Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Đại án văn chương “Thơ văn Lý – Trần” Nguyễn Huệ Chi thảm hại một nhân cách

Phần cuối

 

Khuôn khổ bài viết không cho phép quá dài nên tôi không thể trả lời hết mọi phát biểu của Nguyễn Huệ Chi. Xin mời bạn đọc cùng xem lại 2 bài trong TVLT mà bản dịch của cụ Vân bị gạt đi, sang tên cho Nguyễn Huệ Chi với lí do là trình độ dịch thấp kém của cụ. Tôi nghĩ, với 2 ví dụ này đủ chỉ rõ cái cớ để cướp công sức người khác mà Nguyễn Huệ Chi nói chỉ là vớ vẩn.

Bài “Hịch đánh động Ma Sa” của Lý Nhân Tông. Về bài này chúng tôi, con cháu cụ Vân đã có ý kiến trong bài Ông Huệ Chi với bộ sách Thơ văn Lý – Trần: một câu chuyện buồn (Bức tâm thư gửi bạn đọc xa gần) đã đăng trên VHNA số ra ngày 10-11-2018. Tôi xin dẫn lại đây.

“Nguyên văn thuộc thể văn biền ngẫu mà bản dịch đầu tiên của cụ Vân là dịch nghĩa theo lối văn xuôi thì bị ông Huệ Chi cho là dịch như “dịch miệng” và quá kém đến mức cụ Bình “không chấp nhận thẳng thừng chứ không nhân nhượng. Cụ thể cụ Bình dùng bút sổ nhiều nét hình carô lên bài cụ Vân để xóa đi.

Ông Huệ Chi cũng nói cụ Bình đã dịch lại theo thể văn biền ngẫu nhưng có chỗ chưa đạt nên ông lại giao cho bà Băng Thanh dịch lại. Bà Băng Thanh dịch lại cũng có chỗ chưa đạt nên ông phải gia cố thêm. Và cuối cùng thì hai vị Băng Thanh – Huệ Chi đứng tên người dịch in trong Thơ văn Lý – Trần tập I.

Vậy sự thật là thế nào?

Sự thật là ông Huệ Chi đã kéo thêm cộng sự phi tang bản dịch nghĩa theo hình thức văn xuôi của cụ Vân, pha chế tí chút phần tiểu dẫn chú thích của cụ biến thành của mình kèm theo những lời chê bai bản dịch cụ Vân này nọ một cách vô nghĩa. Ông chê cụ Vân dịch “Trẫm nối nghiệp tổ tông gồm có hết thảy dân chúng/Xem nhân dân muôn họ ở trong bốn biển đều như con cái” trong khi nguyên văn vế đầu lên bổng, vế sau lại xuống trầm: “Trẫm ưng nhất tổ nhị tông chi nghiệp, yểm hữu thương sinh/thị tứ hải triệu linh chi dân, quân như xích tử”. Đúng là chê lấy được. Nguyên tác là biền văn. Còn dịch nghĩa theo văn xuôi mà bắt phải theo biền văn thì có lạ đời không? Còn “nhất tổ nhị tông” dịch như ông “một tổ hai tông” (một tổ là Lý Thái Tổ, hai tông là Lý Thái Tông và Lý Thánh Tông) là sát nghĩa hơn nhưng cụ Vân dịch gọn là tổ tông thì quả chưa hết nghĩa bằng nhưng cũng không sai. Ông chê cụ Vân: “Trẫm mỗi tư chi”, đáng ra phải dịch là “Trẫm mỗi lần nghĩ đến”, “Trẫm thường nghĩ đến” thì lại dịch “Trẫm đã nghĩ rồi”. “Các tận nhữ tâm” đáng lẽ phải dịch là “các người phải hết lòng hết sức” lại dịch là” phải làm hết bổn phận của các ngươi”. Thì toàn là chuyện cố tình bắt bẻ vụn vặt chẳng đáng là gì như thế chỉ để hợp với cái công nghệ pha chế của mình mà thôi” (11)

