Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Dâu bể trên non

Lên vùng cao tất nhiên gặp nhiều người “dân tộc”. Đồng thời cũng gặp vô số người Kinh. Bây giờ thì thế là bình thường quá, nhưng thực ra mới cách đây chưa lâu trên ấy coi như không có người Kinh.

Chúng tôi vừa có dịp lên thăm Tây Bắc. Đi về, chợt nảy ý thử ôn lại nhanh cuộc “dâu bể trên non” ở miền Bắc nước ta.

*

Nam Cao theo kháng chiến lên rừng, đi “Trên những con đường Việt Bắc”, rồi trầm trồ: “Ngày xưa, mới nghe nói đến mạn ngược là đã thấy một cái gì bí mật, ghê gớm. Thổ, Mán, Mèo là những giống người gì khác hẳn chúng ta, chỉ nhắc tên đã khiến chúng ta sờ sợ. Một phần nữa, các con đường mà anh thấy tấp nập bây giờ, ngày xưa vắng ngắt. Năm chừng mười họa mới có người đi bộ (…) Ngày xưa đi qua các con đường mạn ngược, rợn lắm (…) Cách mạng đã đổi hẳn bộ mặt nước mình (…) (Người miền xuôi) không còn sợ núi rừng (…) Vẫn đóng khung trong những biên giới cũ, lãnh thổ Việt Nam có vẻ như mở rộng. Trước mắt chúng ta cả một vùng rừng núi mênh mông không còn phải là chỗ ma thiêng nước độc”.

Nho-mot-chieu-Tay-Bac---Phan-Ke-An
Nhớ một chiều Tây Bắc (1955) – Sơn mài – HS Phan Kế An

“Ngày xưa” đây chẳng xưa mấy đâu. Đại khái là chỉ mới trước khi Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước lãnh đạo kháng chiến (đầu năm 1941). Muốn biết nó ra sao, cứ giở những sách truyện đường rừng của Thế Lữ, Tchya, Lan Khai… ra mà đọc.

“Vẫn (…) biên giới cũ (…) (lại) có vẻ như mở rộng”, ấy không phải chỉ bởi rừng núi bây giờ đông “chúng ta”, mà còn bởi “chúng ta” bây giờ gặp đồng bào ở rừng núi thấy sao xiết nỗi thân tình.

Cái tình thân mới mẻ này không hề xảy ra tự nhiên đâu! Nó là thành quả rực rỡ của một nỗ lực tranh thủ các dân tộc ít người vùng cao do Hồ Chủ tịch trực tiếp chỉ đạo.

*

Cần nói ngay rằng giặc Pháp đã không hề khoanh tay ngồi nhìn anh em ta “Nối Vòng Tay Lớn”, mà vừa đem quân đi “xóa” những nơi có nhiều dân theo kháng chiến, vừa cũng cố “nối” với một số ít kẻ xấu giữa đông đảo đồng bào dân tộc.

Trong hồi ký Từ nhân dân mà ra, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhắc đến tình hình ở Cao – Bắc – Lạng năm 1943: “Cuộc khủng bố lan rất nhanh (…) địch (…) kết hợp dụ dỗ với đàn áp dữ dội (…) Quang cảnh điêu tàn hiện ra trên khắp dọc đường (…) địch (…) tàn khốc (…) bêu đầu những người cách mạng”.

Trong hồi ký Chiến đấu trong vòng vây, Đại tướng kể chuyện Tây Bắc đầu năm 1948: “Lai Châu là tỉnh duy nhất ta chưa lập được chính quyền trong Cách mạng tháng Tám (…) Quân Pháp đã tạo ra cái gọi là khu tự trị Thái, bình định ráo riết, xây dựng một hệ thống đồn bốt dày đặc (…) Liên khu báo cáo bốn đội vũ trang xung phong tuyên truyền (…) đã được tổ chức xong, sẵn sàng lên đường (…) Nhiệm vụ của cán bộ, chiến sĩ ta lần này rất nặng. Họ sẽ phải vượt hàng trăm ki-lô-mét đường toàn là vùng trắng, quân địch kiểm soát chặt chẽ. Những ngày dài gian khổ, hiểm nghèo, bệnh tật, đói rét đang chờ họ (…) Trong không khí xúc động đưa tiễn anh em lên đường thực hiện một nhiệm vụ rất khó khăn, tôi ứng khẩu đọc tặng anh em mấy câu thơ: Sông Đà, sông Mã uốn dòng / Ghềnh rêu thác bạc ghi công anh hào / Con vàn tung cánh bay cao / Ngọn cờ chỉ hướng, ngôi sao dẫn đường” (Đại tướng hiếm khi làm thơ!)

