Tản văn

Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 45 năm xây dựng và phát triển

 

8 THÁNG 11 NĂM 1975

Ngày đáng nhớ của giới mỹ thuật phía Nam.

Hôm ấy. Sớm đông, khí trời se se lạnh. Trước cổng số 5 – 7, đường Chi Lăng (cũ), sau này là đường Phan Đăng Lưu, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, với một không khí đón chào hồ hỡi nồng ấm của những người đến dự buổi lễ khai giảng năm học đầu tiên 1975 – 1976 của trường Mỹ thuật dưới chế độ nước Việt Nam mới, nước Việt Nam Độc lập, Thống nhất. Một không gian, không khí và một quang cảnh lạ lắm! Đặc biệt lắm! (không nói về cảnh trí được trang hoàng cho ngày lễ đó, vì là nghề của mỹ thuật!).

Vẫn là Trường Vẽ Gia Định, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn (cũ). Trải qua 62 năm với từng thời kỳ lịch sử: 1913 – 1945 (nước ta thuộc Pháp – trường mới thành lập); 1945 – 1954 (cả nước đánh Pháp, giành được nửa nước, miền Nam dưới chế độ Sài Gòn lệ thuộc Mỹ); 1954 – 1975: Cả nước đánh giặc, để cho “Mỹ cút – Ngụy nhào”, giành hoàn toàn độc lập và thống nhất. Trường trải theo từng cấp: Sơ, Trung, Cao đẳng – thời điểm đó (đến năm 1981 mới chính thức có quyết định nâng lên Đại học Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh – QĐ 175/CT, ngày 29/9/1981 của HĐBT). Trường nằm tại địa điểm của hai ngôi trường cũ là Quốc gia Trang trí mỹ thuật Gia Định (cấp trung học) và Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn.

Thành phần dự lễ khai giảng hôm ấy, ngoài đại diện lãnh đạo cấp trên (…), là ban phụ trách trường: hai ông (Nguyễn) Phước Sanh và Cổ Tấn Long Châu (quyết định của Bộ trưởng Bộ Thông tin – Văn hóa Lưu Hữu Phước ký ngày 26-6-1975), cùng số cán bộ khung (miền Bắc vào: Võ Văn Vinh, Hoàng Trầm, Lâm Hồng Khánh, Phạm Mười); ở “R” ra: Nguyễn Văn Kính, Phạm Minh Chánh, Nguyễn Hoàng, Trịnh Dũng, Nguyễn Văn Lương, Lý Châu Hoàn (Khu 5 vào) và Lê Điều (thành ủy viên Thành ủy Mỹ Tho, bị địch bắt giam ở Côn Đảo từ 1955-1973 – họa sĩ duy nhất có tranh vẽ cảnh nhà tù Côn Đảo địa ngục trần gian, tranh treo ở bảo tàng Chứng tích chiến tranh, tác phẩm “Bất khuất” chất liệu sơn dầu khổ 180cm x130cm, do Lê Điều phác thảo, Nguyễn Hoàng thể hiện); và các thầy cô ở trường Mỹ thuật Hà Nội bổ sung: Trịnh Kim Vinh, Nguyễn Bình Đẳng, Phạm Văn Tâm, Nguyễn Chi…; Trần Vạng Lộc, họa sĩ sơn mài, hoạt động tại chỗ là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp; cùng các thầy cô nguyên là giáo viên hai trường cũ được lưu dụng hầu hết, với ý thức của các anh chị muốn cống hiến tốt dưới chế độ mới và hơn 740 học sinh, sinh viên (là các em trường cũ học tiếp tục, trừ những em học năm cuối được cử đi nhận công tác…); và trên 120 là cán bộ, bộ đội giải phóng, đa số được bồi dưỡng kiến thức căn bản về mỹ thuật do họa sĩ Huỳnh Phương Đông mở lớp trong chiến khu, cùng các chiến sĩ làm công tác tuyên huấn, chính trị trong quân đội…