Với một văn bản biền văn như Hịch đánh động Ma Sa mà cụ Vân chỉ dịch nghĩa theo văn xuôi là điều cần thiết trước tiên. Sau đó cụ Bình thay bằng bản dịch theo biền văn cũng là chuyện bình thường, dĩ nhiên phải là một bản dịch biền văn tốt. Nếu không tốt thì cứ để lại bản dịch nghĩa theo văn xuôi còn hơn bởi mỗi thể loại dịch vẫn có chức năng riêng. Dịch nghĩa theo văn xuôi dễ sát nghĩa đen của nguyên tác và người đọc cũng dễ tiếp nhận nội dung nguyên tác hơn. Dịch theo vận văn hoặc biền văn thì có lợi là thêm sức hấp dẫn của vần điệu, ngôn từ, cảm xúc nhưng thực tế không dễ gì có nhiều. Chưa nói là dịch theo vận văn, biền văn có chỗ do yêu cầu của cú pháp và hiệp vận mà chữ nghĩa lại có phần xa lạ khó hiểu đối với người đọc bình thường. Trong thực tế, không ít người tiếp xúc với dịch phẩm cổ văn thường dựa vào kết quả dịch nghĩa để đối chiếu với kết quả dịch vận văn hoặc biền văn. Chuyện dịch thuật cổ văn là như thế. Vậy mà Nguyễn Huệ Chi đã hả hê dõng dạc nói “Cụ Bình dùng bút sổ chéo nhiều nét hình ca-rô lên bài cụ Vân để xóa đi”.

Cũng cần nói thêm: Liệu những nét gạch có phải của cụ Bình hay không? Hỏi như vậy vì trong trang bản thảo khác (hình 5 dưới đây), cụ Bình chép lại bản dịch của cụ Vân rồi cũng “thẳng thừng dùng bút nhiều nét” gạch đi. Cụ Bình sinh năm 1914, lúc đó mới trên dưới 50 tuổi chắc vẫn còn minh mẫn chứ chưa đến nỗi mất công chép lại bản dịch của cụ Vân rồi gạch đi một cách thẳng thừng như Nguyễn Huệ Chi nói.

So-545--Dai-an-van-chuong-Tho-van-ly-Tran-Nguyen-Hue-Chi-tham-hai-mot-nhan-cach---Anh-5
Hình 5: Cụ Bình mất công chép lại bản dịch của cụ Vân rồi “thẳng thừng” gạch đi?

Đấy là chưa nói những nét gạch chéo này có cùng phong cách của Nguyễn Huệ Chi như trong hình dưới đây.

So-545--Dai-an-van-chuong-Tho-van-ly-Tran-Nguyen-Hue-Chi-tham-hai-mot-nhan-cach---Anh-2
Hình 6: Thủ bút của Nguyễn Huệ Chi (facebook Son Kieu Mai, 5-4-2019).

Nguyễn Huệ Chi đòi phải dịch sát nghĩa theo từng từ, ví dụ như “nhất tổ nhị tông” phải dịch thành “một tổ hai tông”, nhưng trong nhiều chỗ pha chế ông đâu có cần sát nghĩa. Bài thơ Mới đến nhà lao Thiên Bảo (Nhật kí trong tù) của Cụ Hồ thầy học Nam Trân đã dịch, Nguyễn Huệ Chi xào xáo lại rồi sang tên. “Công lý” nghĩa là cây số, câu thơ “Nhật hành ngũ thập tam công lý” Nguyễn Huệ Chi pha chế thành “Năm mươi ba dặm, một ngày trời”. “Công lý” đâu có phải là “dặm” hả ông Nguyễn Huệ Chi?

Nguyễn Huệ Chi đưa ra 2 đòi hỏi để làm cớ gạt tên cụ Vân, sang tên cho mình và bà Băng Thanh: Dịch xuôi đòi phải lên bổng xuống trầm theo kiểu biền văn và dịch phải sát theo từng chữ (mot par mot). Cả 2 đòi hỏi này hoàn toàn vô lí!

