Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Danh nhân bất đồng

(Tiếp theo VNTPHCM, số báo 513, ngày 30-8-2018)

Giải thưởng Phan Châu Trinh vinh danh Cụ Phan Châu Trinh năm 2011, cho Phạm Quỳnh năm 2018, đều là Danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại. Nhưng hai Danh nhân này có đồng tiêu chí không?

Sinh thời Phạm Quỳnh tỏ ra khinh miệt, căm ghét những người yêu nước công khai chống Pháp như vụ Yên Bái và Xô Viết Nghệ Tĩnh, gọi họ là bọn cường đồ, phản loạn… Mong Nhà nước Bảo hộ trừng trị thật mạnh. Đối với Cụ Phan Châu Trinh, dù đã được gặp Cụ ở Paris hồi 1922, nhưng khi Cụ Phan về nước được nhân dân nồng nhiệt đón mừng. Khi Cụ qua đời năm 1926, phong trào truy điệu, để tang Phan Châu Trinh diễn ra trên cả nước, biểu thị lòng yêu nước của nhân dân ta. Nhưng Phạm Quỳnh đã “… viết một bài trên báo của người Pháp France-Indochine trong đó có câu thóa mạ bần tiện cho rằng đây chỉ là một nhóm người khai thác một cái xác chết…” (Hồi ký Đặng Thai Mai. Trích trong Luận chiến văn chương Q.III. NXB Văn học – 2015. Trg.362).

Còn Cụ Phan Châu Trinh nhận xét về Phạm Quỳnh như thế nào? Xin giới thiệu phần trình bày của GS. Nguyễn Văn Trung:

Một số thanh niên đương thời đã bị Phạm Quỳnh mê hoặc. Điều đó chắc chắn đã có. Những nhà nho yêu nước như Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng đã tố cáo những luận điệu mê hoặc của Nam Phong, Phạm Quỳnh. Ai cũng biết vụ hai cụ Ngô và Huỳnh đả kích việc suy tôn Truyện Kiều do Phạm Quỳnh cổ võ, nhưng ít người biết thái độ của cụ Phan Chu Trinh đối với Phạm Quỳnh, người đã đến xin gặp cụ ở Paris trong thời gian theo lệnh của thực dân sang Pháp thuyết về chính sách bảo hộ.

Trong tập “Phan tây hồ di thảo”, văn tập cụ Phan Chu Trinh do cụ Ngô Đức Kế sao lục và cụ Lương Văn Can xuất bản ở Hà Nội năm 1926 (1), có in một bức thư cụ Phan Chu Trinh viết tại Paris, đầu năm 1925, nhan đề “Bức thư trả lời cho một người học trò tên là Đông”. Bức thư này cho người đọc thấy ý kiến của cụ Tây Hồ đối với các chính phủ bảo hộ, bù nhìn Việt, đường lối cứu nước, với các người như Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn Trường, Phạm Quỳnh. Dưới đây chúng tôi xin trích lại những đoạn cụ Tây Hồ nói về Phạm Quỳnh và Nam Phong:

“… Còn về cái thơ sau của anh, tôi xem đi xem lại thì biết rằng: lúc anh ở bên ta, họ đã làm lầm lạc cái trí khôn của anh đi xa quá rồi, anh đã bị cái bệnh chung của người thiếu niên tôi vừa nói trên, và lại bị Cảm nhiễm những bệnh mới người ta truyền bá trong Nam Phong, bảy tám năm nay. May thay tôi đã gặp anh trước, và có nói chuyện với anh, tôi biết anh là người có lòng yêu nước thực, ham học thực, chỉ vì ít tuổi nên hiểu lầm thôi. Nên đây tôi mới cố gắng mà cắt nghĩa cho anh hiểu, anh xem lời tôi rồi, anh nghĩ thế nào viết thư cho tôi biết, lúc viết thư phải nghĩ đi nghĩ lại cho kỹ, chớ nói bâng thẳng như cái thơ này, ấy là hỏng cả!!…”.

Trong một đoạn khác, cụ Tây Hồ viết: “Anh lại sợ tôi tranh giành, tranh tiếng, tranh công cán với cái đảng thiếu niên như Phạm Quỳnh…, nên anh khuyên tôi đừng lo mất danh tiếng, công cán mà đề huề với các anh ấy để lo việc công ích. Tôi không biết anh nghĩ tôi là người thế nào mà anh dám hạ bút mà biên những câu như thế. Nếu chưa hiểu thì xin anh đem những người nào mà anh gọi là có lòng với nước, anh so đi, sánh lại cho kỹ, để cho thấy thực sẽ nói.

