Truyện ngắn

Đất lở

Bờ sông nham nhở, chỗ nhô ra, chỗ hụt vào, chỗ doi, chỗ vịnh. Gió thổi róng riết, thổi đến cay sè mắt.

- Gió chi mà gió dữ.

Bà Tư than với thằng con đang lúi húi đào đào xới xới chỗ vách nhà ven sông. Chỗ này đêm qua bị lở, một bựng đất lớn hơn chiếc đệm bàng trôi xuống sông, nửa đêm nghe cái ùm làm bà giật thót. Trời vừa hửng sáng, thằng Mẫn chạy nhanh ra sông, nhảy đùng xuống dưới mé nước dòm vô chỗ đất vừa lở.

- Thôi đúng rồi, chuyến này chắc cú phát tài rồi.

Mẫn hồi hộp, mặt tái mét, ba chân bốn cẳng chạy một mạch vô kêu bà Tư xách cái leng xuống đào. Chỗ đất lở lộ ra hình dáng mấy cái hũ nhỏ, giống như cái ghè bằng sành. Hôm trước, xóm này phát hiện mấy cái ghè nhỏ, mỗi người một câu đồn đoán là ngày xưa có một thuyền buôn đi ngang chở theo rất nhiều hàng hóa, của cải, có khi vàng hay bạc, tiền đồng người ta bỏ vô mấy cái ghè đó. Chẳng may sóng to gió lớn, thuyền bị chìm, lu hũ, ghè… mọi thứ bị sóng đánh dạt vô bờ, dần dần bãi bồi chôn lấp dưới lòng đất. Nay mấy “ông nội” xáng múc cát làm đất lở quá trời khiến nó trồi lên.

- Không chừng cặp bờ sông này có kho báu dạt vô đây, nghe nói hễ là báu vật thì ai hên, có duyên mới tìm thấy.

Mỗi người bàn một câu, càng nghe càng mơ hồ, rồi ai nấy cảm thấy không chừng là vậy thật! Cửu Long là một dòng sông huyền thoại, đi qua biết bao xứ sở, vùng miền. Chắc hẳn là có nhiều bí mật huyền hoặc ở dưới đáy sông và hai bên bờ. Cả xóm xôn xao, thao thức với giấc mơ đổi đời. Vậy là thay vì rầu rĩ vì đất lở tới nơi, mất mát của nả, mọi người lại vui, theo dõi sát diễn biến của sạt lở, thậm chí còn quy ước với nhau là nếu mấy hũ vàng bạc châu báu xuất hiện dưới bến nhà ai thì nhà đó có quyền sở hữu, không ai được tranh giành. Trong nhà bà Tư, thằng Mẫn là háo hức nhất. Tiếng nó reo nhỏ:

- Được rồi, thấy một cái hũ rồi má ơi!

Bến sông nham nhở vết đào bới. Bà Tư bước nhanh xuống, tim đập loạn xạ khi nghe con thông báo.

- Sao rồi? Đem ra coi con.

- Từ từ má. Đây nè. Một cái hũ nguyên trân luôn. Mình đi rửa, đừng cho ai thấy nghe.

Bà Tư cầm cái hũ cùng con ra mé nước rửa. Xem xét kỹ bên ngoài rồi moi đất trong lòng hũ ra. Bà trông cho gặp một cái nút hay nắp đậy hũ gì đó. Có nắp thì bên dưới mới có đồ quý chớ. Vậy mà không. Toàn đất là đất, trên là đất nạc, dưới đất sình và cát. Moi hết đất thì cái hũ trống không. Thằng Mẫn bước lên khỏi mé nước, đổ quạu đá cái leng rồi ngồi phịch xuống thở dốc. Bà Tư kêu:

- Mày đá coi chừng đứt giò chết tổ à. Thôi lên con, chắc hổng có gì đâu.

Thằng Mẫn rên rỉ:

- Để từ từ. Con mệt muốn đứt hơi. Bữa đi coi bói, bà thầy nói nhứt định con gặp vận may. Sao kỳ cục vầy nè. À, còn mấy cái hũ nữa, để con làm tiếp.

Hy vọng. Rồi thất vọng. Trái tim bà Tư mấy lần nhảy lên nhảy xuống theo phát hiện của thằng con. Cứ cái kiểu này chắc đau tim luôn quá, bà nghĩ. Gần nửa buổi, mệt bở hơi tai, thằng Mẫn với bà Tư lủi thủi xách dụng cụ lầm lũi lên nhà. Dọc đường gặp ai hỏi thì bà nói đi đào hang chuột dưới sông.

