trên có nhiều nơi được xếp hạng di tích văn hóa, lịch sử, thu hút khách hành hương, du lịch đến chiêm bái, thăm viếng.

Chùa Đạo Nằm được cất bằng cây lá đơn sơ vào năm 1953 tại xã Tấn Mỹ. Chùa có tên là Thành Hoa tự, do sư Tịnh Nghiêm, thế danh Trần Hữu Thế, sinh năm 1904, quê Đồng Tháp, xây dựng. Ông xuất gia từ năm 18 tuổi, đến năm 22 tuổi nằm đại định trên thuyền Bửu Liên suốt 9 năm không nói, mỗi ngày chỉ ăn một bữa, nên dân gian gọi là Đạo Nằm. Ông viên tịch năm 1954, nhục thân đặt trong ngôi tháp cao 3 tầng, trang trí sặc sỡ trong khuôn viên bên cạnh chùa. Năm 1970 – 1971, chùa được trùng tu, xây lớn chánh điện, mái cong lợp ngói, nóc 3 tầng, vách trang trí hình tòa sen, kiến trúc đẹp trong khuôn viên rộng gần 5 hécta. Gần đây, nhà thờ Tôn sư vừa được xây dựng khang trang, nơi lưu giữ chiếc ghế và di ảnh ông Đạo Nằm. Chùa cũng còn giữ những di vật của ông như chiếc thuyền Bửu Liên, chiếc xe hơi bốn bánh ông sử dụng lúc tại thế. Hằng năm, vào ngày rằm tháng hai là lễ giỗ ông Đạo Nằm, khách đến viếng chùa rất đông.

Từ năm 1778, một số gia đình người Công giáo từ miền Trung xuôi về phương Nam tìm đất sống, ghé lại Cù lao Giêng định cư, khẩn hoang sản xuất nuôi thân và hành đạo, nhóm giáo dân nầy đã xây dựng nhà thờ tại làng Tấn Mỹ vào năm 1783. Ban đầu chỉ cất đơn sơ bằng cây lá. Khi giáo dân phát triển, nhà thờ cũ xuống cấp sau gần trăm năm, họ đạo quyết định xây mới và khởi công năm 1875, hoàn thành cuối năm 1887. Nhà thờ được thiết kế theo kiểu roman, chiều dài 52 mét, ngang 16 mét. Tòa tháp chuông cao 35 mét, trên hình bầu tròn, dưới hình vuông với nhiều đường nét hoa văn chạm trổ công phu, tinh xảo. Trong tháp chuông có 2 quả chuông đồng đặt ở lầu một và lầu thượng. Lòng nhà thờ có 3 căn, căn chính rộng 8 mét, hai căn phụ mỗi căn rộng 4 mét. Trần nhà thờ là mái vòm hình bán nguyệt cao vút với những đường viền hoa văn rất đẹp. Chánh điện thờ tượng Đức Bà. Từ khi xây dựng đến nay, nhà thờ qua nhiều đợt trùng tu vào các năm 1924, 1960, 1994, 2003, 2018… nên ngày càng khang trang. Nhà thờ Cù Lao Giêng có kiến trúc đẹp, nguy nga và là nhà thờ đầu tiên ở Nam kỳ.

Nằm bên bờ sông Tiền, phủ thờ Nguyễn tộc tọa lạc trên khu đất rộng. Lúc đầu, phủ thờ được tộc họ cất bằng cây lá để thờ ba Quan Thượng đẳng là Thư Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thư và hai người em đều là tướng nhà Nguyễn hi sinh trong trận chiến đẩy lùi quân Xiêm xâm lược bảo vệ biên cương. Năm 1909, phủ thờ được xây dựng kiên cố với lối kiến trúc cổ. Hơn 100 năm qua, phủ thờ vẫn được dòng tộc bảo quản, trùng tu khang trang với nội thất được cham trổ công phu, sắc sảo. Các liễn đối, hoành phi, nghi thờ cổ kính, tôn nghiêm. Đối diện là chợ Phủ Thờ, gần đó là bến đò Phủ Thờ, lăng Ba quan thượng đẳng. Điều nầy nói lên sinh hoạt của người dân địa phương gắn liền với Phủ Thờ hay còn gọi là dinh Ba Quan thượng đẳng. Hằng năm, vào các ngày 26, 27 tháng 6 âm lịch có hàng ngàn người đổ về Phủ thờ dự lễ giỗ 3 ông với nghi lễ cổ truyền và nhiều sinh hoạt vui chơi giải trí như múa lân, hát bội, các trò chơi dân gian.

