Tản văn

Đất cũ

Ngày xưa, phía sau nhà ông bà nội tôi có cây vải chua rất to.

Cây vải ấy, chẳng biết ông nội trồng tự lúc nào. Khi tôi mới là đứa bé con 5 tuổi thì cây vải đã xum xuê, tán che rợp một góc vườn sau. Cũng vì cây vải, cây mít và cây bưởi sau nhà, mà mảnh vườn ấy không trồng thêm được bất cứ cây gì nữa. Bóng những cây này trùm khắp vườn khiến không cây nào có ánh sáng mà vươn lên được.

Cuối xuân chớm hạ, khi đom đóm bắt đầu bay chấp chới trên mặt những ao bèo thì tán vải cũng trĩu quả, nhưng vẫn còn xanh. Tôi ngấp ngóng cây vải từ khi đó mặc dù bà bảo: Xanh lắm, không ăn được. Khi nào chín đỏ mới được ăn. Mỗi ngày tôi lẻn ra vườn sau, ngửa cổ nhìn tán vải đến chục lần. Cây thì cao mà tôi thì lũn cũn như cái nấm, có thèm lắm cũng không cách nào lấy vụng được vài quả, chỉ lủi thủi nhặt những quả rụng dưới gốc. Vải rụng từ lúc còn non, dĩ nhiên không thể nào ngon được, nó vừa chua vừa chát chát. Vậy mà tôi cứ cặm cụi nhặt. Khi được một nắm tay đầy thì hớt hải chạy sang nhà cái Tấm hàng xóm – bạn thân nhất lớp mẫu giáo của tôi, gọi nó ra rặng dâm bụt phía cổng, hai đứa chia nhau bóc ăn. Thấy ngon không thể tả. Hạt vải non vẫn màu trăng trắng, cùi thì mỏng dính. Nhưng với bọn trẻ con nhà quê ngày xưa thì đó cũng là một món quà hấp dẫn. Ngày qua ngày, quả vải mọng hơn và vỏ nó chuyển từ xanh sang hơi hồng hồng. Tôi khấp khởi trông ngày trông đêm cho đến khi toàn bộ tán vải đỏ rực, chín đều thì ông bà hạ lệnh: Bẻ vải. Nhưng đừng tưởng bẻ vải để ăn. Ông bà sẽ sai anh Hiệu – ông anh con bà cô ruột tôi, nhà ngay đằng sau, cách nhà ông bà cái ao nhỏ, sang trèo cây bẻ vải cho bà mang đi bán. Mỗi ngày chỉ bẻ một phần cây vải. Bẻ nhiều, bà không gánh xuể. Lũ chúng tôi chỉ được ăn vải rụng. Tôi thì thào bảo anh: Làm rụng nhiều vào nhá! Anh Hiệu nháy nháy mắt: Nhớ phần anh nhiều! Quả rụng là quả ngon đấy! Hai anh em cười híp mắt. Ông bà không thể biết được mánh khóe ấy của anh em tôi.

Anh-minh-hoa---Dat-cu

Ngày ấy ở quê tôi nhà nào cũng nghèo, cũng có những ngày đói, những ngày “đứt bữa”, ăn độn thì triền miên. Cho nên, hễ thu hoạch được quả gì ở vườn nhà bà cũng mang đi bán. Chỉ để lại những quả xấu, quả sâu, quả nhỏ khó bán để ăn. Cây vải cũng vậy, hầu như quả chín bẻ xuống là để bán. Quả rụng mới được ăn. Tuy tôi háo hức thế, nhưng cũng không thể ăn một lúc quá 5 quả vải. Bởi vì nó chua. Không hiểu ông nội trồng cái giống vải gì mà chua thế. Nếu tham, ăn một lúc quá nhiều thì sẽ rất ghê răng, bụng dạ sẽ cồn cào. Tôi và cái Tấm thường bốc theo nắm muối, để trong cái lá râm bụt, ngồi bóc vải rụng chấm ăn ngon lành. Anh Hiệu sau khi bẻ vải cho bà sẽ được trả công bằng mấy vốc vải rụng. Anh bọc vào vạt áo, ôm khư khư trước bụng và khom lưng chạy về, mặt rất hí hửng. 