Soi-bong---Jacklyn-Vy-Tran---Luong-Quoc-Thang---Anh-1
Soi bóng – Sơn dầu – Jacklyn Vy Trần & Lương Quốc Thắng

*
Hồi mới phát hiện mấy cái ghè, ai cũng nói đất lở trong cái rủi có cái may. Biết đâu kiếm được nguyên một kho báu thì đi xứ khác mua đất mần ăn cho chắc, chớ ở đây hoài chắc là tàn đời cô Lựu. Ai nấy hè nhau tìm kiếm, thậm chí có nhà còn rước thầy bói, thầy địa lý về coi phong thủy, coi hướng kiếm báu vật. Bỏ công càng nhiều kết quả càng thấy nản. Tệ nhứt là bầu không khí huyễn hoặc, bàng hoàng, không lo làm ăn của thanh niên nam nữ, mấy ông mấy bà sồn sồn, ông già bà cả. Cuối cùng bà Tư chốt lại một câu với thằng Mẫn và thằng Hai, anh nó:

- Thôi bỏ chuyện đó đi, lo làm ăn con ơi!

Hai thằng con còn ức lắm:

- Hổng lẽ số mình mạt rệp vậy sao? Nhứt định phải kiếm cho được. Thầy bói nói rồi, sao mà sai được.

Không biết lời thầy bói linh tới cỡ nào chớ cuộc sống gia đình bà Tư xáo trộn nghiêm trọng.

Một chiều. Ánh tà dương tiếc nuối chưa chịu rời đi, vẫn chiếu những tia vàng mong manh lên tóc người mẹ. Gió từ ngoài sông thổi vào hiu hắt. Như nhiều buổi chiều khác. Người đàn bà tuổi ngoại lục tuần ngồi bên chiếc khạp nước vỡ, nước chảy loang thấm vào lòng đất. Những miểng lu bể nằm tứ tung, sắc nhọn. Sát vách bếp là mấy cái ghè đào được dưới sông, giờ mấy đứa cháu lấy chơi chòi. Lòng bà Tư đau nhói. Trong ngôi nhà nhỏ, thằng con Út mà bà rất đỗi yêu thương tức tối đạp mạnh chân vô cánh cửa gỗ. Cái khạp nước này là tác phẩm đổ bể không biết thứ bao nhiêu của thằng nhỏ này, mỗi khi bà không đáp ứng yêu cầu của nó hoặc “chán nản sự đời” như nó nói. Lâu sau, bà mới nghẹn:

  – Con còn đòi gì nữa, má còn có gì đâu?

Thằng con buông một câu, như tự nói một mình:

- Chán quá đi, không biết làm gì bây giờ… – Rồi nó bật dậy, xách xe máy bỏ đi mất biệt.

Hồi đó nó có vầy đâu. Là con út trong nhà, nó được má và các anh chị cưng chiều. Lớn lên, Mẫn cũng không phải ra đồng làm công việc nặng nhọc gì. Tính tình nó cũng dễ thương, chỉ có điều hơi khờ khạo, học hành thì được lên lớp đã là may, chẳng đòi hỏi gì hơn.

Lớn lên. Sau vài lần thi rớt cấp 3, Mẫn nghỉ học làm vườn, làm ruộng và bắt đầu tụ tập cùng bạn bè uống vài ly rượu hay hút mấy điếu thuốc, chọc ghẹo bông đùa mấy cô gái trong xóm. Tiền bạc vẫn được bà Tư cung cấp. Mỗi lần anh chị nó nhắc nhở, bà nạt đùa:

- Kệ! Nó là út, lại yếu đuối, bù cho nó một chút có sao.

Cây cau trước nhà ngày càng vươn cao, dấu vết thời gian để lại trên thân cây cũng càng nhiều hơn. Những vết trượt trong đời thằng Mẫn ngày một sâu, có vết đã thành sẹo, có vết mới lên da non và có cái đang còn mưng mủ. Bà Tư lay lắt giấu từng giọt nước mắt trên đôi gò má khô quánh để vẫn có thể cười với con, để chăm sóc nó từng bữa cơm, chiếc áo.