So-514--Anh-minh-hoa--Danh-nhan-bat-dong---Anh-1

Người có lòng với nước chẳng khi nào bắt cá hai tay được cả công lẫn lợi, và cả danh tiếng nữa, nếu thế thì là quân giả dối cả. Vì người có lòng với nước thì chỉ biết có nước mà thôi, sự lợi cho nước thì làm, sự hại cho nước thì tránh, sự sống chết, lợi hại là bỏ ra vòng ngoài cả, còn nếu nói ngược lại, gặp những người lờ đờ, đen không ra đen, trắng không ra trắng, bên nào cũng chẳng mất lòng ai cả, nói trăm điều trượt đến chín mươi chín, anh bảo tôi lại đề huề với những người đó để nhận những 20 triệu đồng bào xuống hỏa ngục sao?

Ấy là tôi cắt nghĩa cho anh hiểu đấy thôi, còn các anh như Phạm Quỳnh thì tôi thấy một hai bài trong nhật trình, không những là giả dối vẽ vời mà lại nói lắm điều hại cho thanh niên nhiều lắm”.

Qua thơ trả lời trên, không thấy cụ nói rõ cậu Đông đã mắc phải những bệnh truyền nhiễm nào của Nam Phong, hoặc những điều Phạm Quỳnh viết có lắm điều hại cho thanh niên nhiều lắm là những điều gì, nhưng cụ đã tố cáo luận điệu mê hoặc, lừa dối của Nam Phong, Phạm Quỳnh và đồng thời tố cáo luôn cả thái độ “nhập nhằng” bắt cá hai tay, vừa làm ra vẻ yêu nước, vừa cộng tác với địch của những người như Phạm Quỳnh và cụ bày tỏ dứt khoát không thể “cộng tác” đề huề với những người như thế.

Chắc hẳn anh Đông biên thư cho cụ khuyên cụ khi về nước, nên cộng tác với những người như Phạm Quỳnh mà anh đã cảm phục lúc còn ở nhà, nhưng theo cụ Tây Hồ, anh Đông đã bị “mê hoặc” nên đánh giá sai lầm những người mà anh tưởng rằng cũng yêu nước như cụ. Trong lời đề hậu của cụ Ngô Đức Kế, cũng nêu rõ điều đó: “Còn bọn thiếu niên như anh Đông đó cũng không lạ gì. Đáng thương xót thay, trong bốn điều nói với ông Tây Hồ đó có khuyên ông về nước thì đề huề với các nhân vật Hà Nội là cánh anh ta đã sùng bái lâu nay, để khỏi mất danh tiếng, công cán, vậy không những là không biết đánh giá cái danh tiếng, công cán Tây Hồ ra thế nào, mà đem việc tranh danh, tranh công nói với một bực đại hiền. Cái kiến thức như thế, đáng thương xót thực nhưng không trách chi anh Đông, anh Đông chỉ là đại biểu cho một phần nhiều trong bọn thiếu niên ta trong khoảng mười năm nay, sinh trưởng trong vùng không khí không trong sạch, đi lầm phương lạc lối vì bọn giả dối đem đường bị chìm ngâm chôn sâu vì vật chất cám dỗ, mới có cái óc trí tưởng như thế, mà ông đã cho là “bệnh truyền nhiễm đó”. 

Không phải chỉ mấy nhà nho mới thấy tính chất lừa bịp, mê hoặc của Nam Phong, mà cả những người tân học ngay thời tiền chiến cũng đã thấy rất rõ. Chẳng hạn, Phụ Nữ Tân Văn số 273 (1935) đã có một bài tố cáo văn học Nam Phong mà tờ báo gọi là văn học thấp hèn, văn học hàng phục, đồng thời cảnh cáo thái độ tách chủ trương chính trị của Phạm Quỳnh khỏi văn tài của ông ta. Chủ trương chính trị có thể xấu phải gạt bỏ nhưng văn tài có thể cảm phục:

“Cái tinh thần một người ăn vận quốc phục và cư xử như một giáo sĩ của đạo nho truyền nhiễm khắp quyển Nam Phong thật là tẻ ngắt, thật là nông nổi, thật là hèn. Ông Phạm Quỳnh hay khen mà chỉ khen người có tiền của thế lực đại khái như khen ông Bạch Thái Bưởi.

