Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Đại án văn chương “Thơ văn Lý Trần” – Nguyễn Huệ Chi thảm hại một nhân cách

 

Trước hết phải xin lỗi bạn đọc là trong bài viết đôi chỗ tôi sẽ sử dụng những từ khá nặng với ông Nguyễn Huệ Chi. Trong tranh luận tôi luôn cố gắng tôn trọng người đối thoại, cẩn trọng ngôn từ, nhất là khi người đó đã có tuổi. Tuy nhiên, vì Nguyễn Huệ Chi đã có thái độ rất hỗn với cụ Nguyễn Đức Vân – ông ngoại tôi, người hơn bố ông Nguyễn Huệ Chi 15 tuổi thì ông ta không xứng đáng được tôi tôn trọng. Đấy là chưa nói đến việc ông đã ăn cắp công sức lao động của cụ Vân và cụ Bình mà trong hai bài viết trước(1), (2) tôi đã vạch rõ.

Tôi viết bài viết này là để trả lời lại Về bài “thưa lại” của ông Boristo Nguyen (3) của Nguyễn Huệ Chi mà trong đó ông ta có rào trước là sẽ “lên tiếng lần cuối” vì không có gì đáng trả lời. Tôi cũng xin nói luôn, khi bị cáo buộc về những hành vi vô đạo đức, thiếu trung thực trong khoa học thì Nguyễn Huệ Chi có quyền trả lời để bảo vệ thanh danh cho mình, và cũng có quyền từ chối trả lời vì không dám đối diện với sự thật. Đó là quyền lợi của bị cáo. Không sử dụng quyền trả lời để bảo vệ thanh danh là việc của ông ấy, tôi không quan tâm. Tôi không hề có ý định tranh luận ăn thua mà chỉ muốn đưa ra ánh sáng, cung cấp các chứng cứ để mọi người thấy rõ những việc làm sai trái của Nguyễn Huệ Chi. Một lần nữa, tôi cũng đề nghị bạn đọc hãy khách quan, duy lí, chỉ nhìn vào bằng cứ trong các bài viết để rút ra kết luận cho mình. Tôi biết, người Việt mình nhiều người duy tình hơn duy lí, một số còn nặng “tư duy bè phái” nên việc thay đổi cách nhìn không phải lúc nào cũng dễ. Tuy nhiên, tôi tin các bài viết nếu mình đưa ra những minh chứng xác thực, điều mình nói là đúng thì chúng sẽ là những văn bản “đóng ghim” vào hiện tượng không mấy vui này. Xin bạn đọc lưu ý là tất cả điều tôi viết đều có căn cứ, có dẫn chứng chứng minh chứ không theo kiểu tư biện, nói lấy được.

Bài viết được chia thành 5 phần. Phần 1: Nhắc lại các điểm chính liên quan đến vụ Thơ văn Lý – Trần (TVLT). Phần 2: Nhận diện các thủ đoạn của Nguyễn Huệ Chi trong việc cướp đoạt thành quả lao động của hai cụ Nguyễn Đức Vân và Đào Phương Bình trong đại án TVLT. Phần 3: Phản hồi lại các phát biểu của Nguyễn Huệ Chi trong mục “Về những đoạn trích dẫn”. Phần 4: Phản hồi các phát biểu của Nguyễn Huệ Chi trong mục 2 (“Những câu hỏi”) và mục 3 (“Về những bức hình chụp bản thảo TVLT”). Phần 5: Một vài con số.

1) Xin nhắc lại những điểm chính liên quan đến vụ TVLT để bạn đọc tiện theo dõi:

- “Thơ văn Lý – Trần là bộ sách đồ sộ gồm 3 tập: tập 1 (1977); tập 2 quyển thượng (1988), tập 3 (1978), dày 2419 trang, bao gồm 914 đơn vị văn bản. Đây là bộ tuyển tập thơ văn Việt Nam tính từ khi Ngô Quyền dựng nước (938) cho đến sát trước khi Lê Lợi kháng chiến chống quân Minh (1418), trải qua 5 thế kỉ, 6 triều đại: Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Hồ”(1). Đây là một thành tựu lớn của giới nghiên cứu văn học cổ.

