Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Đại án văn chương “Thơ văn Lý Trần” – Nguyễn Huệ Chi thảm hại một nhân cách

(Tiếp theo số báo 543, ngày 25-4-2019)

 

3. Những ví dụ và những câu trả lời của Nguyễn Huệ Chi trong bài viết Về bài “thưa lại” của ông Boristo Nguyen. Trong phần này tôi sẽ trả lời những câu hỏi và ví dụ mà Nguyễn Huệ Chi đã nêu để bạn đọc nắm và hiểu đúng sự thật.

Ví dụ 1, 2, 3: Về trình độ chữ Hán của Nguyễn Huệ Chi. Xin tóm lược lại đây trao đổi của tôi với ông ta về vấn đề này. Trả lời cho nhận định của tôi là Nguyễn Huệ Chi không đủ trình độ chữ Hán để đọc hiểu các văn bản cổ trong TVLT: “Học Trung văn 3 năm không chuyên, cho dù được hạng ưu như Nguyễn Huệ Chi vẫn khoe, đọc và dịch nghĩa được những văn bản cổ này có lẽ là điều không tưởng, trừ phi ông có một tài năng xuất chúng đặc biệt” thì ông khoe “Khi vào Khoa Ngữ văn ĐHTH năm 1956 tôi đã được học chuyên Trung văn suốt 3 năm”. Sau khi bị tôi vạch rõ là lòe bịp, không thể có chuyện học chuyên Trung thì Nguyễn Huệ Chi lại bảo tôi là xoáy vào chữ “chuyên Trung” để bắt bẻ:

“Vậy “chuyên” là thế này: Lúc bấy giờ có 2 môn sinh ngữ là Nga văn và Trung văn, sinh viên có thể ghi danh học cả hai, nhưng bắt buộc tính điểm tốt nghiệp thì chỉ một trong hai môn. Tôi chỉ ghi danh môn Trung văn và trong suốt ba năm chỉ học và thi môn sinh ngữ đó, bên cạnh các môn ngữ và văn. Nói thế là “chuyên”, tuy chưa đầy đủ nhưng đâu có sai lắm” (3)

Và thế là ông lại quay về điểm xuất phát đúng như điều tôi nhận định: Nguyễn Huệ Chi với cái vốn Hán học ấy thì làm sao mà hiểu và dịch được các văn bản Hán cổ của TVLT. Mang danh giáo sư, khoe giỏi chữ Hán mà không phân biệt nổi sự khác biệt giữa Trung văn (hiện đại) với Hán cổ? Những gì ông đã làm chứng tỏ ông chỉ có thể sử dụng thành quả của người khác rồi pha chế mà thôi. Chắc bạn đọc cũng thấy rõ sự lươn lẹo, trí trá của Nguyễn Huệ Chi?

Trình độ Hán học của Nguyễn Huệ Chi cũng thể hiện rõ trong ví dụ 3 mà tôi chỉ ra: “… bao nhiêu năm sau ông vẫn viết sai chữ “Chúng” như bản chụp ở hình 4 trên với hai lần viết đều thiếu nét, chưa nói việc viết với nét bút còn non yếu (chúng 眾, trong chúng đẳng 眾等 và tăng chúng 僧眾)?”. Nguyễn Huệ Chi cãi: “…trong thư riêng viết cho nhau thì viết kiểu nào là quyền của người viết, miễn đọc được thì thôi. Chữ “chúng” tôi viết ở trên có ai đọc lầm ra chữ khác hay không, ông cứ đi hỏi cho khắp (cũng như chữ “ko” trong thư từ tiếng Việt có ai không biết đấy là chữ “không” hay không?)” (3). Vâng, thưa ông Nguyễn Huệ Chi, thư riêng thì muốn viết kiểu nào chẳng được, nhưng cũng chính vì vậy mà ông bộc lộ rõ nhất những yếu kém của mình. Ông lấy cách viết tắt trong tiếng Việt để bao biện, sao không dùng luôn cách viết tắt của các cô cậu tuổi teen cho hợp thời hợp mốt? Đúng là cãi chày cãi cối lấy được! “Quả ông đã không biết ngày trước với người học chữ Hán đã dày công luyện tập viết chữ từ trạng thái đồ, tô, tập viết hàng hai, hàng ba, hàng bốn, hàng năm… cho đến hàng mười mới được coi là đã biết viết. Không đâu cho phép viết sót nét” (11). Khắc bia, phục chế ngôi đền cổ mà theo chữ viết sai này của ông thì không hiểu rồi sẽ dở khóc dở cười ra sao?

