Tản văn

Đề cương cho một bài giã từ

Thưa anh,
Nhà văn Trang Thế Hy vừa từ trần sáng sớm hôm nay, chắc anh đã biết.
Năm ngoái, tôi xuống thăm, ông Tư Sâm có đưa một bài viết mà ổng nói là viết hồi 1992 theo gợi ý của nhà thơ Nguyễn Chí Hiếu.
Cả ông Tư và tôi không nhớ bài này đã đăng trên tạp chí Văn chưa. Tôi đã nhờ người đánh máy lại (bản thảo nhiều chỗ mờ, đọc không rõ).
Dù bài đã đăng trên tạp chí Văn rồi, nhưng dịp vĩnh biệt ông Tư Sâm, cũng nên đăng lại, vì đây là một tư liệu quý.
Xin gửi anh tùy nghi sử dụng.
Cảm ơn anh.

Huỳnh Như Phương.

Trang-The-Hy-1
Nhà văn Trang Thế Hy.

Tôi đến Sài Gòn lần đầu tiên giữa mùa mưa năm 1937. Năm đó tôi 13 tuổi, học lớp nhì, năm thứ hai (moyen 2o année) cấp sơ đẳng tiểu học. Trong lần hội ngộ đầu tiên ấy, tôi chỉ biết có hai điểm rất nhỏ của cái thành phố lớn mà phương Tây đặt cho cái tên “Hòn ngọc Viễn Đông”. Một, là cái xóm nghèo gần ga xe điện Nancy (gần ngã tư Nguyễn Văn Cừ – Trần Hưng Đạo bây giờ), ở đó có nhà bà cô họ chuyên mua bán trái cây; hai, là vùng Cây Quéo (thuộc quận Bình Thạnh bây giờ), ở đó có nhà ông bác họ làm kế toán viên cho hãng bia và nước đá B.G.I. (Brasserie et Glacière de l’Indochine). Cha tôi ở nhà bà cô 3 ngày, nhà ông bác 2 ngày. Trong 3 ngày ở nhà bà cô, khả năng quan sát thô thiển của tôi ghi vào bộ nhớ hình ảnh những tia sáng xanh lè nẹt ra từ mấy cái cần kim loại hình vòng cung nối liền mạch điện của những sợi dây cao áp vào mô-tơ những chiếc xe điện chạy hai chiều trên đại lộ Grandière (Trần Hưng Đạo). Bên cạnh hình ảnh kỳ ảo lạ mắt đối với thằng con trai quê mùa 13 tuổi ấy là tiếng rền u u độc điệu gây buồn ngủ của nhà đèn Chợ Quán và bản nhạc đồng quê quen thân với nó từ thuở mới chào đời: cạch, cạch, cạch… ngắt ngang của giàn nhạc nhái bầu nhóc nhen dưới các vũng trồng rau muống chung quanh nhà. Trong 2 ngày ở nhà ông bác, cha con tôi được ông đãi một chầu bò nướng bánh đập Cây Quéo rất nổi tiếng.

Trở về nhà, khi má tôi phỏng vấn hai cha con tôi về cuộc “Ngũ nhựt Viễn Đông trân châu chi du”, ba tôi tuyên bố bò nướng bánh đập Cây Quéo ngon hơn nhiều so với bò nướng Tân Lý Tây cũng rất nổi tiếng ở Mỹ Tho. Phần tôi thì tôi nói hình ảnh còn đọng lại trong đầu tôi đậm nét nhứt là ông già nông dân đội nón lá buông rách te tua đứng tại mũi tàu Phú Lâm lúc ấy là một vùng đồng không mông quạnh, vung con nhái bầu móc vào lưỡi câu trước khi quăng nó ra thật xa trên thửa ruộng lúa mới cấy rồi kéo rê con mồi về phía bờ mẫu bằng cách nhấp nhấp cây cần câu dài gần bằng cây sào bẻ dừa mà ông ghì chặt vào đùi bằng một cái nạng giống như nạng giàn thun bắn chim. Theo cái đà nhấp đó, cục mồi nhái chết nhảy nhảy trên mặt nước y như một con nhái sống bẹo nhử bầy cá lóc. “Ở Sài Gòn người ta cũng biết câu rô nữa bà nội à”, tôi nói như vậy với bà nội tôi đang ngồi ngoáy trầu. Bà cười thỏa mãn: “Cái thằng nhỏ này học chừng vài năm nữa chắc là bỏ trường trở về cày ruộng rồi chừng về già cũng chết trên đồng ruộng như ông nội nó”.