Sau phần nghi thức (…), tác giả bài này lên bục, trịnh trọng đọc bức “Thư Bác Hồ gửi các học sinh năm 1945”… Đến giờ, tôi vẫn còn nhớ như y đoạn “… Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”… Nay (giữa khuya, 2-9-2020…), vừa nhớ chép ra đoạn văn này, lòng tôi thấy nôn nao rạo rực, cả người cảm giác run run, trong đầu ong ong, mắt chấp chóa dòng chữ: “đài vinh quang”… “đài vinh quang”… Bởi, điều ấy không xa mà đã hiện thực rồi đấy (…)!

Còn lúc ấy, để đến được ngày đó, cũng như sự nghiệp bây giờ… Nhớ lại:

Chưa đầy 24 giờ, khi cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc lập của ngụy quyền Sài Gòn ở trung tâm quận 1, thì ở quận Bình Thạnh có một chiếc xe hon-đa 90 màu đỏ gạch (xe đỏ, lấm bùn đất đỏ miền Đông) vượt qua bao vật cản “đồ nhà binh” (quần áo, súng ống, giầy dép…) của quân đội ngụy vương vãi đầy đường… Chiếc xe ấy (hai người thấp cao, người cao cầm lái) từ phía quận 1 qua cầu Bông tới ngã ba Lê Văn Duyệt – Chi Lăng, rẽ trái tiến vào cổng số 5-7… Những người có mặt ở trường ngày giờ đó thật quá ngỡ ngàng, mừng lo lẫn lộn… Bởi, hai anh giải phóng!… Lạ!… Mà… “có quen”!… Là người cao (Cổ Tấn Long Châu, sinh viên hội họa vào khóa 1958, bấy giờ là Phó trưởng Phòng Hội họa giải phóng), một người thấp (Phạm Minh Chánh, là cán bộ họa sĩ Phòng Hội họa giải phóng, được đào tạo ở Hà Nội). Cả hai nhanh nhẹn bước khỏi xe, nét mặt rạng rỡ… bắt tay từng người… “Ngày gặp mặt” lúc đó, là thầy Dương Văn Đen, cô Nguyễn Thị Tâm, thầy Lê Minh Ngữ…; bạn học Huỳnh Văn Phụng, Nguyễn Văn Bảy, Huỳnh Thị Hòa, Trương Thị Thịnh, Đỗ Thị Tố Oanh, Huỳnh Văn Mười, Trần Văn Nhựt…; gác gian bảo vệ ông Bất, ông Lượng; lao công bà Tám, bà Túy…; Phòng hành chánh ông Khá, ông Điểm, cô Én, cô Thoa đánh máy…; rồi Hiệu trưởng Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn Nguyễn Văn Long; Hiệu trưởng Trung học Mỹ thuật Gia Định Trương Văn Ý… Với dáng vẻ vừa mừng vui, vừa lo lắng…

Sau ngày đó, công việc bộn bề làm không ngơi nghỉ… Họa sĩ Long Châu nhớ lại, ngay ngày đầu “thực hiện chỉ thị của Ban Tuyên huấn Trung ương Cục: Vẽ ngay chân dung Hồ Chủ tịch kích thước 6mx4m, và trang trí lễ đài để kịp ngày Hội mừng Độc lập, thống nhất đất nước. Không phải vận động, giải thích gì, mà sự nhiệt tình hợp tác đắc lực của tất cả thầy trò bộ môn khoa, lớp (như thầy Lộc, thầy Ngữ, thầy Mười, thầy Bảy, thầy Phòng, thầy Phụng, cô Tâm, thầy Bang, thầy Mai… chia nhóm thầy vẽ ảnh Bác, nhóm trò trang trí lễ đài… làm không kể giờ, ngày; các anh chị nhân viên hành chính… lo vật tư, ăn uống… mọi việc hoàn thành đúng hạn. Rồi các công việc ở trường, nào việc lập danh sách khai báo trình diện của thầy cô (người có chức sắc hay sĩ quan biệt phái phải tập trung cải tạo vài năm), nhân viên, sinh viên, học sinh… đối với từng trường trung học, trường cao đẳng… rồi việc kiểm kê tài sản, kho tàng… nhất là về hồ sơ tài liệu, tài sản, kho, quỹ (thuộc ông Ngô Văn Khá hành chánh, chị Nguyễn Thị Én, Lê Kim Thoa là thư ký đánh máy, anh Nguyễn Minh Điểm thủ quỹ, Nguyễn Văn Vinh lái xe…) thực hiện khá trôi chảy. Số liệu, hiện vật khá nhiều… Nhưng đều khá đầy đủ, chu đáo, trọn vẹn… Bởi, đã có được sự chuẩn bị chu đáo trước đó của “họ” với ý thức… chờ bàn giao cho cách mạng.

