Truyện ngắn

Đại ca

Một

Sáu Dõi nhìn đồng hồ rồi bảo tôi:

- Mày ngồi chờ tao tí. Đến giờ gọi bò về rồi.

Hắn tháo chiếc tù và sừng trâu bên hông, bước ra khỏi trại. Leo lên nóc nhà bia một ngôi mộ cổ, hắn đưa tù và lên thổi: “Tù oa… tu tu tu tu… Oa oa oa…”.

Tôi thoáng rờn rợn. Nhìn cái cách hắn mình trần đứng dạng chân, một tay chống hông một tay chĩa tù và lên trời trước một rừng mồ mả lô nhô, tôi nghĩ đến nhân vật Boromir trong bộ tiểu thuyết The Lord of the Rings của nhà văn Tolkien. Nhưng ấn tượng hơn cả là cái giai điệu vừa trầm hùng vừa hoang dã mà hắn tạo ra. Khi chiều hắn kể chiếc tù và này là quà tặng của một thằng bạn người Bana thời hắn còn làm lâm tặc trên rừng già Tây nguyên.

Hắn lại thổi thêm hai hồi nữa, tiết tấu giục giã hơn:

- Tù oa tù oa tù oa… tút tút – tút tút – tút tút. Oa…

Tiểu thuyết của Tolkien kể rằng: Chiếc tù và của Boromir là một vật báu gia truyền. Nó được chế tác từ chiếc sừng của con bò thần Araw. Trong trận đánh của Pelenor với đội quân của bộ tộc Orcs – một bộ tộc độc ác, thô bạo và xấu xí thuộc phe Chúa tể Bóng Tối, “… Âm thanh thách thức của nó rống lên vang dội, như tập hợp của biết bao tiếng thét dưới trần cao lộng. Trong phút chốc, lũ Orcs nao núng và những bóng đen cháy rực cùng đứng khựng lại…” – Tolkien mô tả.

Còn ở khu nghĩa địa Gò Đình vắng vẻ này, sau tiếng tù và thì thoáng thấy từng nhóm vài ba con bò đủng đỉnh trở về từ phía sau những ngôi mộ cũ mới lớn bé đủ cỡ, đủ hình dạng. Sáu Dõi bảo đàn bò mà bọn hắn đang chăn giữ có cả thảy 79 con, hầu hết là bò cái và bê non. Nhưng phần lớn đó là tài sản của dân làng, phần bọn hắn chỉ có hơn một chục. Vợ chồng Sáu Dõi và 4 đứa đàn em chủ yếu sống nhờ vào tiền công chăn dắt.

Năm năm trước, sau đận trại gỗ trên Tây nguyên bị đánh úp do không còn được bảo kê, sự nghiệp 7 năm làm lâm tặc của Sáu Dõi xem như phá sản. Hắn gom được một ít tiền, trở về làng với chiếc ba lô cũ mà ngày trước đã mang đi sau khi lầm bầm văng tục một tiếng “cứt” ở ngã ba làng. Cha mẹ hắn đã qua đời, chỉ còn một bà chị góa chồng đang nuôi hai đứa con dại. Làng bây giờ đã khá hơn nhưng chị hắn vẫn nằm trong số những người bị bỏ lại phía sau, lây lất. Một ngày hắn ra thắp nhang cho cha mẹ ở nghĩa địa Gò Đình, nhìn những vạt cỏ xanh chen giữa mồ mả điệp trùng hắn nảy ra ý định khởi nghiệp bằng cách chăn bò thuê. Mấy năm gần đây, ở nhiều làng quê đang rộ lên phong trào nuôi bò, nhất là bò cái. Một con bê cái 6 tháng tuổi có giá ngót cả chục triệu đồng. Nhà nào để dành được kha khá cũng nghĩ đến chuyện mua bò. Nhưng thời nay trẻ em không chịu làm mục đồng nên thiếu người chăn dắt.