Nhân đây cũng nhắn với ông Nguyễn Huệ Chi là bức ảnh chụp bức thư của ông được đăng công khai trên facebook của Kieu Mai Son, các bình luận dưới đó là của những người có bằng cấp, có chuyên môn về Hán Nôm viết chứ không phải tôi bới bèo ra bọ như ông nói.

Trình độ Hán học của Nguyễn Huệ Chi như thế nào nó phản ánh qua những kết quả cụ thể chứ không phải qua những câu chuyện mà ông kể (3). Sau nhiều năm mà viết một chữ “chúng” vừa thiếu nét vừa chữ xấu (một yêu cầu thông thường với người học chữ Hán). Một đời làm văn học cổ mà chẳng thấy có một công trình dịch từ văn bản gốc nào. Toàn xào xáo lại của người khác thì có che đến mấy mặt nạ cũng vẫn chẳng khá lên được.

Ví dụ 4. Về chuyện Nguyễn Huệ Chi và bà Băng Thanh “duyệt” các bản dịch Nhật kí trong tù của thầy học Nam Trân rồi pha chế biến thành của mình tôi xin trả lời mấy ý thế này:

- Tôi đã nhắc là để tranh luận thì hãy mang chứng cứ ra nói chuyện mà Nguyễn Huệ Chi vẫn cố dùng mãi cái bài kể lể những điều chẳng ai kiểm chứng. Đó là cách tranh luận không lương thiện! Và ông Nguyễn Huệ Chi cũng đừng chơi trò “cáo mượn oai hùm”, mang Tố Hữu, cơ quan Tuyên giáo với ông này ông nọ ra để che chắn. Ừ, thì có thể các cấp lãnh đạo rất quan tâm đến Nhật kí trong tù nhưng chắc chắn họ chẳng quan tâm đến việc cụ thể ghi tên ai là người dịch, nhất là khi Tố Hữu đánh giá cao cụ Nam Trân như thế này:

“Chứ việc dịch tập Nhật ký trong tù là cực khó. Vì ngoài kiến thức uyên thâm về Hán học ra, người dịch phải là nhà thơ thì mới mong dịch thơ Bác thành thơ cho có hồn được. Ngày ấy, bàn tính mãi, thấy chỉ Nam Trân có đủ hai mặt này nên anh được giao chủ trì công việc. Bác đã xem. Tôi thấy bản dịch đó là rất tốt”.

Vì lẽ gì mà Tố Hữu lại chỉ đạo phải sang tên người dịch cho Nguyễn Huệ Chi và Băng Thanh? Chẳng lẽ vì mấy cái bản pha chế linh tinh đôi lúc đến như hài như trong hình 3 dưới đây? Chẳng có ban bệ, lãnh đạo nào hay “GS Nguyễn Khắc Phi, Tổng biên tập nổi tiếng kỹ tính của NXB Giáo dục” có thể bào chữa cho những sản phẩm pha chế kiểu như thế này đâu thưa các vị:

So-544--Dai-an-van-chuong-Tho-van-Ly-Tran-Nguyen-Hue-Chi-tham-hai-mot-nhan-cach---Anh-3
Pha chế đến mức hài hước, một ví dụ điển hình (ảnh tư liệu trên fb Son Kieu Mai).

Nguyễn Huệ Chi tự cho mình là dịch hay, dịch giỏi để gạt bỏ các bản dịch của hai cụ Vân – Bình, sang tên cho mình: “Khốn nỗi tôi lại là người kỹ tính đến độ một bài thơ do mình dịch ra bao giờ cũng nâng lên đặt xuống, xóa đi dịch lại nhiều lần. Phải hơi kỳ khu trong dùng chữ, phải hiện đại một chút trong biểu đạt mới chịu. Ông biết đấy, chỉ một việc dịch thơ đã làm khổ tôi đến thế thì đi nhận xằng những bài dịch mộc mạc chân chất của người sẽ còn khổ tôi đến thế nào” (4). Bạn đọc có thấy hài hước không?