Hỏi thêm Nguyễn Huệ Chi và bà PGS Băng Thanh là trong TVLT (tập 1, trang 1993) có ghi rõ nguyên tắc ghi tên người dịch thơ như hình dưới đây:

So-545--Dai-an-van-chuong-Tho-van-ly-Tran-Nguyen-Hue-Chi-tham-hai-mot-nhan-cach---Anh-6
Hình 7: Nguyên tắc ghi tên người dịch thơ.

Bài Hịch đánh động Ma Sa các vị tham khảo, sử dụng bản dịch của cụ Vân vậy chỗ nào ghi tên cụ? Trường hợp này được xếp vào mục nào theo nguyên tắc mà các vị đã đề ra? Nếu không còn sót lại trang bản thảo của cụ Vân thì những gì cụ làm đã bị phi tang, không để lại một dấu vết gì.

Bài “Tâm” của Phạm Thường Chiếu. Qua tìm hiểu và tham khảo những người có chuyên môn tôi mạnh dạn xin hầu chuyện ông Nguyễn Huệ Chi về bài thơ này.

Trên hình 5 là hai bản dịch nôm của cụ Vân và cụ Bình. Nguyễn Huệ Chi đã chê bai bản dịch của các cụ như thế này:

“Nhớ rằng đầu đề là “Tâm”, tức là một bài thơ giải thích cái “tâm” theo quan điểm Thiền học và theo trải nghiệm của tác giả. Muốn nói về “tâm” nhà thơ bắt đầu từ “thân”, vì tâm là từ thân mà ra. Do đó, hai câu đầu chính là hai câu định nghĩa: Thân là gì, tâm là gì. Hai chữ “vi” (là) có mặt trong cả hai câu (Tại thế vi nhân thân / Tâm vi Như Lai tạng) cho phép nhìn ra kết cấu câu thơ theo dạng thức định nghĩa như vừa nói. Cả cụ Vân và cụ Bình đều nắm vững dạng định nghĩa của câu thơ thứ hai (cụ Vân: Tâm là kho tàng Phật / cụ Bình: “Tâm” kho của Như Lai), nhưng cũng cả hai cụ lại không nhận ra cũng dạng thức định nghĩa y như vậy ở câu thơ đầu, chắc vì tác giả dùng phép đảo trang nên dễ qua mắt. Vì thế, hai cụ đều dịch theo hướng diễn tả số phận, kiếp người (cụ Vân: Ở đời làm thân người / cụ Bình: Thân ta sống ở đời), thành ra cả hai đều lạc nghĩa. Chưa hết. Hai câu thơ cuối tập trung khai triển hai đặc tính vi diệu của “tâm” (vì bài thơ là nhằm lý giải “tâm”). Nhưng hai cụ, nhất là cụ Bình, lại quên khuấy đi, nên cụ dịch như là chủ thể đang hướng ra ngoại cảnh mà nói: “Nơi nơi bừng ánh sáng / Tìm đến càng xa vời”. Cụ Vân thì hiểu đúng, song cụ lại dịch câu cuối chệch mất: “Tìm càng xa xôi thật”. “Tâm” không hề ở xa, nó ở ngay trong mình, mà tìm thì tuyệt không thấy, đó mới là vi diệu. Rốt cuộc tôi quyết định dịch một bài mới, bỏ cổ thể mà dùng hẳn thơ luật, được hai GS duyệt tán thành:

Thân: Chiếc bóng trên đời,
Tâm: Kho báu Như Lai.
Không phương nào không sáng,
Tìm kiếm bặt tăm hơi” (3)

Phải nói là lời lẽ của Nguyễn Huệ Chi vừa đậm chất “bác học” lại đầy “cảm hứng thi ca”. Chỉ khổ nỗi mang tiếng là giáo sư chuyên nghiên cứu văn học cổ mà ông ta lại nhầm thể loại của tác phẩm, phạm sai lầm một cách rất ấu trĩ.