- TVLT không phải là công trình nghiên cứu cá nhân mà là một dự án của Viện Văn học gồm 2 pha, qua 2 giai đoạn: giai đoạn 1 từ 1960 đến 1965 do hai cụ Nguyễn Đức Vân và Đào Phương Bình thực hiện; giai đoạn 2 từ 1968 trở về sau do hai nhóm với Nguyễn Huệ Chi và Trần Nghĩa là trưởng nhóm thực hiện. Tôi nhắc lại: TVLT có 2 pha và ở mỗi pha những người tham gia đều có đóng góp nhất định. Chúng tôi không có ý định dành tất cả công lao toàn bộ TVLT về cho hai cụ Vân – Bình. Chúng tôi chỉ muốn lấy lại những gì mà hai cụ đã mất nhiều công sức và tâm huyết làm ra để rồi một số học trò, những kẻ hậu thế cướp đi sang tên cho mình. Kết quả của hai cụ được lưu lại trong 911 trang bản thảo đã bị phi tang, ăn cắp – pha chế rồi sang tên.

- Trong hai bài viết trước (1, 2), tôi đã đưa ra các bằng cứ và lập luận chặt chẽ, trong đó dùng chính các phát biểu bất nhất của Nguyễn Huệ Chi để chứng minh những việc làm sai trái của ông ta. Bạn đọc có thể tìm hiểu qua bài Đôi lời thưa lại cùng giáo sư Nguyễn Huệ Chi về chuyện Thơ văn Lý Trần(2). Trả lời cho những cáo buộc của tôi Nguyễn Huệ Chi hoặc đưa ra những lời kể mà không thể kiểm chứng để dẫn dụ làm người đọc hiểu sai, hoặc trả lời bằng cách trí trá (3). Tôi sẽ chỉ rõ những trí trá, lươn lẹo của Nguyễn Huệ Chi để bạn đọc rõ.

- Bên bị hại là hai cụ Nguyễn Đức Vân (1900-1974) và Đào Phương Bình (1914-1988). Trong việc đòi lại công lí này chúng tôi không tách riêng hai cụ như Nguyễn Huệ Chi muốn mà coi kết quả là chung của hai người. Một mặt, hai cụ cùng làm, không quan tâm hơn thiệt, mặt khác phần lớn bản thảo của các cụ đã bị thủ tiêu nên không thể xác định được ai đã làm cái gì.

Cụ Nguyễn Đức Vân là người thế nào, có những kết quả dịch thuật Hán Nôm đồ sộ ra sao báo chí cũng như truyền hình đã nói nhiều. Tôi dẫn lại đây để bạn đọc xem cụ Vân có đúng là kém về chuyên môn như Nguyễn Huệ Chi dám mỉa mai chê bai hay không?

“Xin liệt kê một số trong rất nhiều công trình mà cụ đã dịch hoặc tham gia dịch: Hồng Lâu Mộng – bộ tiểu thuyết đồ sộ của Tào Tuyết Cẩn (dịch cùng Bùi Kỷ và một số người khác), Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (dịch cùng Nguyễn Khắc Hanh), Tùy Viên thi thoại – bộ sách lý luận văn học nổi tiếng của Viên Mai (với cả nghìn trang dịch viết tay), Hoàng Lê Nhất Thống Chí của Ngô gia văn phái (dịch cùng Kiều Thu Hoạch), Cùng với Nguyễn Sĩ Lâm và Nguyễn Văn Hoàn chú giải truyện Kiều, dịch Trung Quốc tư tưởng của Dương Vinh Quốc, Tuyển tập Dân ca Trung Quốc… và rất nhiều tác phẩm khác” (1).

Hai học giả nổi tiếng là Đặng Thai Mai và Cao Xuân Huy có nói về cụ Vân: “Học giả Đặng Thai Mai, sư phụ của tôi, đã nói với tôi: “Ông Vân của chú là người trung hậu, làm việc nghiêm túc và giỏi”. Còn học giả Cao Xuân Huy (hồi ở cùng nhà với tôi) thì cũng hai lần nói với tôi: “anh có một nhạc phụ tuyệt vời”. Chẳng bằng cấp gì cả mà xem ra cử tú cũng khó bằng”.

