Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Dạy giao tiếp trong môn Ngữ văn

Việc xây dựng chương trình, thay sách giáo khoa mới đang được xúc tiến khẩn trương. Có rất nhiều quan điểm mới trong việc dạy các bộ môn, trong đó có môn Ngữ văn được nghiên cứu trình bày. Chúng tôi đã tìm đọc cuốn “Dạy môn Ngữ văn ở trường phổ thông” do một nhóm các nhà nghiên cứu chỉ đạo cấp bộ biên soạn (1). Bài này xin góp ý kiến về một vấn đề phương pháp dạy học môn Tiếng Việt – Ngữ văn. Đó là phương pháp giao tiếp.

Tác giả (2) đã đi từ chỗ phê phán quan niệm và thực tiễn việc dạy ngoại ngữ và tiếng mẹ đẻ trước kia đến trình bày sự chuyển biến của việc dạy ngoại ngữ và bản ngữ bằng phương pháp giao tiếp trên thế giới và trong nước ta. Về bản thân phương pháp này, tác giả xuất phát từ ba chức năng của hoạt động giao tiếp là thông báo – biểu cảm – tác động. Tác giả nhận định chức năng “thông báo” gắn với hoạt động tìm kiếm thông tin còn hai chức năng sau gắn với hoạt động tương tác xã hội. Từ đó tác giả đề ra hai nhóm biện pháp dạy học có ý nghĩa gắn với hai hoạt động trên. Cụ thể là các biện pháp Điền khuyết thông tin, thu thập thông tin, chuyển đổi thông tin, xử lý thông tin (ở nhóm 1) và trò chơi, đóng vai, thuyết trình, tranh luận (ở nhóm 2).

Từ sự trình bày, giới thiệu đó, ta thấy có sự không rõ ràng trong nhận thức về hoạt động giao tiếp. Hoạt động giao tiếp là hoạt động có mục đích của hai hoặc nhiều đối tượng. Nó được thực hiện theo một nội dung và bị chi phối bởi mối quan hệ nhiều mặt của hai bên cũng như hoàn cảnh giao tiếp. Ngay mấy cái “chức năng” của hoạt động giao tiếp, tác giả hiểu cũng chưa đúng. Ba cái chức năng nêu ra là để thực hiện mục đích ở người nói. Còn những cái mà tác giả tưởng “gắn” với nó lại là ở phía người nghe! Điều đó không thể không phân biệt khi giảng giải bàn luận về giao tiếp ngôn ngữ và dạy giao tiếp. Phải dạy cả hai bên, mà có lẽ trọng tâm phải nghiêng về dạy người nói (3).

ngu-van-10-t1 fix.pngngu-van-11-t1 fix.png

Điều quan trọng hơn theo chúng tôi còn ở cái quan niệm hẹp của các tác giả này. Thực ra phải nói dạy giao tiếp là một nguyên lý, nó phải trở thành nguyên tắc chi phối toàn bộ việc đào tạo năng lực sử dụng ngôn ngữ cho học sinh với nhiều phương pháp dạy học các phân môn của môn học gọi chung là Ngữ văn, không thể quan niệm hẹp như thế.

Như đã nói, giao tiếp ngôn ngữ là một hoạt động có nhiều yếu tố phải quan tâm. Phải dạy trẻ biết mình đang giao tiếp với ai, có quan hệ với mình như thế nào về địa vị (bậc trên, bậc dưới…) và cả sự quan tâm của người đó với nội dung giao tiếp. Lại phải biết mình đang giao tiếp trong hoàn cảnh thế nào (ở trường lớp, trong buổi lễ lạt hay lúc bè bạn thân mật xô bồ…). Phải hiểu những điều đó mới tiến tới chỗ có thể có “chiến lược giao tiếp” phù hợp. Xử lý không đúng với những yếu tố đó, giao tiếp sao có thể đạt hiệu quả mong muốn. Những điều đó môn Ngữ dụng học trong ngôn ngữ học đã chỉ ra và nhiều kiến thức đã đưa vào trường phổ thông. Mà thực ra đó cũng là điều xã hội đã dạy trẻ ít nhiều rồi. Có điều dạy nó như thế nào với từng cấp, từng lớp cho phù hợp thì phải có sự đầu tư nghiên cứu.