Hơn nửa tháng sau (19-5-1975), đoàn cán bộ khung từ Hà Nội chi viện, có ông Nguyễn Phước Sanh (Hiệu phó trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội, trưởng đoàn), cùng các thầy Hoàng Trầm, Võ Văn Vinh, Phạm Mười, Lâm Hồng Khánh và lần lượt các cán bộ mỹ thuật trong khu kháng chiến ở phía Nam, cán bộ chi viện từ miền Bắc và Hà Nội tiếp tục bổ sung… Việc khẩn trương là phải phấn đấu cho trường “đến tháng 9-1975… hoạt động được” (theo Quyết định số 04/QĐ ngày 26/6/1975 của Bộ Thông tin – Văn hóa, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam). Đó là: Rà soát kiểm tra các mặt; cân đối sắp xếp lại chương trình, giáo trình, nội dung hệ thống đào tạo thống nhất với miền Bắc, vừa phù hợp hoàn cảnh thực tế ở miền Nam, với mục tiêu phấn đấu “đổi mới – phát triển”. Mà đó còn là Nguyện vọng – Ý chí – Niềm tin của những người trong cuộc lúc bây giờ, người đại diện là ông Nguyễn Phước Sanh, làm “Đề án báo cáo”: Nơi đây sẽ là trung tâm Mỹ thuật phía Nam. Với mục tiêu bao trùm là đào tạo đội ngũ mỹ thuật phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân, phục vụ nhiệm vụ xây dựng lại đất nước sau chiến tranh. Theo chương trình đào tạo, ngoài học tại lớp ở trường, mỗi năm học kết hợp tổ chức các lớp đi thực tập ở địa phương (tức “học nghề” ở trường và “hành nghề” trong thực tế đời sống; và phải “3 cùng”: cùng ăn, cùng ở, cùng làm giúp dân). Đây là điểm mới đối với thầy cô và học sinh trường cũ… Và để hòa hợp, kết hợp nâng cao tay nghề cho các thầy cô, trường tổ chức một phòng vẽ khang trang dành riêng cho các thầy cô… Một môi trường “hành nghề” nhân văn.

Trong thời gian khoảng 5 năm (1975-1980), yêu cầu phải đạt được: Cán bộ mỹ thuật (trung cấp, cao đẳng) đáp ứng kịp thời, đầy đủ tại các cơ quan, hội nghề, đơn vị văn hóa nghệ thuật – tuyên huấn tuyên truyền – giáo dục chính trị… cho các tỉnh thành, đặc khu phía Nam; cho quân đội và các ngành văn hóa, kinh tế, xã hội của trung ương đóng tại phía Nam… Trước mắt, bây giờ làm gì để thay đổi, nâng cấp bộ mặt mỹ thuật ở những nơi, chốn cần thiết… Cả miền Nam, sau 30 năm chiến tranh liên miên (9 năm chống Pháp + 21 năm chống Mỹ), cảnh vật hoang tàn, dân tình ly tán… Và Sài Gòn là “ổ” chiến tranh, là nơi “chạy loạn” ẩn cư của dân quê tứ xứ… tạo cảnh xô bồ “ổ chuột”… thì một mỹ thuật có làm gì cũng không gìn và giữ nổi “hòn ngọc” khi xưa… Nhưng trước mắt, thầy trò mỹ thuật tranh thủ cải tạo bộ mặt chợ Bến Thành… Tôi rất nhớ ngày đó. Vui lắm!