Những tuyệt phẩm pha chế, “nâng lên đặt xuống” như thế này của Nguyễn Huệ Chi và Băng Thanh có rất nhiều, bạn đọc có thể xem tại facebook Son Kieu Mai hay tại mục TƯ LIỆU VỀ NHẬT KÍ TRONG TÙ trên blog Boristo Nguyen (7).

- Về chuyện Nhật kí trong tù Nguyễn Huệ Chi có khuyên nên đọc PGS Đào Thái Tôn để biết cảnh “làm dâu trăm họ…” của các ông. Tôi cũng xin thưa, Đào Thái Tôn còn những dòng khác viết như thế này, xin mời hai vị Nguyễn Huệ Chi và Băng Thanh đọc và thử vận vào trường hợp của mình xem có đúng không:

“Vì thế, ai cũng có quyền dịch đi dịch lại «Nhật ký trong tù’’ hay bất kỳ tác phẩm chữ Hán nào.

Nhưng: Ai giỏi giang, xin dịch lại toàn bộ. Còn như chỉ sửa một đôi chữ, thì đàng hoàng nhất là phải giữ nguyên bản dịch trước và “chua” thêm ý điều chỉnh của mình xuống dưới, như phụ chú vào bản dịch cũ. Việc sửa một đôi chữ hoặc thậm chí là nhiều, vào bản dịch của người trước mà không được dịch giả đó đồng ý là điều không thể được. Việc ký thêm tên mình vào bản dịch cũ trong khi dịch giả đã khuất thì đương nhiên lại càng không được».

“Cho nên, việc tôn trọng tuyệt đối dịch phẩm của các cụ không chỉ là vấn đề đạo đức, càng không phải là vấn đề vật chất vốn rất bèo bọt của bản quyền, mà trước hết là việc chắt chiu, tôn trọng, gìn giữ những thành quả của tiền nhân để xây dựng cái gốc cái nền của ngành nghiên cứu, dịch thuật vốn còn non trẻ của đất nước ta… Cha ông vừa xây cháu con đã phá thì thử hỏi bao giờ có được truyền thống mà dựa vào, lấy gì làm đất đứng chân» (14)

- Về bức ảnh mà tôi lấy từ Giao Blog với bình luận của kẻ mà ông ghét cay ghét đắng (chuyện các ông từng thượng cẳng chân, hạ cẳng tay với nhau là chuyện riêng của các ông, tôi không quan tâm) thì có 2 ý như thế này: Thứ nhất, chuyện ai đúng ai sai không quan trọng, quan trọng là câu dịch của ông “Oanh sớm, mừng nghe hót sớm gần” có thực sự hay hơn, khác với câu dịch “Mừng sáng nghe oanh hót xóm gần” của cụ Nam Trân và có xứng đáng để thay tên mình vào không? Và ý thứ hai mới quan trọng: Trong bức hình lấy từ Giao blog còn có thông tin (xem hình 4) dưới đây mà ông chắc “vô tình” cắt đi, không đăng lại.

So-544--Dai-an-van-chuong-Tho-van-Ly-Tran-Nguyen-Hue-Chi-tham-hai-mot-nhan-cach---Anh-1
Nguyễn Huệ Chi “duyệt” lại bản dịch của Nam Trân và sang tên cho mình.

Bạn đọc hãy xem hình và tự rút ra kết luận cho mình.

Ví dụ 5: Tôi xem lại thì đúng cụ Vân chỉ làm TVLT trong khoảng thời gian từ 1960 đến 1965, tức chỉ có 5 năm. Tuy nhiên, mấy chữ “đã làm vài chục năm nay” là chữ của các ông chứ không phải của tôi. Lỗi này là của các ông! Viết nhầm thì nói là viết nhầm, lỗi cũng nhỏ cần gì phải bao biện: “Từ 1986 ngược về năm hai cụ dừng việc dịch là 1965 chẳng phải vài chục năm thì là gì nữa”. Mang tiếng là giáo sư văn học mà Nguyễn Huệ Chi không hiểu nổi nghĩa của “đã làm vài chục năm nay” là hành động kéo dài vài chục năm, khác với “đã làm vài chục năm trước”.