Chúng tôi quan niệm dạy giao tiếp là một nguyên lý và thành nguyên tắc. Nguyên tắc này phải được quán triệt trong toàn bộ hoạt động dạy và học môn Ngữ văn. Bởi vì cái đích của môn này là trang bị kiến thức Ngữ và Văn để tạo ra năng lực Làm cho trẻ. Đó là năng lực sử dụng ngôn ngữ cả về bốn mặt Đọc, Nghe, Nói, Viết để tư duy giao tiếp. Cái gọi là năng lực Văn với trẻ phổ thông chỉ là biết giao tiếp (đọc, tiếp nhận) các tác phẩm văn chương (cũng như các văn bản khác) đúng cách, để có được cảm nhận thông thường của một bạn đọc trung bình, chứ không thể ở trình độ của các chuyên gia. Còn viết “văn” thì cũng chỉ là viết được những “văn bản” thông thường, không đòi hỏi văn chương, văn nghệ gì cao siêu lắm.

Nguyên tắc này phải quán triệt trong môn học Dạy Đọc Văn, nay gọi là dạy Đọc – hiểu. Phải quan niệm như quan niệm dạy “tích hợp” hiện nay (và cũng là cách dạy thực hành) mà “Quốc văn giáo khoa thư” cũng đã làm. Đó là nêu ra một cái mẫu để trẻ học giao tiếp. Bởi vì các bài văn nói cho cùng đều là sản phẩm giao tiếp cả. Từ các cái mẫu chọn khéo, học sinh sẽ tìm hiểu (chứ không phải sao chép như quen nghĩ!) để học được cách giao tiếp về nhiều mặt. Trẻ sẽ biết dùng từ, đặt câu sao cho đúng yêu cầu giao tiếp và làm các dạng bài tập phù hợp theo cái mẫu được học đó. Tất nhiên các bài văn để tập đọc, để Đọc – hiểu cũng phải đối chiếu với yêu cầu giao tiếp mà chọn. Những bài nói với trẻ nhỏ có nội dung, cách nói khác nói với người lớn (4)… Muốn dạy người ta làm bài giải thích hay chứng minh, bình luận gì đó thì trước hết cũng phải chọn bài kiểu đó nói về vấn đề phù hợp với người học để từ chỗ hiểu vấn đề, học sinh mới có thể hiểu cách giảng giải, cách chứng minh… theo cái mẫu đó mà học làm theo. Nhiều bài viết chỉ dựa vào tiếng tăm của tác giả và khả năng giao tiếp của người soạn sách để chọn tất sẽ khó mà đạt mục đích, khó mà dạy và học nổi! Có thể tìm được nhiều bài văn ở nhiều cuốn sách giáo khoa mà nội dung trong đó quá tầm hoặc xa lạ với trẻ về nhiều thứ. Cái kiểu dạy trẻ nhỏ như Tam Tự Kinh không phải là mẫu mực đáng ca tụng. Trẻ sẽ thuộc vẹt những triết lý kiểu “Nhân chi sơ – tính bản thiện” – những thứ đến người lớn còn đau đầu, trẻ hiểu sao được!

Dạy Tập làm văn cũng phải quán triệt nguyên tắc này. Dạy trẻ nghị luận sao không dạy trẻ các kiểu bài nghị luận khác nhau như Chứng minh, Giải thích, Bình luận? Nói với người chưa tin, khác nói với người chưa hiểu chứ.