Và thế là cái trại chăn bò thuê của Sáu Dõi ra đời. Hắn gom thêm được mấy đứa trẻ nghèo lang thang chuyên nhặt phế phẩm tang ma ngoài nghĩa địa. Sống với Sáu Dõi, bọn trẻ dần trở nên nề nếp hơn. Mỗi đứa phụ trách khoảng 20 con bò. Công việc hằng ngày là đừng để bò đi quá xa và chiều tối phải báo cáo đủ số bò về trại sau tiếng tù và.

Lúc này, qua điện thoại đã có 3 đứa báo cáo “đủ”. Chỉ riêng thằng Lượm là chưa lên tiếng. Sáu Dõi gọi:

- Lượm! Bò mày thế nào rồi?

- Dạ, đại ca… Hình như… còn thiếu con Lang Trán, tìm nãy giờ chưa thấy – Giọng thằng Lượm run run.

Sáu Dõi quát:

- Chết rồi! Con Lang Trán có chửa sắp đẻ. Cả ngày nay mày đi đâu?

Hắn vội nhảy xuống, chạy ra phía trại bò. Đó là một cái lán tranh tre khá rộng nhưng che chắn sơ sài cho bò ngủ qua đêm. Cả đàn bò đang lần lượt ngoan ngoãn về chuồng. Một số chú bê con còn nghịch ngợm nhảy lò cò kêu om. Đúng là không thấy con Lang Trán. Sáu Dõi hét cả bọn chia nhau đi tìm. Đang nhâm nhi một mình với món kì nhông xào sả, một đặc sản trên vùng trảng mả này, tôi cũng bỏ đũa chạy theo.

Chúng tôi đi về phía tây bắc, bởi nghĩa địa Gò Đình trải dài về hướng đó và được giới hạn bởi một con đường nhựa vắng vẻ chạy từ quốc lộ 1A ra phía biển, băng qua con sông Ngao ở phía đông và những trảng cát trải dài bất tận. Trước kia, người trong vùng coi đây là con đường “du côn” do thường xuyên xảy ra những vụ trấn lột, hãm hiếp. Những ngôi mộ sừng sững đầy vẻ linh thiêng ven đường lại là sào huyệt lí tưởng của bọn tiêm chích tứ phương, luôn có nhu cầu làm tiền và làm tình. Nhưng từ khi anh em Sáu Dõi giải cứu cho một cô gái và kẹp cổ được hai thằng du côn giao cho công an thì bọn tội phạm đã bớt lộng hành. Tuy vậy, đã có lần một chú bê suýt bị bọn chúng dắt trộm đưa đi lò mổ. May mà bọn Sáu Dõi đã phát hiện, vây bắt và giần cho chúng một trận tả tơi.

Hai

Cuối cùng, khi ánh hoàng hôn chỉ còn thoi thóp, con Lang Trán đã được tìm thấy trong một ngôi mộ cổ. Nó đang le lưỡi liếm khắp mình chú bê non vừa mới ra đời. Chú bê cố choãi hai chân trước gượng đứng lên nhưng hình như bị chiếc lưỡi của mẹ nó đè xuống. Nó lại húc mõm vào vú mẹ. Thằng Lượm reo lên:

- Bê cái! Nhà bà Hai Du trúng đậm rồi!

Bà Hai Du là chị cả của Sáu Dõi, chồng chết trong một vụ tai nạn giao thông. Chị sống bằng nghề rửa bát thuê cho các nhà hàng trên thị trấn. Hai năm trước, chị dành dụm mua được con bê Lang Trán, gởi vào trại bò Sáu Dõi. Không phải ngẫu nhiên mà gần một nửa đàn bò này đều có chủ là những người đàn bà góa trong làng. Họ là những người nghèo nhất trong những người nghèo.

So-531--Anh-minh-hoa---Dai-ca---Anh-1

Thằng Lượm bế con bê non vào lòng, hất hàm về phía con bò mẹ:

- Lang Trán, về thôi!