Văn bản là một bài Kệ mà Nguyễn Huệ Chi lại nhầm thành “một bài thơ ngũ ngôn cổ thể vần trắc”. Từ điển Nho Phật Đạo của Lao Tử – Thịnh Lê (16) đã định nghĩa Kệ như sau: “Kệ: Thể văn Phật giáo. Còn gọi là “Tụng”, “Già đà”… nói chung là do 4 câu tố thành. Có loại 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 32 chữ. Là văn vần, loại thể tài giống như thơ. Dùng để tuyên truyền Phật pháp”.

So-545--Dai-an-van-chuong-Tho-van-ly-Tran-Nguyen-Hue-Chi-tham-hai-mot-nhan-cach---Anh-7
Hình 8: Định nghĩa “Kệ” trong Từ điển Nho Phật Đạo, NXB Văn học, 8-2001.

Kệ “giống như thơ” nhưng không hẳn là thơ ở chỗ nó là sản phẩm của tư duy luận lý, chính luận chứ chưa phải là tư duy thơ, tư duy hình tượng. Ở đây cảm xúc trữ tình không lộ rõ mà ẩn sâu trong ý tưởng. Với thể văn Kệ, sức hấp dẫn chủ yếu là ở chiều sâu, chất triết lý vi diệu của ý tưởng chứ không phải ở ngôn từ hình ảnh. Nguyễn Huệ Chi do ngộ nhận Kệ thành Thơ mà chê bai hai cụ, giải nghĩa văn bản và dịch lại theo kiểu ngộ nhận của mình là dịch thơ trong khi hai cụ đã dịch nghĩa đúng ý theo tư duy luận lý của nguyên tác. Ý tưởng của nguyên tác thì cao siêu nhưng ngôn từ thì chỉ đơn giản, đâu có hoa hòe hoa sói gì mà Nguyễn Huệ Chi dịch lại theo cách “bỏ cổ thể mà dùng hẳn thơ luật”.

Bài Kệ này ý tưởng cao siêu nhưng lời lẽ thì đơn giản rõ ràng như thế này: Mỗi người sinh ra ở đời có một cái thân. Nói một kiếp người, một thân phận hay một số phận cũng đâu có sai. Vấn đề là Thân nào thì cũng có Tâm, thành Thân – Tâm và phải làm sao để tâm là kho báu của Như Lai. Nhưng thực tế, để có được tâm như thế là chuyện xa vời, khó có. Đã là Phật tử thì phải phấn đấu tu luyện để có. Nội dung thuyết lý Phật đạo của bài Kệ với một diễn ngôn đơn giản mộc mạc chỉ là thế để người đọc ai cũng hiểu chứ đâu có chuyện đẽo chữ gọt nghĩa như khi thi sĩ làm thơ. Hai cụ dịch mỗi người một ngôn từ như thế là đúng nội dung bài Kệ. Nguyễn Huệ Chi đã ngộ nhận thể loại văn bản, nhầm kệ thành thơ lại còn lên giọng “học giả” đem chuyện định nghĩa thế này thế khác, đảo trang và không đảo trang trong ngôn từ, hướng ngoại hay hướng nội của văn bản ra để tỏ ra ta đây mà thực tế là vẽ rắn thêm chân, đem râu ông nọ cắm cằm bà kia, linh ta linh tinh để lòe thiên hạ.

Ta cùng xem lại từng câu trong nguyên tác và các bản dịch.

Câu 1: “Tại thế vi nhân thân”. Cụ Vân dịch: “Ở đời làm thân người”, cụ Bình dịch: “Thân ta sống ở đời”. Cả hai cách dịch thế là đúng nghĩa nguyên tác có gì phải nói nữa. Còn Nguyễn Huệ Chi thơ hóa kệ mà dịch thành: “Thân: chiếc bóng trên đời”. Nghe có vẻ văn chương hơn một chút nhưng nguyên tác đâu có làm văn chương. Chưa nói khi nghe đến “Thân: chiếc bóng trên đời” thì mấy ai hiểu nó là cái gì.