Cho đến hôm nay, bà ngồi bên cái lu vỡ sau hè, ngoài kia dòng sông đục ngầu vẫn không ngừng lở, mấy chiếc xáng múc cát ngày đêm gầm gừ như quái vật. Bà mông lung suy nghĩ…

Sau hôm đó, không ai thấy bóng dáng bà trong xóm nhỏ nữa. Anh chị thằng Mẫn nói bà đi làm ăn đâu đó, cũng có người nói bà vô chùa tu luôn rồi, mà cũng không biết chùa nào. Thằng Mẫn đi khắp nơi, nào gọi điện hỏi thăm, nào ghé nhà bà con tìm. Nhưng tuyệt nhiên không gặp. Thằng Mẫn muốn khóc. Chưa bao giờ nó nghĩ má sẽ bỏ nó đi đâu hết.

*
Bà Tư nằm trên ghế bố, trong nhà của cô con gái thứ có chồng xa, mớ tóc bạc xơ xác khẽ phất phơ. Ngoài sân, ngọn gió lẻ loi thổi qua làm vài chiếc lá khô rụng xuống thềm, tiếng rơi nhẹ như tiếng thở. Đã gần 100 ngày, tức là hơn 3 tháng, bà rời xa ngôi nhà thân yêu đó, nơi hai thằng con đang chìm vào những cơn mê, những mơ mộng hoang đường. Cái cánh cửa gỗ thằng Út xô ngã bữa vòi tiền không có, bà đã nhờ người ráp lại, nhưng không được như ban đầu mà lặc lìa lặc lọi. Còn gốc mai cổ thụ cha nó trồng lúc sinh thời bà rất quý, giờ chỉ còn lại một miệng hố lấp vội. Thằng Út đã kêu người tới bán. Cái bếp ga cũ kỹ bà phải xiềng chung với bình gas bằng dây xích, nó cũng đập nát vì không tháo bán được. Những đồ đạc nát nẩm trong nhà làm mắt bà hoen lệ. Nhưng ai nỡ giận con.

Nho---HS-Tran-Luan-Tin---Anh-1
Nhỏ – hs Trần Luân Tín

Hôm nó đi xe đò lên đây kiếm mẹ. Bà đã thấy bóng nó từ xa. Cái dáng lưng hơi khom giống ba, chiếc áo xanh bà mua hôm Tết nay hơi cũ. Bà vội vàng chạy vô chun tuốt xuống gầm giường trốn và nhờ con gái đóng cửa sổ lại. Tiếng chân thằng con đi khắp trong ngoài tìm, giỡ cả tủ áo xem có quần áo của má không. Cũng may, bà thu dọn gọn gàng tư trang nên thằng Mẫn không phát hiện được gì. Nó không ngừng lẩm nhẩm:

- Má ơi, về với con đi…

Tiếng con chị thằng Mẫn:

- Về để mầy làm khổ má nữa hả? Tối ngày cứ bắt má kiếm tiền cho mầy, lớn già đầu mà không biết lo, tối ngày tụ tập rồi đi đào kho báu, thiệt là tào lao.

Thằng Mẫn năn nỉ:

- Em biết rồi, em sửa đổi mà. Mai mốt em đi làm. Chị nói má về đi.

- Mầy hứa như nước đổ đầu vịt. Có điên mới tin mầy.  

- Tại nhà mình sa sút. Đất lở bộn rồi, còn có mấy chục gốc xoài, biết chừng nào mới khá. Em tính làm gì cho mau có tiền, sống khá như hồi trước kìa.

Chị thằng Mẫn bất mãn:

- Thôi mệt quá, cứ kiếm thầu đề hoài chắc thành con quỷ rộc chớ hổng phải quý tộc sung sướng đâu ông con. Còn dưới sông, có miểng sành cho mầy gặm chớ vàng bạc cái nỗi gì.

 Thằng Mẫn cười khà. Nó bới tô cơm ăn vội, uống nước, nghỉ một chút rồi về. Nằm dưới sàn chõng trong buồng, nghe tiếng thằng Út ra về, bà giật mình, chút nữa là chạy ra gọi nó lại dặn dò mấy câu nhưng nhớ lại kịp. Lâu sau, bà mới chui ra, tơ nhện, bụi bặm bám đầy mái tóc. Trong tiếng cười chọc quê rộn rã của đứa cháu ngoại ở tuổi ăn chưa no lo chưa tới, bà nghe lòng mình lặng lẽ rơi xuống. Dù cắn răng rời đi để mong thằng con tỉnh ngộ.