Con bò mẹ ngước nhìn thằng Lượm rồi khó nhọc đứng dậy đi theo hắn. Sáu Dõi móc điện thoại ra gọi:

- Chị Hai, một con bê cái!

Đầu dây bên kia có tiếng reo lớn. Chắc là chị Hai Du mừng lắm.

- Tối nay có tí cay rồi! Hê hê! – Thằng Cu Lạc đi phía sau cất tiếng đoán mò.

Nhưng mà trúng, khi chúng tôi vừa về đến trại đã thấy chị Hai Du mang tới một “xo” (1) rượu gạo cùng mấy đĩa mồi, vui vẻ nói là để mừng con bê cái. Trong khi vợ Sáu Dõi dẫn chị ra lán thăm mẹ con con Lang Trán, tôi và 5 anh em trại bò bê cả rượu, mồi, kéo sang một ngôi mộ cổ nằm phía dưới chân gò đất. Hình như nó vừa được tu bổ lại. Cái nấm mộ hình bầu dục được láng phẳng bằng xi măng, chỉ chừa lại một cái khe dài ở chính giữa. Thỉnh thoảng như tối nay, nó lại biến thành một bàn nhậu. Ở đây đứa nào cũng biết uống rượu. Nghe bọn chúng gọi Sáu Dõi là đại ca, tôi hỏi:

- Sao mấy đứa xưng hô với mày nghe cứ như băng đảng giang hồ vậy?

- Tao cấm nhiều lần nhưng không ổn. Trong 4 đứa này, thằng cu Lạc mới 15 tuổi, nhỏ nhất, đáng ra phải kêu tao bằng chú. Thằng Tứ, thằng Hiên thì 19, 20 rồi. Còn thằng Lượm thì chỉ nhỏ hơn tao 10 tuổi. Trong trại có cuốn truyện Thủy Hử, bọn nó tranh nhau xem đi xem lại đến nát cả cuốn sách rồi bắt chước các anh hùng Lương Sơn Bạc, hè nhau gọi tao là đại ca. Thôi vậy cũng được – Sáu Dõi phân trần.

Cu Lạc cười he he:

- Đại ca là Tống Giang trại chủ!

- Bậy! Đại ca mình đẹp trai, trông giống Yến Thanh hơn. Yến Thanh thổi tiêu, đại ca thổi tù và – Thằng Lượm cãi.

- Vậy thì chị Thủy là Lý… – Thằng Hiên vừa chen vào đã vội che miệng lại. Có lẽ nó cảm thấy mình lỡ lời.

Sáu Dõi nhìn ra phía trại bò, cười gằn:

- Ý mày là Lý Sư Sư chớ chi? Được vậy thì bọn mình đâu cần phải đi chăn bò cho cực. Mà Yến Thanh đâu có lấy được Lý Sư Sư.

Hình như vợ Sáu Dõi vừa bật điện. Cả khu lán trại sáng rực lên dưới 5, 6 bóng đèn compact. Ngay sát bờ thành ngôi mộ cũng có một bóng đèn mắc trên sào tre. Chị Hai Du đến chào anh em rồi ra về. Sáu Dõi nâng li mời cả đám. Hắn chép miệng:

- Thằng Linh quê ở miệt nguồn lại xa xứ quá lâu nên không rành chuyện làng này. Nhưng chắc mày còn nhớ chuyện tao đi tù. Con bé Thơm hồi đó là con Thủy bây giờ đây.

- Hả, mày đùa à?

Tôi kinh ngạc ngó sững vào mặt Sáu Dõi trong khi 4 đứa kia vẫn tỉnh bơ ngồi uống tì tì. Hắn xoa cằm, ngước mặt lên nhìn trời rồi kể với cái giọng giống như Đài Tiếng nói Việt Nam đọc truyện đêm khuya.