Câu chuyện của những “anh hào”, về sau Nguyễn Tuân nhắc lại đầy cảm khái: “Đi trên con đường (…) qua Châu Mộc, Châu Yên, Châu Thuận, Mường La, Mường Muội, Mường Mùn, Mường Lay mà rủi quên đi cái dĩ vãng phức tạp của cuộc sống hai bên trục đường (…) là một thiếu sót nó hạn giới tấm lòng cảm thông của mình với cảnh và người trước mắt (…) Cán bộ gây cơ sở địch hậu Tây Bắc hồi ấy chỉ đem theo trên người một cái bật lửa, một cái thuổng đào củ mài và một tấm lòng. Rạch bẹ chuối rừng ra hứng lấy từng giọt mà uống, ngắt lấy búp cỏ gianh mà nhai cho đỡ đói đỡ khát; nằm trong hang đá mà khát mà đói mà thèm muối, nhìn đá lấp lánh trong hang mà mơ đến những tảng những hòn muối mỏ. Muối thời chiếm đóng là vàng trắng. Giặc Pháp đã đem cái vàng trắng ấy ra mà dụ dỗ bọn tham bọn xấu. Cũng đã có những đứa ham mấy bơ muối mà cắt đầu anh cán bộ đem nộp cho Tây. Cán bộ địch hậu hồi ấy nhớ muối và thèm đi trên đường cái quan. Có đồng chí mải mê nhen lửa trong lòng nhân dân Tây Bắc để Cách mạng sớm bùng ngọn khắp nơi, mong Tây Bắc mà giải phóng rồi, thì cái nguyện vọng đầu tiên và cũng giản đơn của anh lúc ấy sẽ là được nhảy ngay xuống con đường trục mà chạy suông một đoạn giữa mặt đường thênh thang chói chang ánh sáng tự do, cười nói cử động thừa thãi với cái tư thế của một người làm chủ đất nước mình”! (“Đường lên tây Tây Bắc”).

*

Anh-minh--hoa-3

Bất chấp mọi nỗ lực “cắt” của thực dân và tay sai, nhờ công tác tuyên truyền được Đảng chỉ đạo đúng đắn, tổ chức hợp lý, và nhờ tác phong gương mẫu của các cán bộ làm nhiệm vụ, Vòng Tay Lớn vẫn cứ mỗi ngày Nối chặt thêm, dẫn đến những biểu hiện đoàn kết hết sức ấn tượng.

Trong “Việt Bắc”, Tố Hữu say sưa: “Những đường Việt Bắc của ta / Ðêm đêm rầm rập như là đất rung / Quân đi điệp điệp trùng trùng / Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan / Dân công đỏ đuốc từng đoàn / Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay”.

Trong “Vui dân công”, Nam Cao kể cho ta nghe cụ thể: “Đàn ông, con trai Cao Bằng đi bộ đội, đi công tác rất nhiều. Vì vậy trong các đoàn dân công, phụ nữ đông gấp mấy đàn ông (…) Luôn sáu tháng rồi, nhân dân Cao Bằng hết lớp này đến lớp kia, đi sửa đường, đắp thêm đường, tham gia các công việc vận tải, tiếp tế, cứu thương. Nhưng người dân Cao Bằng không tỏ ra mệt mỏi một chút nào. Họ đi dân công vui vẻ như đi hội (…) Trận mưa chưa ngớt hẳn chúng tôi đã thấy những người Nùng, Thổ, Mán, đàn bà lẫn đàn ông, áo chàm đẫm nước mưa, quần xắn đến đùi, người gánh, người khiêng, xình xịch chạy qua (…) Hàng không biết bao nhiêu người khiêng gánh – nhiều như mối sau một trận mưa rào – từ trên đồi đổ xuống, tỏa ra ở trên dốc thành hai, ba dòng uốn éo. Những dòng người như chạy thi với những dòng nước cũng đang lao xuống dốc (…) Đến lưng chừng đèo, chỉ còn một lối đi, những dòng người chập lại nhau. Cả một thác người đổ xuống”.