Còn bây giờ với tập thể quản lý nhà trường (đứng đầu là “trưởng và phó phụ trách”) phải vừa lo cho trường việc “dạy – học” thế nào; vừa lo cung cấp kịp thời cán bộ mỹ thuật cho địa phương đang thiếu trầm trọng… Ai cũng như đang lên cơn sốt, vừa “chiêu mộ” những “trợ thủ” ăn ý, đắc lực cùng giúp xây dựng trường mới (về chuyên môn như Nguyễn Hoàng, Trịnh Dũng, Thái Đắc Phong, Nguyễn Văn Lương (sau đó bổ sung cho trường Đồng Nai)… từ Bến Tre, Thủ Dầu Một, Cần Thơ, Bà Rịa đến; Nguyễn Thanh Minh, Nguyễn Bình Đẳng, Trịnh Kim Vinh, Phạm Văn Tâm, Trần Văn Phú, Nguyễn Chi… từ Hà Nội vào; còn lo mảng bổ túc văn hóa (BTVH)… phải “mượn chui” (“xin”, bộ không cho…) cán bộ của Bộ Văn hóa, là anh Trần Văn Ban (chuyên viên của Vụ TCCB, bộ phận đóng tại TP.HCM), chỉ được làm việc ngoài giờ về giáo vụ BTVH. Vừa giúp địa phương đáp ứng kịp thời những chỗ đang quá thiếu cán bộ mỹ thuật, trường đã cử lớp học sinh trung học, sinh viên cao đẳng năm cuối của hai trường cũ (đúng ra là làm bài tốt nghiệp tại trường) đi nhận công tác ở nơi ấy… Và sau một năm hoàn thành về thi tốt nghiệp xong, trở lại nơi đó tiếp tục phục vụ và các em càng trưởng thành. Trong số đó, có Huỳnh Văn Cao (hội họa), về Bến Tre; Nguyễn Háo Thoại (hội họa), về trường Mỹ thuật trang trí Đồng Nai; Nguyễn Tín Trung (kiến trúc), về quận 10, TP. Hồ Chí Minh…

Lúc này, trường tổ chức 2 cấp học : Hệ trung học (3 năm cho số học sinh là cán bộ kháng chiến (3 năm đầu) và học sinh cũ ở trường có nền văn hóa cấp 3 (trên 20 khóa); và 5 năm cho số học sinh phổ thông có trình độ văn hóa hết cấp 2 (hiện học ở trường cũ, nhưng thụt lại một lớp là năm thứ 2 thành năm thứ nhất…); Hệ cao đẳng 6 năm và thêm phân hiệu văn hóa cấp tốc (học ban đêm, chủ yếu cho cán bộ, bộ đội – có quyết định của Bộ VH&TT cho lập Ban giám hiệu BTVH do thầy Cổ Tấn Long Châu làm hiệu trưởng, thầy Trần Văn Ban làm hiệu phó). Trong hệ cao đẳng có Khoa: hội họa (sơn mài, sơn dầu, lụa…), đồ họa (khắc gỗ, đá…), điêu khắc, lý luận mỹ thuật, thiết kế mỹ thuật điện ảnh – (mới); tổ chức hành chánh có Phòng (giáo vụ, tổ chức, giáo dục chính trị, hành chính quản trị); và Xưởng kỹ thuật chất liệu – (mới).