Nhưng ngày ngày bà vẫn nghe ngóng tin tức của thằng Mẫn, nhắc nhở con dâu lớn, đứa cháu nội kêu chú Út qua nhà ăn cơm, lại thỉnh thoảng gởi chút tiền về nhờ cháu lén đưa cho con mua thuốc hút, uống cà phê.

*
Cuộc đời bà Tư hình như gắn liền với chữ lở. Chồng mất, mảnh đất màu mỡ ven sông bị hà bá nuốt dần nuốt mòn, của cải cũng lở dần. Hai thằng con trai cứ mãi ngồi đó xót thương cho thời vàng son cũ. Thằng lớn đùng một cái rước về cô vợ chưa kịp cưới hỏi và đứa con còn đỏ hỏn. Bà Tư cất cho căn nhà nhỏ, chia ít đất trồng trọt đắp đổi. Thằng Út thì góp một tay phá khuấy, đưa bà đến ngày phải rời xa thôn xóm, buồn thấu xương cái cảnh có nhà mà không về được. Ai thương bà chỉ biết cảm thán một câu:

- Đúng là số khổ, hai thằng con lù khù mà vác cái lu chạy!

Hôm trước, đứa con dâu lớn của bà Tư khăn gói lên thăm và cũng sẵn tiện mượn tạm cô tụi nhỏ ít tiền lo học hành cho cháu. Nhìn đôi mắt sưng mọng, đôi gò má rám nắng có dấu bầm tím, bà biết ngay:

- Chắc điệp khúc cũ nữa hả con?

Con nhỏ cúi đầu, âm thầm xác nhận. Cái khởi đầu khốn khổ của mối tình vượt rào đã không đem đến hạnh phúc êm đềm cho vợ chồng  nó. Thằng Hai mắc cái chứng sĩ diện tào lao. Không chịu đi làm gì thêm ngoài bới mấy gốc xoài mùa được mùa mất. Lý sự cùn của nó làm bà bực mình:

- Hổng lẽ gia đình mình vầy mà đi làm mướn. Thà con đói chớ không đi làm công nhân ở mấy công ty gì đó đâu, gò bó quá chịu sao thấu.

Nó nói vậy thì bà Tư bó tay. Bòn mót ở vách đất lở mà chẳng có vàng bạc châu báu gì, thằng Hai đâm ra quạu. Nhiều lúc nó rủ một nhóm dân trong xóm kiếm gậy gộc, gạch đá bơi xuồng ra gây sự với tay chủ xáng múc đang ăn mòn đất cát kia. Nhưng liệng gạch đùng đùng đâu có nhằm nhò gì với mấy chiếc xáng bự chảng đó, chỉ ôm thêm cục tức bơi xuồng về, rồi xúm lại làm mồi nhậu cho bõ tức. Nhìn gia cảnh anh Hai vậy, đứa con gái kế của bà Tư đôi khi lên tiếng:

- Anh Hai thiệt kỳ, có miếng đất bằng bàn tay vậy làm sao khá nổi, vậy mà chỉ đi làm cũng hổng cho. Cứ cấu xé hoài, rồi chỉ lăn đùng ra đó bệnh, còn mần ăn gì được nữa.

- Biết làm sao… – Bà Tư thở dài.

Nhìn con dâu, bà không khỏi chạnh lòng. Nhớ cái bữa nó đau bụng sanh đứa thứ hai. Thằng chồng trời ơi mắc cỡ không chịu chở vợ bằng xe đạp vô trạm xá. Nó trèo lên xe nhưng không chạy được vì cấn cái bụng bự. Bí quá, bà vừa chửi thằng con vừa gồng mình đạp xe chở con dâu vô trạm. Bóng chiếc xe đổ dài xiên xẹo trên con đường đất ngoằn ngoèo. Bà thắt lòng nhìn con dâu co ro trong cơn đau đẻ.