Trong hồi ký của mình(5), nhà văn Vũ Ngọc Phan khi viết về tổ Văn học cổ đại, cận đại, dân gian (Viện Văn học) những ngày đầu thành lập năm 1959 có dòng như sau: “Tổ này gồm những cụ túc Nho lỗi lạc, như cụ Hà Văn Đại, Cao Xuân Huy, Nguyễn Đức Vân, hai nhà văn kỳ cựu là Hoàng Ngọc Phách và Trần Thanh Mại…” …”, theo đó như các thế hệ trước quan niệm, thì “túc Nho” là khái niệm dùng để chỉ những nhà Nho có học vấn uyên thâm.

So-543--Dai-an-van-chuong-Tho-van-Ly-Tran-Nguyen-Hue-Chi-tham-hai-mot-nhan-cach---Anh-4
Những năm tháng ấy, hồi ký của Vũ Ngọc Phan.

Cụ Nguyễn Đức Vân (1900-1974) là người tự học (bố là chí sĩ Hoàng Trọng Mậu bị Pháp bắn, cụ ở nhà làm ruộng nhường cho các em đi học), chỉ bắt đầu chuyển sang làm chuyên môn từ năm 1959. Thử hỏi có ai trong vòng 15 năm mà có một số lượng công trình dịch đồ sộ đến hàng vạn trang, nhất là trong đó có rất nhiều văn bản cổ không dễ mấy người hiểu và có thể dịch?

Mang danh là chuyên gia văn học cổ, khoe mình giỏi Hán Nôm nhưng cả đời Nguyễn Huệ Chi không có nổi một công trình dịch thuật từ văn bản gốc mà chỉ chuyên pha chế, xào xáo lại của người khác. Với một “bề dày” về dịch thuật như vậy mà Nguyễn Huệ Chi dám cả gan mỉa mai, xúc phạm đến cụ Vân, người có một khối lượng dịch thuật đồ sộ và hơn bố mình là cụ Nguyễn Đổng Chi 15 tuổi. Phải trơ trẽn và mất nhân cách đến mức nào mới vừa làm bậy, vừa dám hỗn với người thuộc thế hệ đi trước như thế này:

“Cứ giả thử rằng tôi được cụ Vân hoặc gia đình cụ Văn gửi gắm rồi nhân nhượng, giữ lại trong sách những bài dịch chưa thành công của cụ thì đối với công luận tôi là người thế nào?”,“Thương anh em để trong lòng/ Việc quan em cứ phép công mà làm” (1) (NHC).

- Bên bị cáo buộc là Nguyễn Huệ Chi và một số đồng sự khác. Tôi chỉ nói đến Nguyễn Huệ Chi vì ông ta là người chủ mưu và thực hiện chính. Những người khác tôi không muốn nhắc tới, một phần vì họ đã nhiều tuổi, một số vị đã về thế giới bên kia, phần khác mức độ cũng nhẹ hơn. Riêng trường hợp PGS Trần Thị Băng Thanh, trước đây tôi đã có thiện chí không muốn đưa bà vào cuộc vì có tính đến thái độ của bà đối với các cụ là tương đối trân trọng, hơn nữa về sau bà cũng có những công trình học thuật nghiêm túc. Bà Băng Thanh đã tự nhảy vào tham gia, không khảo mà xưng, lạy ông tôi ở bụi này. Do vậy nếu đôi chỗ tôi nhắc đến tên bà cũng là chuyện bình thường.

Nguyễn Huệ Chi phải là người thế nào mới được dân gian tặng những dòng thơ như thế này:

“Cụ Đổng Chi ơi có biết không
Làm cho bẽ mặt đến cha ông
Văn chương dấm dúi trong chuồng xí
Chữ nghĩa thập thò dưới bẹn mông

Mới biết cháy nhà ra mặt chuột
Cụ Đổng Chi ơi có biết không?”

Chuyện thơ vè dân gian cũng như chuyện “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” giữa Nguyễn Huệ Chi với đồng nghiệp cũ ở Viện Văn học tôi không là người trong cuộc nên không bình luận. Tôi sẽ chỉ nói tới những gì mình có chứng cứ cụ thể.