Sau vài năm đầu, trường đã kịp thời cung cấp cán bộ tới các vị trí đứng đầu hoặc chuyên môn nghiêp vụ đủ chất lượng: Tại thành phố Hồ Chí Minh, từ Bảo tàng Mỹ thuật, Bảo tàng Cách mạng, Phòng Thông tin cổ động (thuộc Sở VHTT) và các ban văn hóa – thông tin quận, huyện; các đơn vị của trung ương, quân đội, như Trường Nghệ thuật Sân khấu 2, Đại học Kiến trúc, Bảo tàng Quân khu VII… Kể cả các tỉnh từ Cà Mau, An Giang… đến Lâm Đồng, Ninh Thuận…

Điều hết sức quan trọng và căn bản là sự đầu tư cho “đề án” (…) và trực tiếp tổ chức thực hiện xây dựng trường thành Trường Đại học Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, vừa làm Trung tâm mỹ thuật ở phía Nam (từ Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận trở vào), chỉ có 5 năm (1975 – 1980) để có thành quả đến hiện nay. Đây là một mong muốn và cũng là một nhiệm vụ vô cùng nặng nề, mà những người tâm huyết như nhà điêu khắc Nguyễn Phước Sanh, người đại diện, cùng những anh chị từng học tập, làm việc, cống hiến cho nghệ thuật và cách mạng ở cả hai miền tụ họp về đây…

Có gần các anh (Phước Sanh, Long Châu, Hoàng Trầm, Hồng Khánh, Lê Tâm… cùng ở chung nhà tập thể khách sạn nhỏ số 290, Hai Bà Trưng, quận 1, mỗi người một phòng hẹp, phần lớn ở cả gia đình), mới thấy những ngày tháng ấy, phòng anh Sanh (anh ở một mình), anh Châu, anh Tâm (hiệu phó)… đêm đêm luôn sáng đèn (…). Còn ngày, các anh đến trường rất sớm để rà soát, kiểm tra, nhắc nhở (…) và tổ chức thực hiện các công việc đã sắp xếp sẵn của từng hệ, khoa, phòng… triển khai nhiệm vụ (…). Để sau 6 tháng kịp ngày khai giảng đầu tiên và đúng sau 12 tháng kể từ ngày khai trường đầu tiên ấy, chính thức được xác nhận hiệu quả, để là “Trường Cao đẳng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh” (theo QĐ số 707 BVH/QĐ, ngày 12/11/1976 của Bộ Văn hóa), rồi 5 năm sau nữa (1981) chính thức là “Đại học Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh”. Thật không dễ dàng chút nào!

Những tháng năm ấy, kinh tế cả nước khó khăn tột cùng (tàn tích hơn 30 năm chiến tranh; Mỹ triệt để cấm vận; bạn bè trở mặt…), thầy và trò trường mỹ thuật nằm trong hoàn cảnh chung ấy, lại còn có vẻ khó khăn, lúng túng hơn (“thầy ngao ngán, trò không ham học, chất lượng đào tạo bị suy giảm…” như tự nhận của trường – trong Kỷ yếu 95 năm… về trường)… Mà khó nhất là làm gì để vừa “có thực…”, vừa đảm bảo đào tạo đúng chuẩn chất của trường mỹ thuật? Một bài toán quá khó.