Tội nghiệp! Con nhỏ không đẹp nhưng được cái nết siêng năng. Không từ nghề nào, từ buôn bán hàng bông, phụ hồ, đến làm công nhân nhà máy thủy sản rồi phụ bếp, giúp việc nhà. Đi làm mệt nhọc đã đành, mà thằng chồng còn chửi như tát nước. Lý do cũng thiệt lãng xẹt. Phụ hồ thì nó xấu hổ với bạn bè, vợ làm nghề nào cũng bị nó gán cho chuyện này chuyện nọ. Có bữa vợ đi làm về, vừa dựng xe vô cột nhà, bà nghe chiếc xe ngã cái rầm, chắc thằng chồng xô. Lẫn trong tiếng khóc léo xéo là tiếng chửi.

- Không ai ngu như “bà”, đi làm công nhân thái cá, đứng suốt ngày bị nó “đông lạnh” cho xí lắc léo đi hổng nổi, đừng có mang thân về đây kêu tui nuôi à.

Con vợ vừa mệt vừa tức cũng la choi chói:

- Hổng làm rồi lấy gì nuôi con, cạp đất ăn sao, mà vài năm nữa đất cũng lở xuống sông hết lấy gì cạp đây. Đợi ông nuôi chắc mẹ con tui chết đói sớm rồi. Tui vậy đó, đời tui kể bỏ, tui lo cho mấy đứa nhỏ học hành.

Đứa cháu nội nhỏ của bà khóc ầm lên:

- Mẹ ơi, vô đây với con, con sợ quá… Con đói bụng mẹ ơi!

Cuộc chiến tạm dừng, chỉ còn tiếng thằng chồng nã đạn rải rác chớ không xáp lá cà nữa.

Con dâu về rồi, bà Tư vô buồng lấy tràng chuỗi ra lần niệm Phật. Tuổi già, sức mỏng như cánh ve. Bà chỉ biết cầu nguyện cho mấy đứa con qua được “nghiệp chướng” này để cuộc sống yên ổn, khá giả lên. Con gái bà thì “bình luận” theo kiểu khác:

- Không biết tự cứu, má cầu Trời, Phật tới già cũng hổng ai ngó xuống giúp cho đâu. Cầu chi cho mệt, nghỉ khỏe đi, có thân tự lo, ai cũng lớn rồi.  

Bà Tư thở dài:

- Biết vậy nhưng má làm sao yên tâm được. 

*
Đêm. Tĩnh lặng. Tiếng côn trùng rỉ rả. Tiếng lá cây bị gió quét vào mái tôn xào xạc. Tiếng điện thoại reo làm bà Tư giật mình. Con gái kêu má nghe điện thoại của chị dâu. Con dâu bà kể một thôi một hồi không đầu không cuối. Bà Tư nói với con gái:

- Chắc mai má về nhà coi sao.

Con gái lo lắng:

- Chuyện gì vậy má. Mà ảnh chỉ lớn hết rồi, má lo hoài sao.

- Không phải. Hai anh em nó bị mấy thằng xã hội đen chủ xáng múc cát mướn dằn mặt gì đó. Để má về coi sao…

Ngôi nhà xưa nhìn thấy hoang tàn hơn một chút. Bờ sông bị lở thêm vài thước đất. Bà Tư đi riết vô nhà. Vắng lặng, chắc mấy đứa nhỏ đi học. Kêu réo một hồi, con dâu bà từ ngoài vườn mới chạy vô, lau mồ hôi chảy ròng ròng trên mặt, kể tóm tắt cho bà nghe. Đại để là hổm rày anh em thằng Hai cầm đầu một nhóm thanh niên, đàn ông tiếp tục cần gậy gộc, đất đá “chiến đấu” với mấy chiếc xáng múc cát. Chẳng ăn thua gì. Bữa nọ cả nhóm bàn nhau tốp thì rình lúc nó múc gần sát bờ, một tốp đi báo công an, chính quyền vô bắt. Chắc mẩm kỳ này hiệu quả, dẹp mấy “thằng xáng” này cho yên bụng. Nào ngờ, chuyện bắt bớ chẳng ra ngô ra khoai gì. “Nó” biết sạch trơn kế hoạch, còn biết cả ai báo. Một thằng hăm:

- Bày đặt chơi tụi tao hả? Coi coi tụi tao có bị rụng cọng tóc nào hông nghe?

Hậu quả sau đó thật đáng sợ. Một tốp thanh niên mặt mày bặm trợn, hình xăm đầy mình, tay cầm dao, mã tấu tới nhà kiếm anh em thằng Hai. Nó chỉ hỏi một câu mát mẻ:

- Lên kế hoạch kỹ hả? Hồi tối la dữ quá hén. La vụ gì vậy hai chú em, cầm đầu sao, biết cầm đầu bị xử sao hông?