Ba

Hóa ra cuộc đời Sáu Dõi có những chuyện mà thời còn học chung với nhau tôi chưa hề biết. Chị Hai Du không phải chị ruột hắn. Cha mẹ chị đẻ một lèo 3 đứa con gái là Hai Du, Ba Di, Bốn Giữ, đến lần thứ tư mới sinh được một mụn trai là Năm Dòng. Vào cái thời mà cuộc vận động kế hoạch hóa gia đình trở nên quyết liệt, ông Độ là cha hắn phải đi thắt ống dẫn tinh. Nhưng lạ thay, chỉ trong vòng mấy năm những đứa con trai một của nhiều gia đình triệt sản trong làng lần lượt đổ bịnh rồi chết. Năm Dòng cũng nằm trong số đó. Một đêm quảy dưa đi bán chợ khuya, ông Độ phát hiện một hài nhi bị ai đem bỏ trong lều chợ, chỉ quấn bên ngoài bằng một chiếc áo kaki. Sờ thấy nó có con chim như trái ớt hiểm, ông mừng quá vội đùm trong bao tải mang về, bỏ luôn cả gánh dưa chưa bán được.

Từ đó, hắn trở thành Sáu Dõi. Nhưng để giữ được bí mật về gốc tích, bà Độ phải âm thầm bế hắn về sống bên quê ngoại ngoài Cù lao suốt 2 năm rồi mới trở lại. Cho nên trong làng ai cũng đinh ninh hắn là đứa con trai nối dõi của nhà ông Độ. Hắn lớn lên, ngày càng cao to, đẹp trai, học giỏi. Cùng ngồi một bàn suốt 3 năm cấp 3, tôi rất thân với hắn, nhiều khi lại cảm thấy ghen tị vì hắn được trời ban cho quá nhiều thứ. Thầy cô dạy môn nào cũng đem hắn ra làm gương. Mấy đứa con gái cùng lớp lúc nào cũng sẵn sàng đá lông nheo cười duyên với hắn.

Nhưng đến cuối năm lớp 12, tự dưng hắn đổ đốn. Hắn “trực” ở bàn bi-a nhiều hơn ngồi trong lớp. Hắn đâm ra lầm lì, ít chuyện trò với ai lại còn hay gây gổ. Bạn bè không ai biết chuyện gì đã xảy ra. Tôi đến nhà hắn lén dò hỏi thì mới vỡ lẽ. Do tình cờ, Dõi phát hiện mình là con hoang nhặt được trong lều chợ. Cộng thêm gia cảnh ngày càng túng quẫn trong khi thiên hạ đang tranh nhau đổi đời, hắn đâm ra mặc cảm, mất niềm tin vào mọi thứ. Năm ấy, Dõi bỏ cả kì thi tú tài và lặn biệt tăm.

Một ngày sau khi thi đại học xong, bạn bè cùng lớp về họp mặt chia tay thì nghe tin hắn bị công an bắt với một cái tội khó tin là “giao cấu với trẻ vị thành niên”. Mấy bạn trai kéo đến nhà giam thăm hắn. Tôi hỏi:

- Chuyện đó có thật không Dõi?

- Không. Nhưng tao nhận – Dõi trả lời với giọng vô cảm.

- Tại sao?

- Không sao cả. Tao thích ở tù.

- Con nào vậy?

Dõi im lặng. Sau này chúng tôi mới biết đó là một cô bé tên Thơm cùng làng với hắn, mới 15 tuổi và bị câm điếc bẩm sinh. Cũng nghe kể rằng phiên tòa xử hắn đã diễn ra rất chóng vánh. Nhân chứng khai đã tri hô khi nhìn thấy hắn bế cô bé từ dưới sông lên rồi đè ra hôn hít. Biên bản khám nghiệm ở bệnh viện cũng đã khẳng định có dấu vết tinh dịch trên người của nạn nhân. Cơ quan điều tra thì không thể lấy được lời khai nào từ phía bé Thơm ngoài những tiếng u ơ và nước mắt. Trước vành móng ngựa, Dõi luôn trả lời “Có” sau những lời buộc tội. Ở thời điểm đó, hắn vừa tròn 18 tuổi nhưng đã chịu một bản án tột khung: 5 năm tù!