Đồng bào miền núi không những lao động chiến dịch đặc biệt hăng say, mà còn tỏ ra có một cảm tình nồng nàn, đằm thắm đối với tất cả những người Kinh lên kháng chiến: “Một chị thấy chúng tôi ngừng lại để nhường đường (…) chào chúng tôi bằng một giọng dịu dàng (…) nghe như lời thân mến của một em gái. Chúng tôi thấy lòng ấm quá. Chưa bao giờ tôi thấy tình đồng bào, đồng chí (…) thấm dịu lòng như lúc ấy. Gia đình thật!”. “Gia đình thật” nữa đây: “Đơn vị chúng tôi cũng có nửa tiểu đội dân công toàn phụ nữ đi theo. Một buổi chiều, gạo chưa đem tới kịp, chúng tôi bàn nhau: tất cả anh em đều nhịn, ai còn sót được chút gạo nào, dồn cả lại, nhường cho các chị dân công. Các chị lẳng lặng lĩnh gạo đi ra suối, chẳng nói gì. Nhưng hơn một giờ sau, một chị về gọi chúng tôi: “Các anh đi ăn cháo”. “Mời các chị. Gạo về, chúng tôi sẽ ăn sau. Sao các chị không thổi cơm ăn?”. “Nấu cháo thôi, nhiều lắm, các anh đến cùng ăn”. “Chúng tôi chẳng ăn đâu”. “Ăn chứ! Có cơm cùng ăn cơm, có cháo cùng ăn cháo, các anh nhịn, chúng tôi không ăn vớ!”!

“Gia đình thật” tất nhiên phải có tình mẹ con: “Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc / Năm con đau, mế thức một mùa dài / Con với mế không phải hòn máu cắt / Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi” (Chế Lan Viên, “Tiếng hát con tàu”).

Tình nghĩa cực kỳ sâu đậm ơi, biết trả sao đây cho vừa?

*

Sau ngày súng ngừng nổ ở Điện Biên Phủ, nhà nước ta đã vừa giữ nhiều đơn vị quân đội ở lại vùng rừng núi phía bắc, vừa tổ chức đưa người một số tỉnh châu thổ lên các “khu kinh tế mới”. Quân và dân cũ dân mới cùng nhau trồng lúa làm đường làm cầu… Giặc đã hoàn toàn vắng bóng, thế mà trên vùng cao lại “rền vang tiếng mìn” và lô nhô “những cột khói mìn” (1). Mìn phá đá đấy. Đá của những sơn hệ lô nhô như sóng biển kín cả chân trời! Làm đường trên núi đá có giống như đánh cứ điểm. “Tiền pháo” xong, ta “hậu xung”. Rừng cuốc xẻng ồ ạt xung phong, giơ lên, bổ xuống, xúc, đổ…, thanh niên cứ gọi là tha hồ thi đua làm dũng sĩ, làm anh hùng lao động, nhưng cũng chỉ mới là bước thứ nhất thôi, để hoàn thành một đoạn đường còn muôn vàn khó khăn vất vả, nhất là nếu phải xây vài chiếc cầu. Quang cảnh “chiến trường thời bình” gợi nơi Nguyễn Tuân nhiều cảm giác cảm xúc độc đáo đến nỗi đã ra đời “Một bài thơ đường” văn xuôi. Ờ nhỉ, đã có bao nhiêu thơ giá trị chưng cất từ sông máu giành độc lập, sao lại không có được thứ thơ giá trị nấu bằng bể mồ hôi xây dựng quê hương. Có cả “thơ đường” thơ nữa đấy: “Ầm tiếng xe lu vách đá vọng / Mờ ảo công trường hiện dưới lau / Đôi hạt cầu đường lán lưu động / Còn bay than bếp dưới hoa đào” (Quang Dũng, “Pha Đin”). Ồ, cái vùng đất là tỉnh Điện Biên bây giờ, nó đã thấy bao nhiêu là bộ đội đánh Pháp, đồng bào Thái nâu mới (tức di dân từ Thái Bình), đồng bào Thái chàm cũ và đồng bào Mông, Dao… đề huề lao động xây dựng tương lai.

Ngộ nghĩnh, đường phá núi mà làm, có thứ không phải để người đi mà cho nước chảy. Vẫn Nguyễn Tuân kể, trong “Mõm Lũng Cú tột bắc”, ở Hà Giang từng xảy ra chuyện cả một huyện mở hội mừng nước sau khi “công trình” hoàn thành, đem “thủy lợi” tới nơi đồng ruộng “khát nước cháy cổ” đã suốt hằng bao nhiêu đời…

Trong chiến tranh chống ngoại xâm, trong mở mang đất nước, anh em xuôi ngược luôn sát cánh, đắng chia ngọt sẻ. Vui gì hơn.