Mặt mày hai đứa xanh lét như tàu lá. Hồi đó giờ chuyện giang hồ xử tụi nó chỉ coi trên phim. Bà Tư biết hai thằng con bà nói năng nổ trời, hở ra là xưng anh hùng thứ thiệt, vậy chớ nhát hích. Vậy rồi, sau bữa đó, mỗi ngày có vài đứa du côn kéo tới bày đồ ra nhậu ngay trước sân nhà, hai thằng con bà thì nhà đứa nào nấy rúc vô, sợ vãi đái, đâu có dám ho he câu nào. Chừng nửa tháng như vậy, cả xóm êm ru, chẳng ai còn nghĩ tới chuyện “chiến đấu” với mấy cái xáng quỷ xứ đó nữa. Bà Tư hỏi:

- Rồi hai đứa nó đâu rồi con?

Con dâu bà chợt nhớ:

- Nãy giờ lo kể với má mà con quên. Ảnh với chú Út nó theo bạn bè đi Bình Dương làm công nhân rồi, mới hôm qua. Con can hoài hổng được, thôi đi đâu thì đi. Con ở nhà lo làm nuôi mấy đứa nhỏ.

Bà Tư lo hai thằng con nông dân nửa mùa không biết làm công nhân có nên không hay cũng vẫn nửa mùa.

- Cái xứ mình riết rồi thanh niên bỏ lên Bình Dương hết trọi. Hai đứa này đâu có giỏi như người ta. Làm công nhân đâu phải như ở nhà muốn làm thì làm muốn nghỉ thì nghỉ.

- Hơi đâu má lo, đói thì đầu gối cũng bò. Ở nhà hai ổng sợ mấy thằng du côn làm thịt, tối ngày lo đi trốn có làm ăn gì được đâu – Con dâu bà Tư trấn an mẹ.

Bà Tư bần thần. Rồi đi ra sau nhà. Bếp núc vắng tanh, lạnh lẽo. Nhìn ra, mé sông ở kế bên rồi, trống lổng, chẳng còn hàng cây nào che chắn. Mấy tàu chuối xác xơ trong gió lộng. Xa xa ngoài kia, hai chiếc xáng múc cát ầm ầm. Mấy chiếc xà lan chờ tới lượt lấy cát thì đậu chình ình gần bờ.

- Rầu làm gì mệt má ơi, lở tới đâu thì tới đi, mình làm được gì bây giờ.

Con dâu bà Tư khuyên rồi cùng bà quay ra dọn dẹp, nhóm bếp, nhà còn mấy người đâu, nấu ăn chung cho gọn.

Buổi chiều tà thường gợi cho người ta nhiều nỗi niềm, không gian êm ắng, nắng dần tắt, lá trên cành xếp ngủ, chiu chít tiếng gà con lạc mẹ. Nỗi cô đơn càng hiện rõ hơn trong ngôi nhà còn lại hai người đàn bà một già một trẻ này. Chỉ có tiếng tíu tít của hai đứa nhỏ vừa đi học về mới phá tan bầu không khí im lặng:

- Nội mới về. Con nhớ nội quá. Bữa nay con được cô giáo khen đó nội!

Đứa nhỏ sà vào lòng bà Tư, rồi hai chị em thi nhau kể đủ thứ chuyện lúc bà vắng nhà. Sự hồn nhiên con trẻ như tia mật ngọt xen giữa cay đắng cuộc đời, xua bớt ưu phiền của bà Tư trong thoáng chốc. Lửa trong cà ràng đã đượm, củi nổ tí tách. Ấm áp. Ánh lửa hồng soi trên khuôn mặt của con dâu. Dường như nó đẹp hơn, mắt long lanh hơn, bớt hóp háp như trước ánh ngày chói lọi. Bà Tư ngước nhìn sông, mong cầu mênh mông ban cho một góc bình yên. Hai đứa nhỏ vẫn ríu ran, làn môi đẹp như nụ hồng mới nhú, sáng rỡ trong ánh hoàng hôn.

Thu Phương
(Đài PT-TH, TP. Cao Lãnh – Đồng Tháp)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 482

Ý Kiến bạn đọc