Lúc này nhớ lại vụ đó, tôi vẫn còn nhiều hoài nghi. Tôi hỏi:

- Sao mày bảo không mà lại có?

- Tao thích ở tù mà! – Sáu Dõi cười, tợp gọn một li rồi kể tiếp.

Đó là một đêm oan nghiệt, Dõi đi chơi về vừa tới đầu cầu thì nhác thấy một bóng đen từ trên cầu chạy biến về phía bên kia. Nhìn xuống nước hắn thấy một cái đầu người đang trồi lên hụp xuống như giã gạo. Hắn vội nhảy xuống lôi vào bờ, nhìn kĩ mới biết là con Thơm. Nó không còn mảnh vải nào trên người và tay chân thì lạnh ngắt. Hắn vác ngược cô bé trên vai chạy qua chạy lại trên cầu mấy lượt. Nước từ cổ họng ọc ra nhưng con Thơm vẫn chưa thở được. Hắn đặt cô bé trên bờ cỏ, vừa ép ngực vừa thổi ngạt theo kĩ thuật hô hấp nhân tạo. Đến khi con Thơm vừa thở hắt ra thì lão Tư Cần, một tay buôn chó nát rượu trong làng cùng mấy gã đàn ông khác từ trong bụi cây nhảy ra hô hoán. Thằng Dõi lúc đó đã cố cãi nhưng chẳng ai tin, kể cả nhà ông Độ. Sau này khi về sống với con Thủy, Sáu Dõi mới biết chính lão Tư Cần đã hãm hiếp con bé Thơm rồi đẩy xuống sông. Bằng ngôn ngữ của người câm điếc, khi tỉnh dậy trong bệnh viện con Thơm cũng đã báo cho cha nó là ông Đáng biết sự thật nhưng ông vẫn dọa kiện thằng Dõi nếu nhà ông Độ không đưa đủ 5 chỉ vàng. Ông Đáng chơi lô đề cả nửa năm nay đến sạch nhà sạch cửa, phải vay mượn của lão Tư Cần.

Nhà thằng Dõi thì đào đâu ra vàng? Hắn đã chọn cách vào tù!

Năm năm mãn hạn, hắn trở về nhà thì vợ chồng ông Độ đã lần lượt qua đời. Ngoài chị Hai Du, hai bà chị còn lại cũng nối nhau lấy chồng xa. Hắn ở một mình trong căn nhà cũ trống hoang, chỉ còn mỗi cái bàn thờ lạnh. Em Thơm mồ côi mẹ từ nhỏ, lúc này phải đi làm mướn quanh làng. Ông Đáng đang nằm liệt giường chờ chết sau một cơn tai biến. Một chiều, Sáu Dõi tình cờ gặp lại Thơm đang vớt bèo bên sông Cổ Diều, con sông đã bẻ ngoặt cuộc đời cả hai đứa. Cô nhìn hắn như người có lỗi, nước mắt rưng rưng. Mờ sáng hôm sau, hắn bỏ lên rừng.

Bốn

Tính ra đã 12 năm tôi mới gặp lại Sáu Dõi.