Chính cái tinh thần thấp hèn ấy là yếu tố cho một thứ văn học mà ta có thể gọi là văn học Nam Phong.

Học trò ở các trường tiểu học phải đọc những bài văn trích ở Nam Phong thiệt là một sự bất hạnh. Công chúng không bao giờ mến ông Phạm Quỳnh, nhưng Nam Phong có lý tài vững vàng để xuất bản thường xuyên và được quan quyền ủng hộ thì thể nào nó cũng có ảnh hưởng trong hàng trí thức.

Ảnh hưởng ấy là một cái ảnh hưởng rất xấu xa, cái văn học hàng phục đã dẫn dụ một số người trí thức cúi đầu mà công nhận hết thẩy sự bất công ở trong xã hội.

Nam Phong đã ảnh hưởng sâu xa đến một số người viết báo và văn sĩ, thứ nhứt là những người sơ học chỉ đọc quốc văn mà biết văn học triết học.

Vì thiếu phổ biến học thức, vì không am hiểu Pháp văn thành ra nhiều văn sĩ phải học trong Nam Phong các môn học thức phổ thông và nhơn đó mà bị cảm nhiều cái tinh thần nô lệ của nó.

Cho đến đỗi nhiều nhà chủ trương rằng nên đánh đổ ý kiến chính trị của ông Phạm Quỳnh mà yêu các bài văn chương của ông!

Đó là một sự lầm lạc to tát: Tất cả ý kiến văn học triết học xã hội, chính trị của ông Phạm Quỳnh làm thành một cái thống hệ, mà cái thống hệ đó chỉ là cái chủ nghĩa khuất phục của một người muốn nhờ cây bút đưa đến chỗ giàu sang…” (2). 

Ngoài ra, nhóm Phong Hóa Ngày Nay liên tiếp công kích Nam Phong, Phạm Quỳnh, hầu như không một số nào không có bài phê bình chế giễu châm biếm dưới hình thức thơ văn, ca dao, nghị luận, tranh khôi hài của những Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ…

Sau 1954, ngay ở miền Nam, cũng không thiếu gì nhà biên soạn tố cáo tính cách lừa bịp, mê hoặc của Nam Phong, Phạm Quỳnh, nhưng họ ít được biết đến.

Tử Vi Lang trong “Vụ án văn chương truyện Kiều” (1956) (3), đã phơi bày luận điệu ru ngủ, lừa bịp trong việc Nam Phong và Phạm Quỳnh suy tôn Kiều.

Nguyễn Huy Khánh trong “Khảo luận tiểu thuyết Trung Hoa” (4), cũng vạch trần tính cách ngụy biện, giả dối của câu nói: Truyện Kiều còn, nước ta còn: “… hồi còn mồ ma thực dân Pháp khi nói truyện Kiều, một nhà văn kiêm chánh khách đã tuyên bố một câu hết sức “đại ngôn”, hết sức ái quốc: Truyện Kiều còn tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn. Theo ý kiến của nhà “đại văn hào” ấy, truyện Kiều là quốc hồn, quốc túy của nước ta, và vì thế, người Việt Nam chỉ cần “ôm cứng” bộ truyện (tức là bảo vệ chặt chẽ quốc túy quốc hồn) tự nhiên nước ta sẽ còn (nghĩa là không bị diệt vong) mà khỏi phải tranh đấu gì cho mất công. Không cần nói đến dụng ý ru ngủ, phỉnh phờ của câu tuyên bố mồm mà ai cũng có thể nhận ra được, ngay mấy chữ “Truyện Kiều còn tiếng ta còn” cũng là biểu hiện của một quan niệm cũ kỹ, mặc dù khéo che đậy). Bởi vì nói như thế, không phải là đề cao mà chính là xuyên tạc ý nghĩa, hạ thấp giá trị của truyện Kiều; truyện Kiều chỉ mới có một giá trị ngôn ngữ: “Truyện Kiều còn tiếng ta còn” thôi ư?… (trang 226-227).