1044__2917-slide1 fix.png

Đối với việc dạy các kỹ năng khác cũng vậy. Dạy ngôn ngữ giao tiếp không phải chỉ là dạy ngôn ngữ viết mà phải dạy cả ngôn ngữ nói qua những bài tập làm văn nói, những hình thức thảo luận tranh luận, những câu trả lời kiểm tra miệng hay tham gia phân tích… ở các giờ dạy đọc – hiểu. Ngôn ngữ nói đời thường cũng cần phải học trong nhà trường chứ không phải như nhà nghiên cứu Ngữ văn nào đó nhiều lần dè bỉu: “Nói thì ai cần phải học mà mở trường dạy”! Ngôn ngữ nói không phải hoàn toàn là khẩu ngữ. Thứ ngôn ngữ giao tiếp cần dạy và học ở nhà trường là thứ ngôn ngữ văn hóa, vẫn là ngôn ngữ đời thường đó nhưng đã được chắt lọc, loại bỏ yếu tố phi văn hóa. Thứ ngôn ngữ nói này vẫn là ngôn ngữ tự nhiên nhưng vẫn có các yếu tố nghệ thuật (gọi là “chất thơ”). Đó là những biện pháp so sánh, ẩn dụ, nhân hóa… những trò chơi chữ đồng âm, gần nghĩa… cả những khai thác tinh tế về nghĩa rộng nghĩa hẹp… cả những cách diễn đạt đầy ẩn ý. Những tinh hoa ngôn ngữ ấy trong ngôn ngữ tự nhiên cần được dạy và học chu đáo theo một chương trình xây dựng khoa học. Có như thế mới đào tạo được năng lực sử dụng ngôn ngữ đọc – nghe – nói – viết đúng tầm đòi hỏi ở từng cấp, từng lớp. Và sâu sắc hơn, từ cái nền móng ấy, những cảm thức bản ngữ tinh tế cũng được hình thành, tình yêu tiếng mẹ đẻ được nảy nở, củng cố. Không phải chỉ học văn chương mới biết đến nghệ thuật ngôn từ! Rất có thể có những đối đáp tinh tế sắc sảo được nghe, được thuật lại còn để lại ấn tượng sâu sắc hơn!

Đến đây xin nói thêm một số điều về việc dạy phần Ngữ (Tiếng Việt) theo nghĩa hẹp là dạy từ ngữ, ngữ pháp. Theo giới thiệu của PGS.TS Nguyễn Trí, chương trình dạy tiếng mẹ đẻ của Pháp có nêu quan điểm sau đây:

Tiếng Pháp với tư cách là một môn học mang tính lưỡng phân: Một mặt nó cung cấp cho học sinh phương tiện để tư duy có tổ chức, chủ động sáng tạo phương tiện giao tiếp. Mặt khác, nó là đối tượng để chiếm lĩnh trong quá trình học tập và rèn luyện.

Có thể hiểu nôm na thế này: môn học này giúp trẻ biết sử dụng tiếng Pháp giỏi hơn, và mặt khác nó giúp trẻ hiểu rõ về tiếng Pháp hơn. Trẻ Pháp đã biết sử dụng tiếng Pháp rồi nhưng phải học thêm nhiều từ ngữ, cách diễn đạt… mới sử dụng giỏi được. Mặt khác, chúng cũng chưa có các kiến thức ngôn ngữ học về tiếng Pháp thì phải dạy chúng nắm vững để sử dụng tiếng Pháp đúng mẹo luật hơn!