Ngày hôm nay theo lệnh sếp, tôi về khảo sát tình hình mồ mả ở khu nghĩa địa Gò Đình này. Tập đoàn Interurban mà tôi làm việc đang có một dự án xây dựng khu nghỉ dưỡng cao cấp tại đây, liên kết với khu resort đã hình thành phía bên kia sông Ngao. Nhưng lúc này thông tin đang còn bảo mật. Nhiệm vụ ban đầu của tôi là thống kê và ước tính giá trị xây dựng của từng ngôi mộ lớn bé rồi lập phương án giải tỏa, đền bù. Đây là một công việc không đơn giản. Đứng từ con đường nhựa nhìn chếch theo hướng đông nam, nghĩa địa này trải dài ngút mắt với cơ man mồ mả, có lẽ đến hàng vạn nhưng không hề được chôn cất theo một trật tự nào. Tôi dự định sẽ phân lô, chụp hình theo từng cụm nhỏ rồi thống kê và phân loại trên máy tính. Công việc này có lẽ mất khoảng một tuần. Đến đầu giờ chiều, khi tôi đang đứng trên bờ thành một ngôi mộ lớn thì Dõi nhận ra tôi:

- Có phải mày không Linh?

Tôi giật mình nhìn xuống. Một gã trung niên ở trần mặc quần bò trạc tuổi tôi, đầu đội chiếc mũ vải đen đang lừng lững đi tới. Thân hình hắn cao to, bên hông lại đeo chiếc tù và đen bóng như khẩu súng Colt làm tôi thoáng nghĩ đến hình ảnh một gã cao bồi miền Viễn Tây. Nhưng rồi tôi cũng nhận ra Dõi khi hắn nhếch mép cười, nụ cười lệch về bên mép trái từng làm điên đảo bao cô bạn gái thời còn đi học. Tôi kêu lên mừng rỡ:

- Dõi! Sao mày lại ở đây?

- Còn mày?

- À… Tao… đang làm cho Viện… khảo cổ – Tôi lắp bắp nói dối.

- Khảo cổ à? – Hắn có vẻ ngạc nhiên nhưng rồi gật gù – Ừ, phải rồi! Khu nghĩa địa này có lịch sử hơn 400 năm. Ở đây còn những ngôi mộ xưa lắm, rất xưa, tao nghĩ là của người Chăm.

- Nhưng tại sao gọi là Gò Đình?

- Thôi về chỗ tao nói chuyện – Hắn khoát tay rồi móc điện thoại ra gọi: – Cu Lạc! Đặc sản nhà mình còn không? Có khách đó nghe!

Nhà thằng Dõi nằm trên một mô đất cao ở khoảng giữa khu nghĩa địa, bên cạnh là nền móng phế tích của một công trình gì đó cùng hai cây sơn mã cổ thụ. Sáu Dõi bảo tôi:

- Cái mày hỏi lúc nãy đó! Nhưng nó đã hứng trọn một quả bom Tây hồi 70 năm về trước ngay trong ngày giỗ Tiền hiền. Linh lắm!

Thì ra cái địa danh Gò Đình có từ đây. Trong hồ sơ ban đầu của dự án, nghĩa địa này rộng hơn 600 héc-ta, nằm xen giữa 3 ngôi làng và những trảng cát trải dọc theo sông Ngao.

Sáu Dõi dẫn tôi vào nhà. Gọi là nhà nhưng 4 vách đều trống huơ, nhìn quanh chẳng thấy tài sản gì đáng giá ngoài một chiếc Honda Rebel 125 cc đời cũ. Hắn hất hàm về phía bếp:

- Em Thủy, vợ tao!

Vợ Sáu Dõi đang lui cui chiên xào thứ gì đó trong bếp cùng một cậu trai, có lẽ là cu Lạc. Tôi lên tiếng:

- Chào em Thủy nha!

Không nghe trả lời, chỉ thấy cu Lạc quay mặt lại cười. Nó xách lên một ấm chè xanh rồi nói:

- Đại ca tiếp khách nghe! Em đi đón bò.

- Uống chè đi cho đỡ khát. Vợ tao bị câm điếc bẩm sinh – Sáu Dõi bảo tôi.

- Vậy sao? Lại cũng giống như con bé…

- Để hồi nào tao sẽ kể mày nghe. Giờ nhậu cái đã.