Trong 5 năm mà cụ Vân chỉ làm được có 46 bài (theo thống kê của Nguyễn Huệ Chi, thực tế đếm lại chỉ có 37,3 bài), tức mỗi năm khoảng 7 bài. Trong 15 năm, cụ Vân có một khối lượng các công trình dịch thuật đồ sộ như đã nói thì 7 bài trong 1 năm vẫn là một sự vô lí, ý nghĩa câu hỏi tôi nêu ra vẫn còn giữ nguyên. Thêm nữa: “… nếu số lượng bài ít như vậy thì lí do gì các vị lại ghi “Đến năm 1965 thì việc sưu tập cũng như việc phiên dịch bước đầu đã hoàn thành”?

Ví dụ 6, 7: Về bức ảnh có lưu bút của cụ Bình với dòng chữ “Dịch tập thơ văn Lý -Trần (cộng tác với đ.c Nguyễn Đức Vân) hiện nay đang chuẩn bị xuất bản)”. Nguyễn Huệ Chi bình luận: “Cụ Bình viết “chuẩn bị xuất bản” là ý của cụ Bình, còn gần hai năm sau Viện giao cho chúng tôi biên soạn TVLT là việc của lãnh đạo Viện” với hàm ý “việc chuẩn bị xuất bản” là do cụ Bình tự tưởng tượng ra chứ không phải là ý kiến của lãnh đạo Viện Văn học. TVLT hai cụ Bình và Vân làm việc của Viện giao chứ không phải việc cá nhân nên không phải cụ Bình muốn nói thế nào thì nói. Trong câu của cụ Bình chứa đựng thông tin mà ông Nguyễn Huệ Chi không thể phủ nhận: số lượng công việc các cụ đã làm là rất lớn. Nó cũng phản ánh việc lãnh đạo Viện Văn học lúc đó đã có ý định cho xuất bản. Câu nói này hoàn toàn không mâu thuẫn với việc sau đó lãnh đạo Viện thay đổi ý định, muốn mở rộng quy mô, làm cho TVLT đầy đủ và đồ sộ hơn. Chẳng có lí do gì để cụ Bình phải phịa ra điều này!

Còn những dòng chữ: “Công việc duyệt tập thơ Lý Trần Hồ, mình đang tiến hành trong điều kiện khá thuận lợi vì ban đêm có đèn và ở khu Trần Hưng Đạo không cắt điện đêm nào…”, “Công việc duyệt thơ ca Lý – Trần tiến hành khá đều…”, trong các bức thư của cụ Nam Trân thể hiện một điều ai đọc cũng phải hiểu: khối lượng công việc mà hai cụ Vân – Bình phải rất nhiều thì lãnh đạo mới tổ chức tiến hành duyệt. Điều này hoàn toàn phù hợp với những dòng cụ Bình viết ở trên, cả về khối lượng kết quả đã thực hiện cũng như việc làm của các cụ là theo nhiệm vụ của Viện giao. Đây là những thông tin hiển nhiên có trong văn bản chứ không phải như cái cách giải thích đầy tư biện về tâm trạng của cụ Nam Trân, thể hiện cái tư duy lèo lá và cãi chầy cãi cối của Nguyễn Huệ Chi.

Ví dụ 8: Trong ví dụ này, Nguyễn Huệ Chi có trích lại 2 đoạn văn trong Lời nói đầu của TVLT tập 1 và trả lời các câu hỏi của tôi về những phát biểu mâu thuẫn, bất nhất của ông. Xin dẫn lại:

“Năm 1960, tổ Hán Nôm của Viện được giao nhiệm vụ sưu tập và phiên dịch ra tiếng Việt toàn bộ thơ văn từ thời Hồ trở về trước, trong các sách vở chữ Hán còn lưu trữ tại các thư viện và trong một số tài liệu bi kí còn nằm rải rác ở các đình chùa trên miền Bắc. Các đồng chí Nguyễn Đức Vân, Đào Phương Bình, cán bộ trong tổ, đã trực tiếp tiến hành công việc đó. Nhờ nỗ lực tìm tòi, nghiên cứu, lại có sự giúp đỡ tận tình của những anh em khác trong tổ, nên công việc đã tiến hành tương đối thuận lợi; mỗi năm khối lượng thơ văn tập hợp được một phong phú dần. Đến năm 1965 thì việc sưu tập cũng như việc phiên dịch bước đầu đã hoàn thành”.