Bà nội tôi đã đoán đúng về chuyện tôi bỏ học. Năm 1940, Nhựt Bổn trưng dụng Trường Trung học Mỹ Tho làm doanh trại quân đội. Phải qua bên kia sông Bảo Định học tạm ở một ngôi đình, tôi nản chí bỏ về nhà lúc chưa lên được năm thứ ba. Cha tôi nhìn diện mạo tôi, không tín nhiệm tôi về ruộng rẫy và động viên tôi lên Sài Gòn kiếm sống với mớ vốn chữ Tây viết ra không đầy một lá mít, nói theo cách nói của bà nội tôi khi bà chọc quê mấy ông bạn rượu của ông nội, uống chừng vài ly bày đặt “xổ nho” bị ông nội tôi bắt giò té nhào hoài.

Người bạn tôi gặp đầu tiên ở Sài Gòn năm 1941 là anh Ngãi, lớn hơn tôi 3 tuổi, học trên tôi 3 lớp, sau khi đậu Thành chung, lên Sài Gòn không phải để học tiếp thi Tú tài mà để theo một người cậu ruột thuộc nhóm hoạt động chánh trị thân Nhựt của bác sĩ Nhã. Lúc đó anh đang làm cộng tác viên của báo Tân Á, cơ quan tuyên truyền chủ nghĩa Đại Đông Á ở Việt Nam. Anh dắt tôi đi dạo vài nơi trong thành phố, cho tôi chứng kiến vài cảnh Nhựt ăn hiếp Tây, rượt đánh Tây chạy có cờ, hát cho tôi nghe bài hát Đại Đông Á chiến tranh hành khúc ca bằng tiếng Nhật, tặng tôi nhiều số tạp chí Hình ảnh nước Nhựt (Images du Japon), ấn bản Pháp ngữ. Một buổi tối, anh đưa tôi đi xem một phim Nhựt nói tiếng Pháp: Le coeur d’un père (Trái tim một người cha) đề cao hào quang của những chàng trai đi chết cho Thiên hoàng. Tôi còn nhớ vai nữ trong phim do minh tinh Hara Setsưko đóng. Trong rạp hát anh đưa cho tôi đọc một tờ bố cáo ngắn, khổ truyền đơn, trước đó được rải bằng máy bay tại khắp các miền nông thôn. Văn bản được in thành 4 thứ tiếng: Anh, Pháp, Việt, Hoa. Tôi còn nhớ mài mại bản Pháp ngữ như sau: “Le Japon a déclaré la guerre aux États Unis d’Amérique et au Royaume Uni des Iles Britaniques (Angleterre). Citoyens de toutes nationalités, soyez tranquilles. La victoire est à nous” (Nước Nhựt đã tuyên chiến với Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ và Vương quốc thống nhứt quần đảo Anh Cát Lợi. Công dân mọi quốc tịch, hãy bình tâm. Chiến thắng đang thuộc về chúng ta). Anh nói định đưa tôi vào binh chủng Hoiho (Hai hồ) tức lính thủy Việt Nam trực thuộc hải quân Nhựt. Tôi nói tôi không thích binh nghiệp. “Vậy thì để tao tìm cho mày một chỗ làm tập sự ở Hãng thông tấn Dourei, phân xã Sài Gòn!

Trong khi chờ đợi, tôi gặp một ông chú họ dạy toán ở trường Lê Bá Cang. Nghe tôi nói về lời hứa của anh Ngãi, chú tôi lắc đầu: “Ba thằng Nhựt lừa mày, nó cai trị còn ác nghiệt tổ mẹ hơn mấy thằng Tây mũi lõ nữa. Đừng có tin nó”. Rồi ông kể cho tôi nghe về vụ Nhựt tấn công và tiêu diệt đại bộ phận của hạm đội Mỹ ở Trân Châu Cảng trước khi tuyên chiến. “Bọn chó cắn lén đó sẽ thua trận giặc này”, chú tôi nói. Lời tiên đoán của ông chú gợi tôi nhớ đến lời tiên đoán của ông giáo sư dạy Pháp văn ở Trường Trung học Mỹ Tho. Hồi 1939, lúc Đức quốc xã mới thôn tính Tiệp Khắc và Ba Lan chứ chưa đánh Pháp, ông giáo sư nói về lời bình luận của một hãng thông tấn nào đó rằng Đức có thể và có thừa khả năng càn ngang qua chiến lũy Maginot của Pháp và ông cũng bình luận rằng “đó là sự điên rồ thứ thiệt” (C’est de la pure idiotie!). Rồi sau trận Dunkerque, khi quân đội Anh bỏ chạy để mặc cho quân đội Đức băm nhuyễn một bộ phận của quân đội Pháp, ông không bình luận nữa, chỉ ngao ngán lắc đầu và dặn dò chúng tôi: “Thôi, các em lo học hành đi, đừng thèm theo dõi thời cuộc nữa!”.