Lữ Hồ, nhà giáo, nhà biên khảo văn học sử trong bài “Vấn đề dạy văn quốc ngữ” (5), đã tố cáo chính sách ngu dân của thực dân Pháp trong việc dạy quốc ngữ. Họ muốn dùng chữ quốc ngữ để làm quên chữ Hán. Một mặt họ khuyến khích việc phát huy tinh thần cố hữu qua chữ quốc ngữ: “bọn học phiệt Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh với sự ám trợ của Vayrac, Schneider, L. Marty, Hoàng Trọng Phu hăng hái cổ võ. Ông Vĩnh hét: “Nước ta sau này hay dở là do chữ quốc ngữ”. Ông Quỳnh cũng lấy truyện Kiều làm thánh kinh và tuyên dương: Truyện Kiều còn tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn” (trang 30).

Những người đương thời hay sau này biết chắc chắn Nam Phong là công cụ chính trị của Pháp trên lãnh vực văn học, báo chí, hiểu rõ tính chất lừa bịp mê hoặc, đầu độc trong những luận điệu của Phạm Quỳnh, Nam Phong nhưng chưa thể chứng minh bằng những bằng cớ không thể chối cãi được vì chưa thể có điều kiện phanh phui hồ sơ hành chánh mật của thực dân chỉ được phép cho đọc sau 50 năm.

Chúng tôi, những người đi sau, không nói gì khác những người đi trước, nhưng vì có điều kiện phát hiện tài liệu nên có thể góp thêm một số bằng cớ minh chứng cho những luận điểm tố cáo của các bậc đi trước.

Thực ra nếu Nam Phong có tác dụng mê hoặc, đã chỉ có ở nơi một số thanh niên trong giới trí thức, không phải trong giới chính trị hoặc đối với đông đảo quần chúng. Hồi 1922, Phạm Quỳnh được Thống sứ và Toàn quyền gửi qua Pháp nói về văn hóa Việt Nam để biện minh cho chế độ thực dân và để khi về nước giới thiệu thuật chuyện nước Pháp với khuôn mặt khác với khuôn mặt bôi đen của Tân Thư do Khang Hữu Vi đã thuật, một người mà Toàn quyền Sarraut thâm thù gọi là “Điệp viên của Đức” (trong thư gửi Tổng trưởng Thuộc địa).

Chuyến đi này được ông Phạm Thế Ngũ ca tụng coi như “chuyến du hành để khoa trương văn hóa dân tộc” vận động giáo dục của một chiến sĩ phục vụ “Chính nghĩa quốc gia”. Nếu ông Ngũ chú ý đọc mục Thời đàm Nam Phong số 56, ông đã thấy rõ ai sai Phạm Quỳnh đi Tây và ai chỉ định đề tài diễn thuyết cho Phạm Quỳnh phải nói ở Pháp. Rồi nếu ông đọc mấy dòng cuối cùng kết thúc thiên “Pháp du hành trình nhật ký” của Phạm Quỳnh (Nam Phong, số 100), ông sẽ thấy quần chúng lúc đó đối xử thế nào với một “Chiến sĩ yêu nước” phục vụ chính nghĩa quốc gia theo kiểu Phạm Quỳnh:

“Tàu ở Tourane đi rất mau. Mười hai giờ rưỡi đến Hải Phòng, vào gần bến vừa trông thấy mẹ con Giao ở Hà Nội xuống đón. Tàu còn từ từ vào mỗi lúc tưởng bằng mấy giờ. Cầu vừa bắc xong, kẻ trên chạy xuống, người dưới bước lên, nửa mừng nửa cảm không nói nên lời… Tôi ăn cơm với ông Bạch Thái Bưởi và ông Nguyễn Hữu Thu ở hàng cơm Tây rồi chuyến xe lửa 8 giờ 15 lên Hà Nội.

Đến ga đã thấy các ông bạn quen và các ông đại biểu Hội Khai Trí Tiến Đức đứng đón”.