Nhưng rồi, ngay sau các cuộc học tập phát động “làm mới” tư tưởng, chính trị (…), những nhà tạo dựng trường vào cuộc “xây dựng trường” một cách khẩn trương kiểu “vừa chạy, vừa xếp hàng”, với cường độ làm việc còn như thời chiến “mỗi người làm việc bằng hai” (đã để lại dấu ấn khó phai và hiệu quả lâu dài), như triển khai kịp thời tuyển sinh các lớp đặc biệt (ngoài các lớp thông lệ: hội họa, đồ họa, điêu khắc), là lớp thiết kế mỹ thuật điện ảnh (1976 – 1 lớp/10 sinh viên), lớp lý luận lịch sử mỹ thuật (3 lớp – 1976, 1979, 1980)/26 sinh viên). Cho thấy vừa thiết thực đáp ứng nhu cầu hoạt động của ngành điện ảnh cho hoạt động làm phim thời đó (Xưởng phim Giải phóng – số họa sĩ ấy, đạt được 2 nghệ sĩ ưu tú); với ngành mỹ thuật phục vụ cho công tác giảng dạy môn lý luận lịch sử mỹ thuật ở tại trường (3 nhà giáo, sau 25-30 năm có một hiệu trưởng trình độ tiến sĩ và ở tỉnh Cần Thơ một hiệu phó), cũng như nhiều nghệ sĩ tài năng và hoạt động phản biện mỹ thuật trong xã hội… Cùng những lớp ra trường đầu tiên (1977, 1978, 1979) đã cung cấp cán bộ nòng cốt cho nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương ngay những ngày đầu (Trường Mỹ nghệ Bình Dương, Bảo tàng Mỹ thuật và trường Đại học Kiến trúc TP.HCM; các Sở Văn hóa Bình Dương; Cần Thơ, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cà Mau…). Chủ động chuẩn bị nguồn cán bộ tại chỗ là kịp thời mở lớp tại chức, cả đặc cách (từ năm 1980, đại học trên 30 khóa trên 400 học viên, cao học trên 10 khóa, gần 200 học viên… để vừa có ngay cán bộ nòng cốt, lãnh đạo và bổ sung cán bộ đủ năng lực cho nhiều địa phương, nhiều cơ quan đơn vị…); tổ chức đào tạo tại địa phương (hình thức hợp đồng, có thu chi…) với nhiều tỉnh; liên kết đào tạo với trường Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai các khóa cao đẳng (Mỹ thuật ứng dụng)…

Để thực hiện được vừa “có thực…” vừa đúng chuẩn chất (…), trường có những bước đi vừa bám chắc những văn bản chỉ đạo của nhà nước, vừa sáng tạo, cải cách “thoáng” phù hợp nhu cầu thực tiễn. Khi kinh tế thị trường phát triển, từ năm 1990-1991 trường mở thêm khoa Mỹ thuật ứng dụng… nhằm bắt kịp xu hướng phát triển của đất nước và thời đại, nhất là TP.HCM làm đầu tàu kinh tế cho các tỉnh ở phía Nam (xuất hiện nhiều tài năng về thiết kế trang trí mẫu mã sản phẩm, về thiết kế thời trang…); ngành giáo dục phổ thông có nhu cầu dạy học sinh về năng khiếu mỹ thuật, từ năm 1997-1998 trường tiếp tục mở thêm khoa Sư phạm Mỹ thuật (6 khóa – đến 2008), mở hàng chục lớp đại học tại chức (hội họa và sư phạm) ở Lâm Đồng, Bình Dương, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu… vừa đảm bảo có thu nhập để giải quyết phần nào khó khăn về đời sống của giảng viên và CBNV ở nhà trường, đồng thời đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ mỹ thuật cho khu vực phía Nam.

Nhưng định hướng chính của trường vẫn là đào tạo đội ngũ sáng tác tác phẩm mỹ thuật truyền thống và đương đại; nhà sư phạm mỹ thuật và nhà nghiên cứu lý luận – phê bình; đồng thời phát triển đào tạo mỹ thuật ứng dụng, một loại hình mỹ thuật gắn với đời sống, rất cần trong nền kinh tế thị trường; trường còn giúp mở khoa mỹ thuật cho Trường nghệ thuật Phnôm Pênh (Campuchia – 1980); kết nghĩa đào tạo với Trường Cao đẳng Mỹ thuật Dresden (Đức – 1979); trao đổi giảng viên và sinh viên, hợp tác nghiên cứu khoa học với nhiều trường trong khu vực và quốc tế, như Nga, Pháp, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan… đào tạo nhiều sinh viên nước ngoài về lĩnh vực sơn mài là chất liệu và nghệ thuật độc đáo của nước ta…