Vốn rất tối dạ về chánh trị, tôi tự hỏi: “Vậy là mình nên tin ai?”. Thôi, lo kiếm việc làm, thế sự xoay vần theo kiểu nào, thây kệ nó. Tôi tiếp tục cầm lá đơn xin việc, leo lốc cốc các thang lầu, mài mòn đế giày trên vỉa hè Sài Gòn cho đến mấy tháng sau mới được công ty C.F.T.I. (Công ty xe điện Đông Dương, Compagnie francaise des tramways de l’Indochine) nhận làm kiểm vé viên ở tuyến đường Sài Gòn – Chợ Lớn chạy trên đường Galliéni. Công việc nhọc nhằn mà lương không đủ sống. Sau mấy tháng vất vả, suýt gãy chân vì nhảy xe điện, tôi bỏ sở, bỏ luôn mấy chục bạc thế chưn nộp cho công ty, theo một người bạn khác lên vùng đất đỏ miền Đông tìm việc làm ở các đồn điền cao su. Người bạn nói: “Tây cao su nó dã man hơn Tây Sài Gòn nhưng ở đó mình sống dễ hơn với điều kiện ăn cay nuốt đắng giỏi, nghĩa là ngốn nhiều ớt hiểm rừng và ký-ninh để chống đỡ với sốt rét. Từ cuối 1941 đến tháng 6-1945, tôi làm trợ lý kế toán cho công ty S.I.P.H. Bến Củi Tây Ninh (Société Indochinoise des plantations d’hévéas). Lúc Nhựt sắp đầu hàng, tôi trở về quê nhà, đi ngang qua Sài Gòn, suýt bỏ mạng trong một cuộc oanh tạc của pháo đài bay B.29 Mỹ. Từ tháng 8-1945 đến tháng 7-54, tôi tham gia cuộc kháng chiến đánh Pháp.

Cuối năm 1956, tôi lại từ quê nhà trở lên Sài Gòn theo kế hoạch của lãnh đạo địa phương đưa những cán bộ bị truy lùng gắt gao đến những nơi khác tạo thế hợp pháp mới để tiếp tục hoạt động. Cuộc tái ngộ lần này với thành phố Sài Gòn kéo dài 6 năm (tính luôn 2 năm nằm khám). Ngày 20-3-1963, tôi lại rời Sài Gòn vào Củ Chi, căn cứ của đặc khu Sài Gòn – Gia Định. Tháng 4-1975, tôi lại trở về Sài Gòn và cuộc tái ngộ lần thứ 4 này kéo dài đến hôm nay, 1992.

Tính gộp lại, trong 68 năm tuổi đời, tôi là cư dân của thành phố Sài Gòn gần 25 năm gồm 4 giai đoạn: giai đoạn một, 5 ngày; giai đoạn hai, 8 tháng; giai đoạn ba, 6 năm; giai đoạn bốn, 17 năm (hơn nửa tiếng đồng hồ ngồi dưới hầm núp đường Hàm Nghi trốn bom của pháo đài bay B29 ngắn quá, thôi, không tính).

Một người từng kiếm sống bằng nhiều nghề không chuyên ba lăng nhăng trong đó có viết văn, trước khi biến thành tro bụi ắt phải có một số “cảm tưởng” để “phát biểu” về cái thành phố từng làm bạn với mình trong một phần tư thế kỷ. Vài người bạn nghĩ vậy và tôi cũng nghĩ vậy. Cho nên trong đầu tôi thỉnh thoảng lại hiện ra lờ mờ cái đề cương về một bài giã từ dài cỡ 20 ngàn chữ. Tôi có moi ra từ bình mực và ruột viết bi 20 ngàn chữ đó để bôi đen vài mươi trang giấy trắng hay không, chuyện đó phải đợi hồi sau phân giải.

Balzac chết, để lại 39 đề cương tiểu thuyết. Tôi nhớ như vậy và sẽ không có chút băn khoăn nào nếu tôi chết mang theo một số điều định viết nhưng không bao giờ viết kiểu như anh chàng Harry, nhân vật nhà văn trong Kilimanjaro của Ernest Hemingway.

Nhưng nhà thơ Nguyễn Chí Hiếu nói: “Anh viết cái đề cương để thành văn đi. Có khi tạp chí Văn dùng được”.

Vậy là từ bình mực tuôn ra những gì bạn vừa đọc. 

1992

Trang Thế Hy
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 384

Ý Kiến bạn đọc