Việc Nguyễn Huệ Chi chuyên nghề pha chế công trình của người khác rồi sang tên cho mình nhiều người đã thắc mắc và đưa ra ánh sáng: chuyện TVLT (xin đọc lại bài Đôi lời thưa lại cùng giáo sư Nguyễn Huệ Chi về chuyện Thơ văn Lý Trần(2)), chuyện phát hiện Trần Quốc Tung của Nguyễn Lang (6), chuyện cùng Trần Thị Băng Thanh xào xáo lại bản dịch Nhật ký trong tù của thầy học Nam Trân(7)…

Ở con người Nguyễn Huệ Chi nổi rõ hai nét đặc trưng: hám danh, thích khoe khoang và trí trá. Chính hai tính cách này đã điều khiển hành vi, đưa ông ta đến những việc làm sai trái.

Những phát biểu tự khoe khoang của Nguyễn Huệ Chi có đầy rẫy trên mạng, tôi dẫn lại vài ví dụ để bạn đọc tự đánh giá:

“Xin được tiết lộ thêm, trong suốt thời gian làm bộ sách, tôi được cả Viện đánh giá rất cao, là Chiến sĩ thi đua toàn UBKHXH trong rất nhiều năm (Viện Văn học chỉ có mình tôi), sau khi Tập I in ra lại được Công đoàn toàn ngành khoa học xã hội biểu dương là một công trình khoa học nổi bật, bắt phải đi trao đổi kinh nghiệm đây đó, rồi lại được Chi bộ nhất trí kết nạp vào Đảng”, “Sau này, khi bộ sách đã in ra và nổi tiếng, tôi chịu nhiều hệ lụy về sự nổi tiếng ấy…” (8).

Bị nhận xét là người thích khoe khoang Nguyễn Huệ Chi chối phắt: “Chẳng hạn ngay mở đầu ông đã trình ra mấy lời tôi “tự khoe khoang” làm độc giả mất cảm tình, mà mấy lời đó chỉ là phản ứng tức thời của tôi viết trên Facebook của ông Sơn Kiều Mai nhằm chống lại dụng tâm của ông Sơn Kiều Mai mượn miệng ông Nguyễn Văn Hoàn (không biết thật hay giả) nói những lời mạt sát tôi về tư cách nhà nghiên cứu” (9).

Nhưng ông quên là trong bài Những năm tháng với Phong Lê trước đây mình đã viết:

“… Cái cầu toàn của mình đâu phải là hoàn toàn vứt đi. Chính nhờ nó mà một thời gian sau khi Thơ văn Lý – Trần Tập I ra mắt, chúng tôi đã được dư luận đón nhận. Kể từ năm 1978, từ bên trời Tây, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã gửi về qua đường ngoại giao cho tôi hai cuốn trong bộ Việt Nam Phật giáo sử luận của ông với lời đề tặng: “Kính tặng GS Nguyễn Huệ Chi. Nguyễn Lang – 1978 . Khi lên Văn phòng Đảng ủy Ủy ban Khoa học xã hội nhận sách, tôi thấy ông Bí thư Đinh Lư trước khi trao sách, mở ra chỉ vào mấy lời ấy và cười – Đúng quá! Thứ tôi mà Giáo sư cái nỗi gì. Ít lâu sau nữa, từ Úc châu, từ Canada, và từ Pháp, các học giả Nguyễn Hưng Quốc, Trần Văn Tích và Claudine Salmon đã viết những lời đầy khích lệ làm tôi ấm lòng. Cái cầu toàn của tôi, trong điều kiện cực kỳ thiếu thốn sách vở tra cứu, phương tiện in ấn ở miền Bắc và sau 75 là cả nước những năm 70-80 thế kỷ trước, dẫu chưa “toàn” như ông Trần Văn Tích nói, thì cũng không đến nỗi hoàn toàn là thứ việc làm “chuyên môn thuần túy” – và hệ quả ngầm hiểu không cần nói ra: vô ích cho việc xây dựng “con người mới cuộc sống mới” – như dư luận một thời ở Viện ám ảnh mãi tôi. Tôi gắng noi gương Phong Lê để không thẹn với anh, nhưng tôi cũng có cái để cho anh nể”.

Còn đây là bút tích của Nguyễn Huệ Chi trích từ lí lịch khoa học, có thể nói là độc nhất vô nhị!