“Nhưng cũng vào thời gian đó, giặc Mỹ gây chiến tranh phá hoại trên miền Bắc. Các thư viện lớn đều đi sơ tán. Bộ phận Hán học của Viện lúc này tập trung vào nhiệm vụ đào tạo một lớp cán bộ Hán học trẻ tuổi. Công tác biên soạn đành tạm thời gác lại. Phải đến cuối năm 1968, vấn đề thơ văn Lý – Trần mới lại được tiếp tục đề ra. Do yêu cầu mới của công tác nghiên cứu, lúc bấy giờ, Viện nhận thấy cần đặt lại một cách hệ thống và toàn diện hơn việc khai thác di sản văn học Lý – Trần, tiếp tục tìm tòi bổ sung những tài liệu mới, cũng như đối chiếu, tra cứu lại tất cả những văn bản trước đây đã tuyển lựa. Có thế mới hy vọng cung cấp cho bạn đọc một tập tài liệu không đến nỗi quá tản mạn, nghèo nàn”.

Trước khi phản đáp lại các ý kiến của Nguyễn Huệ Chi tôi xin nhắc lại một lần nữa: Chúng tôi chưa bao giờ nói hai cụ Nguyễn Đức Vân và Đào Phương Bình làm toàn bộ công trình TVLT. Trong bài trả lời trước (2), tôi viết rất rõ ràng:

“Tôi hiểu TVLT không phải chỉ có 2 cụ Nguyễn Đức Vân và Đào Phương Bình làm mà còn cả công sức nhiều người khác trong đó có giáo sư và các đồng sự. Và từ lúc 2 nhóm biên soạn được thành lập phạm vi, khối lượng của bộ tuyển tập chắc cũng được mở rộng. Tôi không phủ nhận điều đó! Tuy nhiên, sự đóng góp của các cụ hầu như bị xóa bỏ, còn lại không đáng kể thì như những phân tích ở trên, chắc chắn là không phải! Tôi thực sự không biết các cụ làm bao nhiêu bài và cũng không bình luận về những con số mà giáo sư đưa ra. Đơn giản là vì bản thảo, vật chứng đã bị thủ tiêu (hay che giấu) thì đâu biết được những bài nào giáo sư và ai đó đã sang tên?”.

Tôi đã sử dụng những lời ghi nhận giấy trắng mực đen trong Lời nói đầu của TVLT tập 1 và những phát biểu bất nhất của Nguyễn Huệ Chi nhằm phủ nhận kết quả cụ Vân và cụ Bình. Câu hỏi cuối cùng (số 8), tôi chốt lại rất đơn giản: “Nếu chỉ với kết quả khiêm tốn như vậy tại sao trong lời nói đầu của TVLT lại ghi “Đến năm 1965 thì việc sưu tập cũng như việc phiên dịch bước đầu đã hoàn thành”? Và cuối cùng, tại sao các phát biểu của giáo sư lại có những bất nhất, tự mâu thuẫn như tôi đã chỉ ra trong bài viết này?” (2).

Xin dẫn lại những câu hỏi về sự bất nhất này trong mục 4 của bài viết (2). Lưu ý: Các đoạn trích trong các câu hỏi toàn bộ là của các vị chứ không phải do tôi nghĩ ra!

Câu hỏi 4.3: “Đã ghi là 2 cụ sưu tầm và dịch thuật toàn bộ thơ văn từ thời Hồ đổ về trước (xem trích dẫn ở trên) nay giáo sư lại ghi: “Các cụ chỉ khoanh trong hai triều Lý và Trần, ngay thơ văn hai triều ấy, các cụ cũng làm tuyển mà không làm toàn bộ”. Tại sao lại bất nhất như vậy?”. Bình luận: Khi trích lại một đoạn từ lời ghi nhận trong Lời nói đầu của TVLT lẽ ra tôi nên điền thêm dấu ba chấm phía trước thành “… toàn bộ thơ văn từ thời Hồ đổ vể trước” thì sẽ rõ nghĩa hơn. Tuy nhiên, câu hỏi chất vấn của tôi không phải về việc hai cụ đã dịch toàn bộ hay không toàn bộ mà về việc tại sao Nguyễn Huệ Chi lại nói “Các cụ chỉ khoanh trong hai triều Lý và Trần, ngay thơ văn hai triều ấy, các cụ cũng làm tuyển mà không làm toàn bộ” trong khi trong TVLT có ghi rõ là các cụ “được giao nhiệm vụ sưu tập và phiên dịch ra tiếng Việt toàn bộ thơ văn từ thời Hồ trở về trước” và “Đến năm 1965 thì việc sưu tập cũng như việc phiên dịch bước đầu đã hoàn thành”.

