Thầy thuốc Văn nghệ

Đau mắt hột

Đau mắt hột là một bệnh nhiễm khuẩn ảnh hưởng đến mắt. Bệnh dễ lây lan qua tiếp xúc với mắt, mũi hay cổ họng của người bệnh. Lúc đầu, bệnh đau mắt hột gây ngứa nhẹ và kích ứng mắt. Sau đó, mí mắt sưng và mủ chảy ra từ mắt. Bệnh không điều trị dẫn đến mù lòa. Đau mắt hột là nguyên nhân gây mù lòa hàng đầu trên toàn thế giới. Tổ chức Y tế Thế giới ước tính rằng có 6 triệu người bị mù lòa do bệnh đau mắt hột. Hầu hết bệnh xảy ra ở những vùng nghèo của châu Phi.

Các dấu hiệu của bệnh đau mắt hột thường ảnh hưởng đến cả hai mắt bao gồm ngứa nhẹ và kích ứng mắt, mắt chứa chất nhầy hay mủ, mí mắt sưng, sợ ánh sáng.

Giai đoạn nhiễm trùng mới chỉ bắt đầu, có nhiều mụn nhỏ chứa tế bào lympho ở mí mắt trên. Giai đoạn viêm cường độ cao, mắt trở nên khó chịu, sưng mí mắt trên.

Giai đoạn làm sẹo mí mắt do nhiễm trùng lặp đi lặp lại, mí mắt bị bóp méo và quặp vào trong.

So-512--Anh-minh-hoa---Thay-thuoc-van-nghe---Dau-mat-hot---Anh-1

Lông mi mọc ngược do mí mắt biến dạng, lông mi quay vào trong làm trầy xước giác mạc. Viêm liên tục dẫn đến đục giác mạc.

Ngoài ra, các tuyến bôi trơn bao gồm tuyến lệ bị ảnh hưởng dẫn đến khô mắt.

Các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh đau mắt hột bao gồm tình trạng nghèo nàn, tình trạng vệ sinh kém, ruồi phát triển nhiều.

Nhiễm trùng lặp lại hay thứ phát dẫn đến biến chứng bao gồm sẹo mi mắt, mi mắt lộn ngược hay lông mi mọc ngược, sẹo giác mạc hay đục giác mạc, mất thị lực một phần hay toàn bộ.

Nếu đã điều trị bệnh đau mắt hột bằng thuốc kháng sinh hay phẫu thuật, việc tái nhiễm luôn là mối quan tâm hàng đầu. Hãy chắc chắn rằng các thành viên gia đình cùng được sàng lọc và điều trị bệnh đau mắt hột.

Khi ở những vùng có bệnh đau mắt hột, hãy thực hành vệ sinh tốt giúp ngăn ngừa nhiễm trùng. Thực hành vệ sinh bao gồm rửa mặt và rửa tay, kiểm soát ruồi, quản lý chất thải phù hợp, cải thiện nguồn nước. Không có vaccin bệnh đau mắt hột nhưng có thể phòng ngừa được. Tổ chức Y tế Thế giới đã phát triển một chiến lược để ngăn chặn bệnh đau mắt hột với mục tiêu loại bỏ nó vào năm 2020. Chiến lược bao gồm phẫu thuật điều trị các dạng tiến triển, kháng sinh điều trị và ngăn ngừa nhiễm trùng, đặc biệt là quản lý nước, vệ sinh và kiểm soát ruồi.

Thầy thuốc chẩn đoán bệnh đau mắt hột qua khám sức khỏe hay gửi mẫu vi khuẩn từ mắt đến phòng thí nghiệm. Tuy nhiên, các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm không phải lúc nào cũng có sẵn. Lựa chọn điều trị phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh. Trong giai đoạn đầu của bệnh đau mắt hột, việc điều trị bằng kháng sinh đơn thuần là đủ để loại bỏ nhiễm trùng. Thầy thuốc kê đơn thuốc mỡ mắt tetracyclin hay azithromycin uống. Azithromycin có vẻ hiệu quả hơn tetracyclin nhưng đắt hơn. Tổ chức Y tế Thế giới khuyến nghị sử dụng thuốc kháng sinh cho toàn bộ cộng đồng khi hơn 10% trẻ em bị ảnh hưởng bởi bệnh đau mắt hột. Điều trị các giai đoạn sau của bệnh đau mắt hột bao gồm dị dạng mí mắt cần đến phẫu thuật. Trong phẫu thuật mí mắt lộn trong, thầy thuốc rạch trong sẹo và xoay lông mi ra ngoài giác mạc. Nếu đục giác mạc quá nặng, cấy ghép giác mạc là một lựa chọn để cải thiện thị lực. Tuy nhiên với bệnh đau mắt hột, thủ tục này không luôn luôn có kết quả tốt. Có một thủ tục để loại bỏ lông mi trong một số trường hợp. Thủ tục này có thể cần phải được thực hiện nhiều lần.

Bs Đào Ty Tách
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 512

Ý Kiến bạn đọc