Tản văn

Đảo quê hương

 

Quê tôi ở miền Tây, không xa lắm, nhưng ngồi xe đò từ TP. Hồ Chí Minh về quê, mất hơn 8 giờ mới tới được bến cảng để bắt đầu cuộc hành trình đến Thổ Chu. Mà đâu chỉ vậy, tàu ra đảo, chạy có ngày giờ hẳn hoi, hễ trễ lịch trình là phải ở lại đất liền vài hôm chờ đợi và ngược lại. Mùa mưa bão, có khi đến cả tháng ròng mới có tàu chạy vô ra đón khách và vận chuyển hàng hóa nhu yếu phẩm. Tuy vậy, đó là nơi chôn nhau cắt rốn nên tôi luôn nhung nhớ…

Người ta thường ví cụm đảo Thổ Chu quê tôi như mắt biển Tây Nam của Đất nước, đêm ngày không ngủ. Mùa mưa bão, Thổ Chu thi gan cùng sóng gió ì ầm; mùa nắng hanh khô, Thổ Chu vẫn mượt mà xanh, màu xanh của rừng nguyên sinh mênh mông như thuở nào chưa lưu dấu chân người khai khẩn. Cách trở với đất liền, nhưng xã đảo Thổ Châu, cư dân mỗi năm đông lên thấy rõ; tiếng nói cười ngày càng huyên náo hơn trong buổi chợ sớm mai. Người ta đến đây tham quan du lịch, cùng với người đã chọn Thổ Châu làm quê hương ngày ngày xông xáo mưu sinh, làm giàu cho mình và cho quê hương đất đảo.

Mẹ tôi kể, hồi ra đảo sinh sống, cha tôi mới 20 tuổi, còn mẹ chỉ vừa tròn 18. Tuổi trẻ tràn trề nhựa sống, họ ríu rít cắm tên mình vào đất Thổ Châu, trưa hè nghe biển hát dập dềnh, tiếng ru con vọng khúc ơi ầu, quệt mồ hôi mẹ cha quên những ngày vất vả. Và tôi ra đời, lớn phổng lên giữa trùng trùng cát biển trên bãi Ngự, bãi Dong, chiều nghiêng nắng, gió thổi mùi hương khói – nơi đền thờ Hoàng đảo Thổ Chu, bịn rịn níu chân ai xin dừng bước, cúi đầu thắp một nén nhang! Lớn lên thêm một chút, đêm về, tôi hay mơ những giấc mơ thành phố, có nhà cao tầng đầy đủ tiện nghi, có đèn điện sáng trưng lấp lánh những con đường, phố xá đông vui tráng lệ với dòng người hối hả… Mỗi lần kể lại giấc mơ, mẹ tôi cười hiền hậu, bảo vậy thì ráng học nghen con!

So-634--Anh-minh-hoa---Dao-que-huong---Anh-1

Ngày tôi rời đảo, vào đất liền học trung học phổ thông, tiễn chân tôi ra tận cầu cảng, nhìn mắt mẹ rưng rưng, tôi thấy trong đó là niềm tin nguyện ước, dẫu dãi dầu nhưng mong cái chữ cho con, thấy thương mẹ quá chừng. Cha không nói gì, tỉ mẩn gói mớ cá khô cho con trai mà mình vừa đánh bắt sau chuyến đi biển dài đầy tôm cá. Rồi đến ngày tôi nhận giấy báo đậu đại học, cha cũng không nói gì, giấu niềm vui vào chuyến ra khơi, chỉ dặn lòng cùng chung với mẹ một đợi mong! Tôi nhớ ba nói với mẹ, em cho con tiền dôi dư, lên Sài Gòn, nó mua sắm gì thì mua, ở nhà mình chỉ cần có gạo, còn cá tôm thì đầy ngoài biển. Đảo là nhà, biển là quê hương, mình lo gì cái đói. Rồi cha nhét vào túi tôi, 500 ngàn đồng, nói của bác Năm gửi biếu. Cha nói, bác Năm bảo ráng học, mai mốt thành tài về dìu dắt em cháu trong xã mình, tôi nghe mà xúc cảm trào dâng!
Đẹp thì đẹp thiệt, nhưng Sài Gòn không hoàn toàn như tôi nghĩ. Chỉ riêng việc đi lại thôi cũng khác hẳn với thành phố Rạch Giá, càng khác xa thị trấn Dương Đông quê mình, nói chi đến cái xã đảo Thổ Châu của tôi chỉ duy nhất có một ấp Bãi Ngự, xe máy chạy vù vù, chẳng lo chuyện kẹt xe hay khói bụi mịt mù. Những ngày đầu đến với Sài Gòn, không hiểu sao tôi luôn sờ sợ khi đi trên đường phố dưới những hàng cây cổ thụ, không biết nó sẽ ngã lúc nào trong mưa gió? Quê tôi, Thổ Châu, rừng một bên, biển một bên, con đường bê tông giờ đây xe cứ chạy dài trong râm mát và lồng ngực căng phồng bởi lá phổi xanh của thiên nhiên luôn xào xạc gió! Người trên đảo gặp, chào nhau nghe rõ từng câu, miệng nhoẻn cười chẳng cần chi son phấn bởi nghĩa tình chòm xóm…