Mách với ông Nguyễn Huệ Chi một ví dụ: Các tác phẩm của Hồ Nguyên Trừng (TVLT tập 3) là Nam ông mộng lục tự (tr. 676-678), Đức tất hữu vị (tr. 690-691), Văn trinh ngạch trực (tr. 694-696), Y thiện dụng tâm (tr.697-698)… là do cụ Nguyễn Đức Vân cùng với Tuấn Nghi dịch. Vậy có đúng là các cụ chỉ khoanh trong hai triều Lý và Trần hay ông Nguyễn Huệ Chi lại cãi chày cãi cối?

Câu hỏi 4.4: Trong TVLT đã ghi rõ là 2 cụ “… sưu tập và phiên dịch ra tiếng Việt toàn bộ thơ văn từ thời Hồ đổ về trước, trong các sách vở chữ Hán còn lưu trữ tại các thư viện và trong một số tài liệu bi kí còn nằm rải rác ở các đình chùa trên miền Bắc… Các đồng chí Nguyễn Đức Vân, Đào Phương Bình, cán bộ trong tổ, đã trực tiếp tiến hành công việc đó”. Tại sao bây giờ giáo sư lại nói các cụ không đi điền dã: “Các cụ không có điều kiện đi về địa phương để đọc văn bia. Còn chúng tôi thì đã về tận nơi có bia để dập bia và mang về dịch trực tiếp”.

Bình luận: Nguyễn Huệ Chi viết “Bia phần lớn ở nơi hẻo lánh, có khi trong rừng và trên núi cao” nên các cụ không thể có chuyến đi điền dã. Đây là câu trả lời trí trá, đánh lừa người đọc. Thứ nhất, có rất nhiều bia nằm ở các đình chùa chứ không phải cái nào cũng nằm ở nơi hẻo lánh, trong rừng, trong núi. Xem danh mục các bia thời Lý Trần trong Văn bia thời Lý Trần (15) thì thấy rõ điều này. Thứ hai, vậy thì lời của chính các vị “sưu tập… một số tài liệu bi kí nằm rải rác ở các đình chùa trên miền Bắc” được hiểu thế nào nếu không phải là đi điền dã?

Nguyễn Huệ Chi khoe “suốt thời gian mấy chục năm, dấu chân của chúng tôi đã in hầu khắp trên địa bàn của nước Đại Việt thời xưa. Kể từ biên giới phía Bắc và phía Tây cho đến Đèo Ngang. Chỉ cần nghe ở đâu có bia hay có sách Hán Nôm cổ còn lưu giữ là chúng tôi đánh đường tìm đến, bất kể núi cao hay rừng thẳm…”. Không hiểu các ông tìm thấy cái bia gì chứ cái bia Linh Xứng mà ông khoe đã tìm ra và gây cho ông những cảm xúc bất tận (như đã nói ở phần trên) thì người ta đã tìm ra từ thời Pháp thuộc.

Câu hỏi 4.5. Xin hỏi lại Nguyễn Huệ Chi: Các cụ có đi điền dã, có nhiệm vụ dịch toàn bộ thơ văn Lý – Trần (tôi không nói là dịch toàn bộ) nhưng phần lớn bản thảo của hai cụ bị các vị phi tang thì lấy gì để đảm bảo là cụ Vân chỉ dịch một bài văn bia Linh Xứng như ông nói? Làm thế nào để tin rằng những bản dịch khác của cụ không bị các ông phi tang, pha chế rồi sang tên cho mình?

4. Trả lời mục 2 (“Những câu hỏi”) và mục 3 (“Về những bức hình chụp bản thảo TVLT”) trong bài trả lời của Nguyễn Huệ Chi (3).