Hai cái chức năng ấy có thể nói là cần thực hiện với việc dạy các thứ tiếng mẹ đẻ. Vì trẻ bản ngữ nào khi vào nhà trường cũng đều đã có vốn ngôn ngữ cơ bản, có thể nói trôi chảy tiếng mẹ đẻ thật. Nhưng vốn đó còn nghèo nàn với một khối từ ngữ chủ yếu trong đời thường, mà cũng chưa đầy đủ, chúng thiếu nhiều từ trong các lĩnh vực đời sống, các từ địa phương phổ biến, các từ của các nhóm ngôn ngữ cần biết (tiếng lóng, thuật ngữ…), các loại nghĩa và cách biến hóa nghĩa trong sử dụng… Chúng cũng thiếu nhiều hiểu biết về cách kết hợp tạo ngữ, tạo câu, tạo lời, tạo ngôn bản hay văn bản. Những thứ đó trẻ vẫn tiếp tục học theo cách tự nhiên trong đời sống, nhưng học ở nhà trường với sự đơn giản hóa, chọn lọc và tập trung trẻ sẽ được cung cấp hiệu quả hơn. Có vấn đề chọn lựa con đường và cái đích cung cấp khác nhau. Thực hiện trong sự hành chức của các đơn vị (trong giao tiếp) hay chạy theo số lượng đơn lẻ (học từ điển, chỉ học trong giờ “vocabulaire”, giờ “grammaire” tức giờ từ ngữ, ngữ pháp)? Theo phương pháp thực hành hay đọc chép các phương tiện rời rạc? Sự tích hợp nhiều công dụng như dạy Văn, Văn hóa hướng tới cách sử dụng “đa ngành” cần cho đời sống hay chỉ coi trọng sử dụng trong văn chương với hệ thống thuật ngữ về kỹ thuật thẩm bình nghệ thuật ngôn từ…?

Về mặt thứ hai, coi môn học là đối tượng chiếm lĩnh trong quá trình học tập và rèn luyện. Có vấn đề học sinh phải chiếm lĩnh thứ “đối tượng” này như thế nào, ở mức độ nào?
Vấn đề kiến thức bộ môn (ngôn ngữ học) cần được học ở môn tiếng Việt ta phải giải quyết như thế nào? Với trẻ bản ngữ, với người phổ thông tương lai, không thể “chiếm lĩnh” những đối tượng kiến thức kiểu bác học, hàn lâm. Trẻ phải được chuẩn bị thành người phổ thông làm đủ mọi nghề, không phải chỉ chuẩn bị làm các nhà chuyên môn trong ngành ngôn ngữ học hay nghiên cứu, giảng dạy, sáng tác văn chương! Phải đi theo hướng phục vụ cái “Làm” của mọi người Việt phổ thông. Chỉ cần dạy họ “chiếm lĩnh” những kiến thức cần cho “làm”, có thể soi sáng cho những gì đã biết trong kinh nghiệm, đã làm trong thực tế. Sao lại đòi trẻ “tự phá đi cái ảo tưởng đã biết về bản ngữ, coi nó như thứ xa lạ, đầy “bí hiểm” mà đi vào khám phá ra tất cả các bí mật ở các hệ thống lớn, hệ thống con theo tầng bậc từ âm vị qua từ, ngữ, câu…” như khi học ngoại ngữ? (5). Tất cả những lý thuyết chọn lọc cho vừa sức đó cần được dạy theo yêu cầu dạy người bản ngữ. Nghĩa là phải khai thác “vốn ngôn ngữ” của trẻ, dùng kiến thức ngôn ngữ học soi rọi vào kinh nghiệm đó để trẻ nhận ra cái đúng, cái sai mà cắt nghĩa và chỉnh sửa kinh nghiệm của mình. Lại phải rất coi trọng việc sử dụng ngôn từ phù hợp với trình độ của trẻ và yêu cầu phổ thông! Nghĩa là cần “phổ thông hóa” các thuật ngữ và cách diễn đạt kiến thức! Lấy chuyện học ghi âm ở lớp Một để xét, “Khoa học” quá trong ghi âm sao được. Trẻ làm sao có thể “chiếm lĩnh” được các kiến thức về hoạt động “cấu âm” từ các cái “đơn vị nhỏ nhất” là âm vị để ghi đúng được các âm tiết cần ghi! Dạy và học tiếng Việt hơn nửa thế kỷ như chúng tôi mà vẫn lúng túng khi viết các từ có I ngắn I dài hay d và gi! (6).