*

Sau cái lượt làm đường đi vào thơ, ở Tây Bắc đã biết bao nhiêu lượt làm lại và làm thêm đường. Đường và cầu và nhà…

Tây Bắc bây giờ có những khu đô thị khang trang. Thành phố Điện Biên Phủ chiếm một phần cánh đồng Mường Thanh mênh mông, với những di tích lịch sử thu hút du khách quanh năm, với những con đường trắng xóa hoa ban suốt từ giữa tháng 3 cho đến hết tháng 5 dương lịch. Thị xã Mường Lay, cái “phố núi” thơ mộng của Nguyễn Tuân năm xưa, Mường Lay nằm bên bờ con sông Đà mà vào mùa xuân này chúng tôi đi qua đã sững sờ trước màu nước xanh đẹp như không có thật, Mường Lay với kiến trúc hiện đại khiêm tốn thu mình bên sơn thủy hữu tình làm chân du khách bỗng thấy mỏi quá! Thành phố Lai Châu, không biết đây trước là vùng rừng núi ra sao, mà nay nơi trung tâm đường sá rộng đến ngơ ngác, nhà đồ sộ tòa ngang dãy dọc, ngay cái “tòa” trong bến xe khách nó cũng to đẹp hơn hẳn ở bến xe Mỹ Đình của thủ đô Hà Nội! (Lai Châu hãy còn “trống” lắm, mau lên mà ở ai ơi!). Sa Pa, Lào Cai, nhưng thôi, hai cái “Phố” này thì ai nấy đều biết rõ cả rồi.

Trên Tây Bắc mới, hậu duệ của những đồng bào miền núi từng vào sinh ra tử, chia chăn sẻ cháo, vất vả gian nan với ông cha ta hiện nay đang sống ra sao nhỉ? Những cái chỗ Vòng đã Nối thật chặt xuyên qua thời khói lửa rồi thời “phá thạch khai sơn” có còn chắc chắn không?

À, cái sự nghiệp “phá khai” rút cuộc đã có quá độ. Ta làm đường làm cầu xuyên rừng, rồi dần dần ta đốn gần sạch cả cây rừng! Rừng già hiếm hẳn, khiến việc kiếm sống của một số đồng bào dân tộc ít người trở nên khó khăn, chưa nói do môi trường biến đổi nhiều hiện tượng tự nhiên tai hại cho mùa màng có thể bất chợt xảy ra. Nhưng cũng không có khủng hoảng gì đâu. Vì ân tình cũ và để duy trì củng cố đại đoàn kết, nhà nước Việt Nam luôn có nhiều biện pháp nâng đỡ, ưu đãi phù hợp để cải thiện điều kiện vật chất của các anh em. Ở Điện Biên chúng tôi có dịp hỏi chuyện lãnh đạo tỉnh, thì được cho biết quan tâm lớn của tỉnh là ngăn chận buôn ma túy từ Lào, chứ quan hệ giữa các dân tộc không có vấn đề gì đáng kể, tình hình nội an vẫn hoàn toàn ổn định. Nghe mà mừng lắm.

*

Cái buổi sáng đứng trên đỉnh Phan Xi Păng mây trắng có lúc trôi nhanh đến bàng hoàng ấy, nghĩ ngợi miên man quá. Trông những cụm mây trắng nõn lũ lượt kéo phớt qua sườn núi ngay bên dưới, thay phiên nhau vùi một mái chùa đang xây, sực nhớ chùa Linh Sơn mới tinh ở thành phố Điện Biên Phủ mới thăm mấy hôm trước. Dâu bể cũng lâu rồi, giờ trên non những mái đầu đao bắt đầu mọc là tự nhiên thôi. Chợt liên tưởng tới một nhận xét thực ra không liên hệ: “Phật giáo đã đi cùng dân tộc” (2). “Đi” đây là trong lịch sử. Dân tộc, lịch sử… Quái lạ, bỗng hiện lên hình ảnh những đồng bào người Mông người Dao ngồi bán túi thổ cẩm, mứt đào, mứt mận, hạt dẻ, mật ong rừng, nấm rừng… nơi trung tâm thị trấn Sa Pa. Ước gì Vòng Tay Lớn ngoài kinh tế, giáo dục, còn được giữ Nối bằng cả văn hóa tâm linh.

Tháng 3-2016

Thu Tứ
Tuần Báo Văn Nghê TP.HCM số 395­

____________

(1) “Vẫn cái tiếng dội Cà Mau ấy…”, Ký, Nxb Văn Học, 1986.
(2) Mai Quốc Liên, “Phật giáo Việt Nam trong lòng dân tộc”, Thời sự và suy ngẫm, 2011.

Ý Kiến bạn đọc