Dõi ngắt lời tôi, vừa lúc vợ hắn bưng mâm lên. Cô còn khá trẻ, thân hình đầy đặn nhưng gương mặt gợn nhiều u uẩn. Thủy gật đầu chào tôi rồi xuống bếp. Tôi nhìn theo, không hiểu sao cứ ngờ ngợ một điều gì đó…

Năm

Nhưng tối nay, ngồi trong ngôi mộ cổ này tôi lại biết thêm một sự thật.

Sau khi ông Đáng qua đời, ngôi nhà của em Thơm trở thành nơi lui tới hằng đêm của đám đàn ông rậm rực, bắt đầu là lão Tư Cần. Không ai bảo vệ, không ai khuyên răn, không nói không nghe không biết chữ, cô bé mặc nhiên trở thành một ả “gái nhà lá giá rẻ” ở cuối làng. Chỉ trong mấy năm, nó đã dính thai tới 3 lần nhưng đều đẻ non. Sau lần cuối cùng, bệnh viện đã quyết định cho nó triệt sản vĩnh viễn. Tuy nhiên, trong cuộc sống đang lên với nhiều hứng khởi, nó vẫn là người đứng ở cuối hàng nên chỉ còn cách sống bằng nghề cũ.

Từ Tây nguyên trở về, Sáu Dõi đã nghe tất cả những điều đó. Hắn dắt cô gái về nhà mình trước khi lập ra cái trại bò này. Hắn dạy cho cô viết tên mình là Thủy như một cách để đoạn tuyệt với quãng đời bi đát. Năm năm nay chưa bao giờ hắn cho vợ bước chân vào làng.

Tôi nhìn ra ngoài nghĩa địa. Sau vùng ánh sáng của trại bò, những ngôi mộ nằm im lìm trong đêm như vẫn còn chôn giấu bao điều bí ẩn của kiếp người. Nếu dự án của Interurban được thực hiện, tất cả những hài cốt đã nằm yên từ hàng trăm, nhiều trăm năm nay rồi sẽ bị đào bới, bị di dời về một nơi nào đó. Cả đàn bò và mấy anh em Sáu Dõi chắc rồi cũng tan đàn sẻ nghé. Tôi quay lại hỏi:

- Rồi đây bọn mày tính tiếp thế nào?

- Tao định sẽ mở rộng dần trại bò này. Hiện nay nhiều hộ ở các làng lân cận cũng đang có ý định mua bò gởi đến đây. Tao cũng đang có kế hoạch khoanh vùng trồng cỏ Mulato (2) xen giữa các ngôi mộ. Đất trống ở đây còn nhiều lắm. Chỉ cần 5 năm nữa đàn bò của tao có thể lên vài trăm con…

Xo rượu đã gần cạn. Bốn đứa kia đã tựa vào thành mộ ngáy khò. Trong chập chờn men rượu, tôi còn láng máng nghe Sáu Dõi nói về những dự định tươi rói của hắn, nào là sẽ cho mấy đứa đàn em đi học bổ túc rồi kiếm vợ xây nhà cho chúng; nào là sẽ xin cấp phép khai khẩn những trảng cát bỏ hoang dọc bờ sông Ngao để trồng rau sạch; rồi sẽ tuyển thêm những người đàn bà nghèo khó trong làng vào làm cho trang trại… Tôi suýt buột miệng kể về cái dự án khu nghỉ dưỡng phức hợp đang phủ bóng lên vùng đất này. May mà cơn buồn ngủ kéo đến kịp lúc. Tôi chỉ thều thào: “Mai… tao… về!”.

Phan Văn Minh
(Tỉnh Quảng Nam)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 531

—————-
(1) Xo: vỏ nhựa của các loại nước đóng chai, dung tích 1,5 lít theo cách gọi ở làng quê.
(2) Mulato: một loại cỏ chăn nuôi có nguồn gốc từ Thái Lan.

Ý Kiến bạn đọc