Vẫn phải trở lại vấn đề nữa phải đặt ra khi bàn đến hai cái nhiệm vụ ở môn học này. Đó là phương pháp dạy trẻ, hoặc nói đúng hơn là phương thức thực hiện. Chúng tôi đề nghị làm như nhiều nước là đi theo con đường thực hành. Đó là con đường tạo năng lực làm, giống kiểu truyền nghề. Qui trình của nó gồm các công đoạn:
- Đưa ra một cái mẫu (có thể là “làm mẫu”).

- Phân tích mẫu theo yêu cầu (từ sơ lược đến chi tiết qua các bước).

- Thực hành từ dễ đến khó (lắp ráp, tự tạo vật liệu, cải biên…).

Đó là con đường học ngôn ngữ một cách tự nhiên trong đời sống. Và các nhà trường thường làm theo. Việc đọc các văn bản thực ra là “xem một cái mẫu” (nhà văn dùng ngôn ngữ giỏi mà). Thầy giảng từ ngữ, cách dùng có biến hóa ở bài như thế nào, kết hợp từ ngữ, câu cú, đoạn mạch ra sao, theo “thi pháp thể loại” là thế nào… Trò hiểu được “lý thuyết” rồi thì làm các bài tập, tùy yêu cầu học tập, rèn luyện… Tất nhiên cùng việc học “ngữ” đó, ta còn “tích hợp” dạy học “văn” – từ cách quan sát, cảm xúc, cách tạo ra những rung động thẩm mĩ nhân văn trước thiên nhiên, cuộc sống con người, đến cách thể hiện tình cảm đúng “kỹ thuật” mà nghệ thuật văn chương đòi hỏi. Đương nhiên học thế sẽ biết cách “đọc văn”!

Trong tình hình đòi hỏi, việc thay đổi chương trình, biên soạn lại sách giáo khoa môn Ngữ văn đang đặt ra cấp bách, có nhiều quan điểm trong ngoài nước được đưa ra, việc tìm hiểu và trao đổi để đi tới được những gì là khoa học là điều rất cần thiết. Nghĩ như vậy, không ngại hiểu biết hạn hẹp của mình, chúng tôi xin nêu ra một số ý. Mong có sự quan tâm chung.

Minh Xuân
(Q. Ba Đình, Hà Nội)

———————————-
(1) Hoàng Hòa Bình chủ biên, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012.
(2) Phần này, tác giả gần như lặp lại nội dung GS.TS Nguyễn Minh Thuyết viết trong sách “Phương pháp dạy học Tiếng Việt nhìn từ Tiểu học” (NXB Giáo dục, 2012).
(3) Với giáo viên, cũng nên biết đến sự phân tích 6 thành phần chức năng trong ngôn ngữ giao tiếp. Ngoài 3 chức năng đã được tác giả trong sách nêu ra, còn có các thành phần khác: kiểm tra đường liên lạc – siêu ngôn ngữ, nói về ngôn ngữ đang nói – chất thơ.
(4) Không lạ gì, trước kia ở Quốc văn giáo khoa thư hay Phổ thông độc bản cho lớp Đồng ấu (tương đương 1-2 ngày nay), các nhà giáo như Nguyễn Văn Ngọc phải tự viết các bài chừng 60-70 chữ, cuối năm mới 80 chữ, nội dung có ngụ một ý tưởng có lợi cho trẻ nhưng chưa có gì là sâu xa đến nỗi phải giảng giải nhiều vì óc trẻ 6-7 tuổi còn non nớt (ghi ý “Lời nói đầu” của N.V.Ngọc).
(5), (6) Chủ trương của nhóm Cánh Buồm, dạy tiếng Việt như nghiên cứu khoa học ngôn ngữ về tiếng Việt từ ngữ âm, từ vựng, tới cấu trúc câu…

Ý Kiến bạn đọc