Lần về quê gần đây nhất, anh Hiệu nhìn sang đất cũ, bảo tôi: Người ta đang rao bán đấy! Tôi vội vàng nhờ anh hỏi mua. Đất cũ nhà ông bà giờ như một mảnh vườn hoang. Khi ông mất, bà đã già yếu không thể ở một mình. Bố tôi là con trai út, nhưng cũng là con trai còn lại duy nhất của ông bà. Hai bác tôi đã hy sinh trong chiến tranh chống Mỹ, đến hài cốt cũng chẳng biết nằm lại ở nơi nào. Bà lên thành phố ở cùng bố mẹ tôi. Đất cũ của ông bà bán đi. Bán đi, bố mẹ tôi mới có thêm tiền để làm nhà trên thành phố. Có thêm bà, không thể nào ở mãi gian tập thể nhỏ như chuồng chim bồ câu, kê vừa đúng hai chiếc giường đôi và một bàn uống nước con con. Người mua đất của ông bà cũng là người làng. Họ có con trai đến tuổi lập gia đình và họ có tiền. Năm đó tôi học lớp 8. Khi tôi hỏi bố: Nhà mình bán đất của ông bà được bao nhiêu tiền hở bố? Hỏi một cách vô tư theo kiểu tò mò con trẻ. Và tôi thấy bố thở dài, giọng chùng xuống như có nước: Bốn triệu! Tôi không biết 4 triệu ngày đó là nhiều đến thế nào, chỉ thắc mắc tại sao cầm một nắm tiền bán đất như thế mà bố buồn như muốn khóc.

Chủ mới của đất cũ vội vàng phá nhà cũ đi. Cũng phải thôi, nhà cũ của ông bà là ngôi nhà ba gian lụp xụp, tường trình đất và mái lợp rạ. Bậc thềm, hiên nhà cũng bằng đất nện. Chỉ có mảnh sân con con trước nhà được lát gạch là nơi phơi thóc mỗi mùa gặt. Tôi đã đứng lặng bên hàng râm bụt, nước mắt chứa chan nhìn về đất cũ, khi không thấy mái nhà tranh quen thuộc của ông bà đâu nữa. Mái nhà tôi đã sống suốt những năm tháng ấu thơ. Bố mẹ đi làm xa, mọi chế độ tem phiếu về lương thực, thực phẩm thời bao cấp vô cùng khó khăn, hai chị em tôi ở nhà với ông bà nội, tận khi tôi học lớp 1 mới sống theo bố mẹ. Không còn mái nhà tranh, không còn mảnh sân gạch, không còn luống tóc tiên trổ hoa tím hồng hai đầu hồi nhà… Không còn ông nội nữa… Lần đầu tiên tôi thấm thía nỗi mất mát đớn đau của cuộc đời chính là giây phút ấy!

Nhưng chủ mới của đất cũ không làm nhà, không về đó ở. Anh Hiệu nói con trai ông ấy không còn ở làng mà đi làm ăn rồi lập nghiệp, lấy vợ nơi xa. Cỏ mọc trùm lên đất cũ. Cây vải, cây bưởi và cây mít vẫn đứng đó. Mỗi mùa quả, chủ mới tạt qua thu hoạch vài lần. Tôi về, nhìn tán vải đỏ rực những quả mà thèm cảm giác ấu thơ, được hồi hộp đứng dưới gốc cây, chờ anh Hiệu cố tình làm rụng thật nhiều quả chín; được bọc quả vào vạt áo, chạy sang gọi cái Tấm ra cổng để chia nhau. Về sau, chủ mới không còn thấy về đây bẻ vải. Họ nói vải chua, không ăn cũng không bán được. Bây giờ không giống thời đói kém ngày xưa. Vải ngọt như đường mà vào chính vụ còn rẻ như cho nữa là giống vải chua chết người này. Thành thử quả cứ chín rồi tự rụng đầy dưới gốc. Có lần tôi chạy sang, nhặt vải rụng đầy tay rồi cứ thế đứng khóc dưới gốc cây. Cái Tấm không bao giờ còn cùng tôi chia nhau những quả vải rụng thần thánh tuổi thơ được nữa. Nó ngã xuống ao khi chưa biết bơi, khi chưa kịp lớn… Rặng râm bụt đỏ hoa cũng đã không còn…