Một chiến sĩ, lãnh tụ đi du thuyết, vận động về mà chỉ có mẹ con Giao ra đón hoặc các ông đại biểu trong cái Hội Khai Trí Tiến Đức đứng đón thật buồn tẻ! Trong khi cũng một chuyến về nước của Bùi Quang Chiêu, cảnh đón tiếp thật náo nức nhộn nhịp. Báo “La Cloche felée” của Nguyễn An Ninh và Phan Văn Trường trong nhiều số ra trước khi Bùi Quang Chiêu về, đã đăng tin việc thành lập một ủy ban tổ chức tiệc trà để đón tiếp Bùi Quang Chiêu gồm độ 20 nhân vật nổi tiếng thời đó như Lê Quang Liêm, Nguyễn Phan Long, Trương Văn Bền, Trần Huy Liệu… Ngày Bùi Quang Chiêu về, Trịnh Hưng Ngẫu tường thuật “Chưa bao giờ một người trở về Đông Dương đã được đón tiếp một cách vĩ đại và phấn khởi đến thế”, con số người đi đón quãng 5 vạn đã kết hợp thành một cuộc biểu dương lực lượng chống lại nhóm Tây thực dân phá rối. Buổi chiều, Bùi Quang Chiêu đã lần lượt tiếp đại diện các phái đoàn thương mại, thợ thuyền đến bày tỏ cảm tình (số 52, 25-3-1926), còn buổi tiệc trà do ủy ban trên tổ chức theo báo của Nguyễn An Ninh tường thuật cũng qui tụ được gần 500 người đi dự (số 56, 1-4-28).

Thực ra, chỉ hai tuần sau, Bùi Quang Chiêu để lộ bộ mặt thực của ông ta qua lá thư ngỏ của tờ “La Cloche felée” gửi yêu cầu ông can thiệp cho Nguyễn An Ninh và E. Dejean de la Batie vừa bị thực dân bắt giam.

Nhưng lúc Bùi Quang Chiêu về, quả thực quần chúng đã nhìn ông ta như một người yêu nước. Còn Phạm Quỳnh, nếu đúng thực Phạm Quỳnh đi du thuyết, vận động văn hóa dân tộc, chính trị yêu nước với tư cách một nhà ái quốc như ông Ngũ tưởng thì dân chúng Hải Phòng và Hà Nội đã chẳng thờ ơ đến nỗi để cho một mình mẹ con Giao ra đón Phạm Quỳnh ngoài bến tàu!

Lê Vĩnh Trường
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 514

————-

Chú thích:
1) Do Phạm Hoàn Mỹ và Nguyễn Ngu Ý phát giác và đăng lại trong báo Nhân Loại Saigon số 11 và 12 (1959): “Một bức thư lịch sử của cụ Phan Chu Trinh cùng lời bàn của cụ Ngô Đức Kế mà ít người được biết”. Bức thư này đã đăng trong “Tân dân đặc san, Hà Nội, 1949”, theo Nguyễn Đình Chú trong bài “Thực chất cuộc đấu tranh giữa Ngô Đức Kế và Phạm Quỳnh chung quanh truyện Kiều”. Nghiên cứu văn học, số 4, tr.12, 1960 – Hà Nội.
2) Trích lại của Huỳnh Văn Tòng trong “Trường hợp ra đời của tạp chí Nam Phong”. Báo chí tập san Xuân Hạ – 1972.
3) Xem “Vụ án truyện Kiều” tập 2, chúng tôi có trích dẫn mấy ý kiến của soạn giả.
4) Khai Trí Saigon – 1959.
5) Sáng Tạo, số 20, tháng 5-1958.

…………

Chú dẫn của người sưu tầm:
Qua trình bày của GS. Nguyễn Văn Trung, chúng ta thấy rõ thực chất của cái gọi là Hội đồng Khoa học của Giải thưởng Phan Châu Trinh.
Cũng cần lưu ý là từ 1960, GS. Nguyễn Đình Chú đã tiếp cận với bức thư của Cụ Phan. Tại sao đến năm 2017, Giáo sư lại cố tình quên bức thư này đi để chỉ một chiều ca tụng Phạm Quỳnh.
Chúng tôi sẽ tiếp tục giới thiệu các tư liệu về chủ đề này để các nhà biên khảo đang bị mê hoặc về Nam Phong – Phạm Quỳnh theo tinh thần của Chủ nghĩa quốc gia bằng ngôn ngữ và văn hóa là cái căn bản của tư tưởng Phạm Quỳnh – Nam Phong.

———————————–

(*) Phần trình bày trên đây trích từ Chủ đích Nam Phong. Nguyễn Văn Trung. Trí Đăng xuất bản. Sài Gòn – 1975. Trang 108-115.

Ý Kiến bạn đọc