Tôi đã nhắc không phải một lần: Để tranh biện đúng sai cần có tư liệu, bằng cứ chứ không phải kể lấy được. Trọng chứng hơn trọng cung. Tất cả những lời kể của Nguyễn Huệ Chi mà không có bằng cứ chứng minh đều vô nghĩa. Nguyễn Huệ Chi là người nói dối rất nhiều mà tôi đã vạch rõ không ít thì những đoạn kể GS Đặng Thai Mai “nài nỉ” ông làm trưởng nhóm rồi chê cụ Vân “Lần trước các cụ đã dịch Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi, Viện đánh công văn đưa sang Nhà xuất bản, bị ông Giám đốc Như Phong trả về một lần rồi” chẳng có cơ sở gì để chứng minh đó không phải là điều bịa đặt? Nếu GS Mai coi cụ Vân là kém như thế thì sao ông lại nói về cụ Vân như thế này: “Ông Vân của chú là người trung hậu, làm việc nghiêm túc và giỏi”? Và Nguyễn Huệ Chi dẫn lời của GS Đặng Thai Mai mỗi lúc lại một khác, không giống nhau. Đây là “lời của GS Đặng Thai Mai” mà Nguyễn Huệ Chi dẫn trên fb Son Kieu Mai: “Rút kinh nghiệm năm 1964 tôi (cụ Mai) đã đồng ý gửi một bản thảo của hai cụ Vân và Bình dịch thơ chữ Hán Nguyễn Trãi sang NXB Văn học chỗ anh Như Phong, nhưng rồi bị anh ấy trả lại, sau phải nhờ anh Trần Thanh Mại chần từng chữ, làm lại rất khổ công mới in được”.

Nguyễn Huệ Chi dám xúc phạm cực độ đến vong linh cụ Vân! Xin chép lại lời lẽ của Nguyễn Huệ Chi mà tôi đã dẫn ở phần 1 phía trên:

“Cứ giả thử rằng tôi được cụ Vân hoặc gia đình cụ Vân gửi gắm rồi nhân nhượng, giữ lại trong sách những bài dịch chưa thành công của cụ thì đối với công luận tôi là người thế nào?”, “Thương anh em để trong lòng/ Việc quan em cứ phép công mà làm”.

Rồi ngay sau đó Nguyễn Huệ Chi lại giở trò ca ngợi “cụ Vân là người sống rất đạo đức chuyên nhân nhượng”.

Trình độ của cụ Vân thế nào, giới nghiên cứu đánh giá về cụ ra sao tôi đã trình bày ở phần 1. Ngay bà Băng Thanh, đồng sự với ông trong vụ TVLT cũng có những lời đánh giá về cụ Vân như thế này: “Tất nhiên các cụ đã dịch như vậy rồi thì mình có thêm cũng không được là bao”, “… hồi ấy quả thật tôi rất sợ trách nhiệm với cái tên mình ở đấy cho nên đứng đằng sau các cụ tôi yên tâm lắm” (17).

Đúng là vừa ăn cắp vừa la làng!

(Xem tiếp kỳ sau)

Boristo Nguyen
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 544

—————————–
Chú thích :
(2) Boristo Nguyen. Đôi lời thưa lại cùng GS. Nguyễn Huệ Chi về chuyện Thơ văn Lý – Trần. Tuần báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 510 và 511, 8-2018 hoặc trang mạng http://www.viet-studies.net của Trần Hữu Dũng, 28-7-2018.
(3) Nguyễn Huệ Chi. Về bài “thưa lại” của ông Boristo Nguyen. Trang mạng Diễn Đàn (www.diendan.org).
(4) Nguyễn Huệ Chi. Vài lời đáp lại ông Boristo Nguyen. Tuần báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 504, 4-7-2018.
(7) Kiều Mai Sơn. Facebook cá nhân. Có thể xem tại mục Tư liệu về Nhật kí trong tù, trang Thơ văn Lý – Trần – Đại án văn chương. Blog Boristo Nguyen.
(11) Con cháu cụ Nguyễn Đức Vân. Ông Huệ Chi với bộ sách Thơ văn Lý – Trần: một câu chuyện buồn (Bức tâm thư gửi bạn đọc xa gần). Văn hóa Nghệ An, 10-11-2018.
(14) Đào Thái Tôn. Nỗi niềm tưởng nhớ thầy Nam Trân trong Những gương mặt trí thức Việt Nam, tập I. NXB VHTT, Hà Nội, 1998, tr.563-576.
(15) Lâm Giang, Phạm Văn Thắm, Phạm Thi Hoa. Văn bia thời Lý – Trần. Hà Nội 2007.
(17) PGS.TS Trần Thị Băng Thanh nói về việc tham gia dịch Thơ văn Lý – Trần, video ghi âm phỏng vấn PGS Trần Thị Băng Thanh, fb Son Kieu Mai, 1-4-2019.

Ý Kiến bạn đọc