Câu 2: “Tâm vi Như Lai tạng”. Cụ Vân dịch: “Tâm là kho tàng Phật”, cụ Bình dịch: “Tâm kho của Như Lai”. Nguyễn Huệ Chi thay bằng: “Tâm: kho báu Như Lai” thì hơn được cái gì? Hơn được dấu hai chấm “:” sau chữ Tâm!

Câu 3: “Chiếu diệu thả vô phương”. Cụ Vân dịch: “Soi sáng khắp nơi nơi”, cụ Bình dịch: “Nơi nơi bừng ánh sáng”. Ông Huệ Chi thay bằng: “Không phương nào không sáng”. Hơn được cái gì?

Câu 4: “Tâm chỉ cánh tuyệt khoáng”. Cụ Vân dịch: “Tìm càng xa xôi thật”, cụ Bình dịch: “Tìm đến càng xa xôi”. Nguyễn Huệ Chi thay bằng: “Tìm kiếm bặt tăm hơi”. Hơn được gì? Bặt tăm hơi nghe văn chương hơn sao? Nhưng đây đâu cần văn chương. Ở đây chỉ cần nói ý là khó mà có được cái Tâm Như Lai nên phải tu luyện chứ có làm văn chương đâu mà Nguyễn Huệ Chi phải thả giọng văn chương ra cho phí.

Trường hợp bài Tâm này là thêm một lần để thấy rõ hơn thế nào là trình độ uyên thâm về cổ văn mà Nguyễn Huệ Chi lâu nay vẫn tự hào và cũng là thêm một lần để mọi người thấy rõ cái nghề pha chế để cướp công người khác của ông ta.

5) TVLT – một vài con số.

Tôi có lật lại 3 tập TVLT và đếm tên người đứng tên tác giả các bản dịch. Xin đưa ra một vài con số và nhận xét như sau.

Tổng số: 914 bài.

- Cụ Vân và cụ Bình cùng làm, cụ Vân có 37,3 bài, cụ Bình có 109,3 bài. Tại sao có sự chênh lệch đáng kể này, phải chăng vì cụ Vân đã mất và cụ Bình còn sống mà Nguyễn Huệ Chi và các đồng sự thoải mái làm bậy với cụ Vân hơn?

- Nguyễn Huệ Chi lấy lí do trình độ dịch của các cụ đặc biệt là cụ Vân rất kém nên phải dịch lại và thay tên người dịch. Thực tế có đúng với lời phát biểu vừa ngạo mạn, vừa hỗn với tiền nhân lại vừa bịp bợm của Nguyễn Huệ Chi tôi đã chứng minh rõ ràng ở phần trước. Ở đây xin để con số nói. Trong các tập mà mình tham gia biên soạn, các thành viên trẻ thuộc lớp hậu thế đều đứng tên tác giả rất nhiều. Ví dụ, tập 1, 2 do nhóm Nguyễn Huệ Chi biên soạn có tổng số 499 bài thì Nguyễn Huệ Chi có 109,5 bài; Băng Thanh: 66,2 bài; Đỗ Văn Hỷ: 58,4 bài; Phạm Tú Châu: 43 bài. Ngược lại, số bài các cụ được ghi tên là rất ít, đặc biệt là cụ Vân: cụ Bình có 29,3 bài; cụ Vân có 14,8 bài. Theo cái logic của Nguyễn Huệ Chi thì các cụ không đáng làm học trò cho đám hậu thế, học trò của mình?