Nhà trường kết hợp chặt chẽ với Hội Mỹ thuật thành phố, cùng Chi nhánh Hội Mỹ thuật Việt Nam ở phía Nam thường xuyên tổ chức sáng tác, triển lãm cho thầy và trò, có hình thức chấm giải để khuyến khích tinh thần nghiên cứu học thuật và thi đua sáng tạo, cả sự góp ý đánh giá tác phẩm, công trình mỹ thuật. Trường còn đứng ra nhận lãnh công trình mỹ thuật cho các thầy trò sáng tác… Nhà trường là lực lượng tác giả hùng hậu tham dự triển lãm tác phẩm mỹ thuật toàn quốc từng năm và 5 năm một lần, hầu như lần nào ở trường cũng có tham gia và đều có giải. Ngay lần đầu sau miền Nam giải phóng (1976, giải vàng, bạc của thầy Cổ Tấn Long Châu, thầy Lê Minh Ngữ về tranh cổ động chủ đề bầu cử Quốc hội thống nhất); năm 1980, tác phẩm sơn mài “Mẹ kháng chiến” giải A, của thầy Hoàng Trầm; năm 1990 tại cuộc triển lãm Mỹ thuật toàn quốc, tác phẩm “Tiếng khèn dân tộc Chăm” của SV Nguyễn Hoàng Ánh (khóa 1986-1991) đạt giải vàng, tượng trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (Hà Nội); năm 2003, dự triển lãm Điêu khắc toàn quốc lần thứ IV, ở trường đạt cả 3 loại giải đồng, bạc, vàng (Đinh Rú, giảng viên – tác phẩm “Màu da cam, nỗi đau cuộc chiến”, giải đồng; Lý Châu Hoàn, công tác tổ chức – tác phẩm “Công binh làm cầu…”, giải bạc; và Nguyễn Hồng Dương, sinh viên khóa 1996-2001 – tác phẩm “Hội đâm trâu”, giải vàng); triển lãm mỹ thuật lần đầu sau giải phóng tại TP.HCM (1978), có một giải A về điêu khắc (Lý Châu Hoàn, trưởng phòng tổ chức của trường với tác phẩm “Sửa dép”)… Trường luôn hướng học trò “học phục vụ nhân dân, phục vụ nhiệm vụ chính trị”, ngay ra đề thi tốt nghiệp cho sinh viên khóa I (1977) cũng được kết hợp lồng ghép nội dung chính trị phù hợp dự án công trình quan trọng của TP.HCM lúc đó, như “Nam kỳ khởi nghĩa” (năm 1985, nhân Kỷ niệm 45 năm (…), được thành phố chọn mẫu bức tượng tốt nghiệp của 3 SV Phạm Ngọc Lễ, Huỳnh Văn Lộc, Trần Nhất Tâm, để dựng ở Hóc Môn); đến bài đặc cách tốt nghiệp khóa XXII (1998), tượng đài Bác Hồ – Bác Tôn (của SV Lý Châu Hoàn, tốt nghiệp cử nhân ở tuổi 63) được UBND TP. Hồ Chí Minh chọn dựng ở Khu Di tích chiến công thu nhỏ của các LLVT miền Đông Nam bộ (tượng đặt ở khu vực TP.HCM, thuộc Bảo tàng QK VII và một số bảo tàng khác…). Trường còn nhận nhiệm vụ thực hiện công trình tượng đài Bác Hồ về thăm quê ở Nghệ An năm 2000 (tác giả Đỗ Như Cẩn, giảng viên, cùng tập thể thầy trò khoa điêu khắc), là một uy tín chính trị lớn và tạo thêm tín chỉ năng lực về nghề. Năm 2001, nhà trường vinh dự được Thành ủy TP. Hồ Chí Minh giao thực hiện 3 bức tranh hoành tráng đặt tại 3 mảng tường gian chính tại Đền tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược – Củ Chi, kích thước mỗi tranh 4mx25m (300m2), bằng chất liệu ghép gốm màu (a); là tranh ghép gốm màu lớn nhất Việt Nam thời điểm đó. Sau ngày miền Nam giải phóng, nhu cầu tượng đài, tượng công viên ở nhiều tỉnh thành vừa lớn vừa phong phú, đa số tác phẩm được dựng tại công trình, dự án lớn nhỏ đều do thầy và trò ở trường thực hiện…