Bao nhiêu năm trôi qua, cây vải chua vẫn còn đứng đó. Cứ đến mùa, quả của nó lại đỏ rực trên cây. Cũng lạ một điều là không được chăm sóc bao giờ nhưng chưa năm nào cây mất mùa quả chín. Năm nào cũng sai trĩu cành. Có điều quả cứ tự chín rồi tự rụng. Lần nào về quê đúng mùa vải đỏ, tôi cũng sang đất cũ, đứng lặng hồi lâu. Có cảm giác tiếng cười của cái Tấm vẫn quanh quẩn đâu đây. Có cảm giác mình vẫn còn là đứa trẻ 5 tuổi, hồi hộp ngửa mặt nhìn vòm cây tìm quả chín. Có cảm giác tiếng gậy tre của bà vẫn lọc cọc nơi góc sân và tiếng võng đay vẫn ngân kẽo kẹt ba gian nhà rạ. Có cố gắng lắm cũng không định vị được chỗ chái bếp ngày xưa nơi bà chôn nhúm nhau của tôi giờ ở vị trí nào. Cỏ dại đã trùm lên tất cả. Chỗ nào là đầu sân, nơi chị em tôi thường xuyên vấp ngã bởi một cái rễ xoan trồi trên mặt đất? Chỗ nào là hàng rau ngót, chỗ nào là giàn đỗ ván bà trồng? Chỗ nào là đống rơm? Chỗ nào là gốc cau bạc phếch có dây trầu không quấn quýt xanh um?

“Cô mua lại đất cũ để làm gì?”, anh Hiệu hỏi. Để làm gì ư? Đương nhiên là không để ở. Một năm cùng lắm tôi về thăm quê cũ được mấy lần vội vã. Để giữ tiền theo kiểu đầu cơ bất động sản ư? Không phải. Đất quê lại ở trong ngõ thế này, làm sao mua đi bán lại được cho ai? Thế để làm gì? Để mỗi lần về còn được chạm tay vào kỷ niệm. Để thấy ít ra trong cái vòng xoáy nghiệt ngã của thời gian, mình vẫn lưu lại được chút gì xưa cũ. Nơi chôn nhau cắt rốn là đây. Những tháng năm đầu đời thơ dại là đây. Bóng hình ông bà nội cũng đang còn ăm ắp ở nơi này. Và cây vải chua vẫn đứng trầm ngâm một góc… Anh Hiệu bàn: Hay là làm một cái nhà nho nhỏ, đúng chỗ nhà cũ ngày xưa. Rồi cũng trồng tóc tiên với hàng râm bụt. Với cả cây cau và trầu không nữa… Em gái tôi sôi nổi vun vào: Vườn đằng trước, chị em mình sẽ trồng thật nhiều rau, y như ngày xưa ấy…

Nhưng làm thế nào để có được tiếng ông ấm áp trong mấy gian nhà? Làm thế nào để có được dáng bà còng rạp lụm cụm bước lên bậc thềm đất? Làm thế nào để gọi được cái Tấm vạch lối tắt qua hàng rào râm bụt chạy sang?

Những quả vải chín trên cây đã rụng. Sang năm vẫn còn mùa vải khác đỏ rực trên cây. Nhưng có những điều đẹp đẽ không bao giờ còn quay trở lại…

2/6/2017

Việt Nga
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 462

Ý Kiến bạn đọc