- Số bài của cụ Vân, tập 1: 8,5 bài; tập 2: 6,3 bài là rất ít, gần như không có. TVLT có lời ghi nhận đóng góp của cụ, bà Băng Thanh trong video phỏng vấn của Kiều Mai Sơn cũng phải ghi nhận, không dám chối bỏ điều này. Hơn nữa, bà còn nói: “Tất nhiên các cụ đã dịch như vậy rồi thì mình có thêm cũng không được là bao… cho nên đứng đằng sau các cụ tôi yên tâm lắm” (17). Nếu đóng góp của cụ Vân ít ỏi, gần như là zero như vậy thì các vị ghi nhận công lao cái gì? Hay vì các vị đã phi tang các kết quả của cụ, sang tên cho mình nên số bài đứng tên cụ chỉ còn như vậy?

Một nhà Hán học nổi tiếng, người chỉ trong vòng 15 năm đã công bố một khối lượng đồ sộ các công trình dịch thuật, người đã cùng với đồng nghiệp làm 911 trang bản thảo mà chỉ còn hơn ba chục bài được ghi tên. Lí do tại sao? Bà Băng Thanh đã trả lời một phần cho câu hỏi này: “Tôi nghĩ là tôi cũng vô tư, rất vô tư trong chuyện này. Cái thời đấy bản quyền nó không giống như bây giờ” (17).

Vâng, thời đó có thể cái ý thức về bản quyền chưa có, nhưng cái đạo đức nghề nghiệp, cái đạo đức của những người mang danh là trí thức mà các vị không có một chút áy náy khi đối xử bất nhẫn với các bậc tiền bối và thầy của mình?

Kết luận

TVLT là một công trình nổi tiếng bởi quy mô và những giá trị khoa học của nó. Đáng buồn, TVLT lại thêm một lần nữa nổi tiếng nhưng không mấy vui bởi những việc làm khuất tất của Nguyễn Huệ Chi và một vài đồng sự. Dù Nguyễn Huệ Chi có lấp liếm biện minh thế nào thì cũng không thể che đậy được hết những việc làm sai trái của mình. Cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra, huống hồ Nguyễn Huệ Chi đã làm bậy rất nhiều, không phải chỉ một lần. Tưởng bằng cách phi tang bản thảo của các cụ; pha chế rồi sang tên là có thể xóa sạch dấu tích; trí trá bịa đặt là có thể lấp liếm, che đậy được những việc làm sai trái của mình. Nguyễn Huệ Chi đã nhầm! Không cái gì không để lại dấu vết, nhất là những việc làm bậy bạ! Những bản thảo còn sót lại tuy rất ít nhưng cũng đủ để nói lên nhiều điều. Và Nguyễn Huệ Chi bị chính cái thói quen bịa đặt trí trá quay đập lại mình. Nguyễn Huệ Chi để lại quá nhiều dấu vết!

Cũng xin nói thêm, tôi có nhờ người đến Viện Văn học hỏi lại về những bản thảo của cụ Vân mà năm 2008 GS. .Nguyễn Đình Chú đã đến sao chụp lại thì những người có trách nhiệm tìm mà không thấy. Tôi không biết chúng lại “vô tình” không cánh mà bay hay ít nhất là không được truy cập một cách dễ dàng.

Trong các bài viết của mình tôi đã vạch rõ những thủ đoạn mà Nguyễn Huệ Chi dùng để cướp đoạt công sức lao động của hai cụ Nguyễn Đức Vân và Đào Phương Bình. Tôi cũng cung cấp tư liệu và luận cứ chặt chẽ đủ để chứng minh về việc làm sai trái của Nguyễn Huệ Chi cũng như những gì ông ta nói đều là bịa đặt và dối trá. Tôi nghĩ, những điều mình viết đủ để bạn đọc hình dung được qui mô, mức độ sai trái của Nguyễn Huệ Chi trong vụ Đại án văn chương TVLT này.