Một ngôi chùa cổ ở xã Mỹ Hiệp cũng có sức ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân trong vùng là chùa Ông Lão, tên chính là Minh Tế tự. Một số địa danh gần đó được dân gian đặt theo tên chùa như: Ngã ba cua Ông Lão, rạch Ông Lão, cầu Ông Lão.

Chùa đã tồn tại trên 100 năm, tu theo phái Minh Sư nên các tu sĩ được tôn xưng là Lão sư, Trưởng lão, gọi nôm na là Ông Lão. Ngoài việc tu hành, các Ông Lão còn dạy chữ Nho và bốc thuốc trị bệnh cho người dân trong vùng. Từ một ngôi thảo am khiêm tốn do tu sĩ Nguyễn Văn Đức sáng lập (phần mộ ông vẫn còn ở sau chùa), Minh Tế tự ngày nay là một ngôi chùa khang trang trên đất cù lao do công của hai ông Đặng Xuân Dinh và Nguyễn Mẫn Miễn đứng ra trùng tu lớn vào năm 1928.

Ban đầu, các Ông Lão tu theo Tam giáo, sau theo dòng thiền Lâm Tế, truyền lại nhiều đời và hiện nay do các ni sư đảm trách. Chùa thu hút nhiều Phật tử và khách thập phương đến viếng.

Ở Bình Phước Xuân có ngôi chùa vừa được trùng tu khá nguy nga, đồ sộ với tượng Phật uy nghi trước chánh điện, giữa dãy cầu vồng nối liền các tòa tháp, đó là chùa Phước Thành. Chùa được Hòa thượng Thích Bửu Đức thành lập năm 1872, sau thời gian ông vân du vùng Bảy núi trở về Cù lao Giêng. Tương truyền, khi chùa xây xong có rất nhiều đàn chim từ Thất Sơn bay về mừng rỡ rợp một góc trời nên người dân gọi là chùa Chim. Đệ tử ngài Thích Bửu Đức là Hòa thượng Thích Huệ Tài kế tục đã hai lần trùng tu chùa vào các năm 1973, 2005 nên chùa ngày thêm khang trang, hoành tráng. Năm 2012, chùa xây tượng Phật trước chánh điện cao 39 mét, nổi bật trên nền trời cù lao xanh biếc. Chùa hiện nay được đông đảo khách hành hương, du lịch đến cúng viếng, chiêm bái.

Với hơn 30 cơ sở thờ tự lớn nhỏ dưới nhiều hình thức, Cù lao Giêng có lợi thế và tiềm năng rất lớn trong khai thác du lịch tâm linh. Hiện nay, có một số cơ sở được xếp hạng di tích, giới thiệu trên các phương tiện thông tin đại chúng và du khách gần xa đã biết đến. Bên cạnh, Cù lao Giêng còn là vùng đất trù phú, quanh năm xanh rờn cây trái, là nơi màu mỡ cho du lịch sinh thái, homstay phát triển. Nhất là hiện nay, 3 xã cù lao đang phát động trồng hàng ngàn hécta xoài 3 màu, là một lợi thế lớn để hấp dẫn du khách thích trải nghiệm đồng quê. Trên bờ dầy đặc vườn cây, dưới đồng đìa bàu kinh rạch nhiều tôm cá, Chợ Mới lại là cái nôi của đờn ca tài tử… đó quả là những yếu tố tuyệt vời để khách du lịch tìm về.

Đưa du khách đi thăm viếng các cơ sở thờ tự để tìm sự thanh tịnh cho tâm hồn, tạo đức tin vào cuộc sống ngày mai, hòa mình trong thiên nhiên đầy hương hoa trái hữu tình. Trải nghiệm đời sống nông thôn giữa vùng rau sống cá tươi với những người nông dân chân thành, hiếu khách. Đó chính là đặc sản du lịch độc đáo, hài hòa, hấp dẫn của vùng đất mang danh đệ nhất cù lao, Cù lao Giêng.

Trịnh Bửu Hoài
(Châu Đốc – An Giang)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM sô 607

Ý Kiến bạn đọc