Được sống và cống hiến 8 năm (1975 – 1983) cho trường trong thời điểm ấy và còn điều kiện gần gũi dõi theo công việc của trường một thời gian (b); tôi nhận thấy: Trường thực sự đã làm nên sự tích (…), đích thực là cái nôi đào tạo lực lượng làm công tác mỹ thuật ở phía Nam (trên 5.000 cử nhân đại học và trung cấp mỹ thuật cung cấp cho xã hội), đội ngũ đó góp phần cùng cả nước xây dựng nền mỹ thuật nước nhà, cùng muôn ngàn ngành khác làm nên “Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu”.

Được như vậy, trước hết trường phải “tự cường”, tự nâng cấp mình trong bối cảnh về khách quan hoàn toàn “khởi đầu nan”. Vậy, chủ quan phải có bản lãnh thực sự “vượt lên chính mình”. Và trường đã làm được, để hiện tại về năng lực của trường luôn luôn với biên chế 64 giảng viên cơ hữu, trong đó 50 có trình độ thạc sĩ, 6 tiến sĩ (chưa kể số nghỉ hưu, có 8 nhà giáo ưu tú, 5 nhà giáo nhân dân (c); 2 phó giáo sư (d). Trường đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì và Huân chương Độc lập hạng Ba; nhiều Bằng khen của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch và của UBND Thành phố Hồ Chí Minh, cùng nhiều tỉnh khác…

So bề dày lịch sử 107 năm của trường (1913 – 2020), thì 45 năm này chỉ hơn 1/3 thời gian. Nhưng là thời kỳ phát triển vượt bậc của trường hướng theo sự đi lên của đất nước (…), mà Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng từng phát biểu (trích đại ý nội dung câu nói): Đất nước ta chưa có bao giờ được như bây giờ!…

Ngày này (8-11) sau 45 năm, nhìn về phía trước, tuy còn ngỗn ngang thách thức, nhưng thuận lợi vẫn là cơ bản và tiền đồ luôn rộng mở, cơ hội phát triển của trường còn rất thênh thang. Tương lai, TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH tiếp tục phấn đấu, tiếp tục phát triển không ngừng, để không hổ danh với Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố mang tên Bác, Thành phố Thành đồng Tổ quốc, Thành phố có tiềm năng phát triển hàng đầu của cả nước về mọi mặt.

Lý Châu Hoàn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 619

————————————–
(a) Bức tranh số 1: “Dân khai hoang thành lập sứ”, tác giả chính, họa sĩ Nguyễn Trung Tín. Bức tranh
số 2: “Nhân dân ta bị đô hộ áp bức – Đoàn kết đấu tranh giành thắng lợi”, tác giả chính, họa sĩ Hoàng Trầm. Bức tranh số 3: “Sức tiếp sức chống xâm lăng”, tác giả chính, họa sĩ Lê Đàn. (b) Công tác chuyên trách Đảng bộ KCS Bộ VH và TT (nay là Bộ VHTT và DL). (c) Nguyễn Phước Sanh, Hoàng Trầm, Nguyễn Hoàng, Huỳnh Văn Mười, Trương Phi Đức. (d) Cố PGS Nguyễn Phước Sanh và Cố PGS Trịnh Kim Vinh.

Ý Kiến bạn đọc