Xứ đảo quê tôi “ngộ” lắm, gia đình nào cũng có hai cái nhà, mùa gió chướng ở nhà này, mùa gió nam ở nhà kia. Người dân chúng tôi tự hào mình là cư dân của “đảo chạy gió”. Nói vậy chớ để có thêm cái nhà mới, có vui sướng chi đâu; cũng là nhờ tập quán lâu đời, bà con lối xóm xúm xích lại giúp đỡ nhau cất dựng sửa sang. Riêng bộ đội Biên phòng với bà con trong xã, tình quân – dân thương nhau như ruột rà máu thịt, hễ có việc chi dân cần là có ngay bộ đội. Có những chiến sĩ ngày ra quân cứ khóc như mưa, không muốn rời đảo, bởi những kỉ niệm nghĩa tình quân – dân đã gắn bó keo sơn.

Biết tôi là con trai xứ đảo, các bạn học cùng lớp thích lắm, nhất là các bạn từ nhỏ đến lớn sống ở Sài Gòn. Các bạn hay bảo, kể cho tụi nó nghe chuyện về xã đảo xinh đẹp của tôi. Tôi không ngần ngại kể. Mỗi lần như thế, tôi lại rủ rê tụi nó về Thổ Chu du lịch một chuyến cho biết. Tôi cũng luôn nhắc lại chuyện với các bạn học, rằng đảo Thổ Châu do Chúa Nguyễn Ánh phát hiện và đặt tên trong thời gian bôn tẩu nhà Tây Sơn. Dù trong Hán tự, Chu hay Châu được viết cùng một dạng tự, nhưng người trên đảo vẫn đọc là Châu. Sau năm 1975, một số cán bộ miền Bắc ra đây công tác gọi là Thổ Chu, rồi dần phổ biến như bây giờ. Tôi còn nói, nếu các bạn ấy đến quê tôi, nhớ ghé đền thờ Thổ Châu thắp một nén nhang thành kính tưởng nhớ anh linh những Liệt sĩ đã hi sinh giữ gìn đảo biển; tưởng nhớ hơn 500 đồng bào ta trên đảo đã bị Khmer Đỏ thảm sát ngày 10-5-1975.

Riêng tôi, tôi không mang tặng ai một nhánh san hô tán, san hô bàng, hay san hô sừng hươu… nào cho các bạn học, bởi đó là tài sản quí báu mà thiên nhiên đã ban cho người dân quê tôi như một đặc ân từ biển cả đã bao đời. Hãy yêu biển, yêu rừng, yêu đảo tiền tiêu như quí yêu hơi thở của mình bằng những việc làm nhỏ nhất, tôi nghĩ vậy! Nhớ về hòn đảo quê hương tôi không thể quên tháng 6 về, mùa dâu rừng, vải rừng chín mọng thơm hương, tôi tự nhủ sẽ gửi tặng các bạn học những chùm trái ngon nhất, như một món quà quê của người dân xã đảo chân tình, mến khách.

Tôi đã xác định cho mình sau khi tốt nghiệp đại học, tôi sẽ trở về lại Thổ Chu, cắm tên mình vào đất đảo như cha mẹ; hoặc ít ra cũng sẽ như loài chim nhạn, dù sinh sống nơi đâu nhưng đến mùa sinh nở cũng quay về Đảo Nhạn quê hương. Về, để tìm ăn những quả quê thơm lừng vị ngọt, vị chua nhưng có hậu của quả vải rừng, dâu rừng. Để ăn những con cá, con tôm nướng trên bếp lửa than hồng sau mỗi chuyến tàu về…

Thổ Chu hai mùa mưa bão; bão dầm dề, nắng biển hanh khô. Nhưng với tôi Thổ Chu chỉ có một mùa xanh tươi rạng rỡ! Thổ Chu – nhớ lắm hòn đảo ngọt ngào hồn quê!

Cao Minh Tèo
(Tỉnh Cà Mau)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 634

Ý Kiến bạn đọc