Tôi đã viết: “Cụ Vân mất cũng đã gần nửa thế kỉ. Khi sống, cụ là người khiêm nhường, công danh không màng thì bây giờ chuyện ghi tên hay không với cụ cũng là vô nghĩa, đâu có mang theo được sang thế giới bên kia? Con cháu cụ cũng vậy, coi chuyện công danh như vật ngoại thân, cũng chẳng coi quá quan trọng” (2). Việc chúng tôi làm không phải với mục đích đòi lại công danh cho cụ Vân, ghi tên tác giả hơn kém nhau bao nhiêu bài. Việc chúng tôi làm là để lấy lại công đạo, làm rõ một câu chuyện phi đạo đức, thiếu trung thực khoa học, góp phần làm trong sạch lại môi trường khoa học nước nhà.

Và tôi cũng đã viết: “… tôi nghĩ giáo sư nên chính thức có lời xin lỗi! Ít ra là tôi sẽ bỏ qua, coi như ở đời mấy ai không mắc sai lầm” (2). Cái tôi mong đợi ở Nguyễn Huệ Chi chỉ là một lời xin lỗi, một sự ăn năn về những hành động sai trái của mình, không hơn không kém! Tuy nhiên, thay bởi xin lỗi, Nguyễn Huệ Chi không chỉ lại tiếp tục lèo lái mà còn đưa ra những lời lẽ hỗn xược với ông tôi, cụ Nguyễn Đức Vân. Tôi buộc lòng phải đưa tiếp những bằng cứ, chứng minh, vạch rõ để mọi người hiểu đúng về nhân cách của con người này.

Lần trước, trong bài Đôi lời thưa lại cùng giáo sư Nguyễn Huệ Chi về chuyện Thơ văn Lý – Trần, tôi có viết một dòng như thế này: «Nhưng nên nhớ: khi mặt nạ đã rơi, cái vỏ đạo đức đã bị gỡ bỏ thì cũng là lúc sự thật đã được phơi bày ra ánh sáng!». Sau khi bài gửi đi đăng (Tuần báo VN TP.HCM và trang mạng Viet-Studies của GS Trần Hữu Dũng), tôi nghĩ lại những lời này hơi nặng và có gửi thư đề nghị cắt bỏ câu viết này. Tuy nhiên, vì ông đã không chỉ tiếp tục ngoan cố, bao biện cho những hành động sai trái của mình mà còn có những phát biểu bậy bạ với cụ Vân nên tôi tặng lại cho ông câu viết này.

Ông Nguyễn Huệ Chi, cái mà ông giỏi chỉ là nghề pha chế và cướp đoạt công lao của người khác mà thôi. Ông sẽ đi vào trong lịch sử văn học nước nhà với danh hiệu GIÁO SƯ PHA CHẾ, một danh hiệu đúng với bản chất những việc làm của ông.

Moscow, tháng 4-2019

Boristo Nguyen
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 545

——————————-
(2) Boristo Nguyen. Đôi lời thưa lại cùng GS. Nguyễn Huệ Chi về chuyện Thơ văn Lý – Trần. Tuần báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 510 và 511, 8-2018 hoặc trang mạng http://www.viet-studies.net của Trần Hữu Dũng, 28-7-2018.
(3) Nguyễn Huệ Chi. Về bài “thưa lại” của ông Boristo Nguyen. Trang mạng Diễn Đàn (www.diendan.org).
(11) Con cháu cụ Nguyễn Đức Vân. Ông Huệ Chi với bộ sách Thơ văn Lý – Trần: một câu chuyện buồn (Bức tâm thư gửi bạn dọc xa gần). Văn hóa Nghệ An, 10-11-2018.
(16) Lao Tử – Thịnh Lê. Từ điển Nho Phật Đạo. NXB Văn học, 8-2001.
(17) PGS.TS Trần Thị Băng Thanh nói về việc tham gia dịch Thơ văn Lý – Trần, video ghi âm phỏng vấn PGS Trần Thị Băng Thanh, fb Son Kieu Mai, 1-4-2019.

Ý Kiến bạn đọc