So-543--Dai-an-van-chuong-Tho-van-Ly-Tran-Nguyen-Hue-Chi-tham-hai-mot-nhan-cach---Anh-5
 Lí lịch khoa học của Nguyễn Huệ Chi.

Tuy nhiên, chuyện hám danh chưa phải là điều quan trọng, quan trọng hơn là sự thiếu trung thực, trí trá. Trí trá thì nhiều, tôi chỉ dẫn ra đây vài ví dụ.

Thơ văn Lý – Trần tập 1 xuất bản năm 1977. Nguyễn Hưng Quốc sinh năm 1957, tốt nghiệp khoa Ngữ văn Trường ĐHSP TP.HCM năm 1979, rời Việt Nam sang Pháp năm 1985 và năm 1991 mới sang Úc định cư. Nguyễn Huệ Chi tự phịa ra là “Ít lâu sau nữa, từ Úc châu, từ Canada, và từ Pháp, các học giả Nguyễn Hưng Quốc, Trần Văn Tích và Claudine Salmon đã viết những lời đầy khích lệ làm tôi ấm lòng”.

Trả lời ý kiến của GS Nguyễn Văn Hoàn về phần Khảo luận hơn 150 trang của TVLT “thì những ý chính và chỉ đạo là Huệ Chi chịu khó nghe và ghi chép của cụ Đặng Thai Mai với cụ Vân rồi viết thành bài” Nguyễn Huệ Chi viết: “… Năm 1965, toàn Viện đi sơ tán lên Hà Bắc và mở lớp Đại học Hán học, riêng tôi tuy là sinh viên bắt buộc của lớp nhưng lại được giao ở lại Hà Nội… Lúc đã xong xuôi, lên tham gia lớp học vào đầu năm 1966 thì nghe nói cụ đã về hưu, rời bỏ nơi sơ tán của Viện về xuôi, và không còn một lần nào quay lại… Sau đó, sang đầu 1969 Nhóm Lý – Trần mới thành lập. Hỏi từ đấy tôi còn có cơ hội nào để tiếp xúc với cụ Vân mà xin chỉ giáo về những “lý thuyết văn học Lý – Trần” do cụ đúc rút được, nếu có?”. Ông Nguyễn Huệ Chi không biết là năm 1966 tôi cũng ở thôn Đồng Bèo (Hiệp Hòa) nơi sơ tán của Viện Văn học cùng với gia đình GS Nguyễn Đức Đàn. Vợ chồng cụ Vân cũng sống cùng ở đó. Nhà báo Thiên Việt, cháu nội cụ Vân xác nhận hai cụ sống cùng tại nơi sơ tán Đồng Bèo suốt thời gian chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965-1968) đến đầu 1969 mới quay về Hà Nội. Những người từng sơ tán tại Đồng Bèo thời đó nay nhiều người còn sống. Nếu thích ông có thể kiểm tra lại. Có một logic rất đơn giản: cả đời vợ chồng cụ Vân sống cùng gia đình con trai cả GS Nguyễn Đức Đàn. Trong chiến tranh phá hoại cả Hà Nội đi sơ tán, chỉ một số ít có nhiệm vụ đặc biệt mới trụ lại thì hai cụ già đã nghỉ hưu không đi sơ tán cùng con mà ở lại Hà Nội để làm gì? Chẳng lẽ ở lại Hà Nội để ngắm bom đạn? Việc gì mà Nguyễn Huệ Chi phải nói dối như vậy.

Bia Linh Xứng được phát hiện từ đã lâu và ngay Nguyễn Huệ Chi cũng viết: “Chỉ có một tấm bia Linh Xứng duy nhất được mang về Bảo tàng Lịch sử từ sớm, các cụ đã đến chép và dịch rồi” (3). Thế thì không hiểu Nguyễn Huệ Chi còn tìm thấy cái gì để năm 2013 trong bài phỏng vấn Trăn trở về thế hệ tiếp nối lại thao thao bất tuyệt về bia Linh Xứng: “Thuở ấy chúng tôi hăng lắm. Có thể nói, suốt thời gian mấy chục năm, dấu chân của chúng tôi đã in hầu khắp trên địa bàn của nước Đại Việt thời xưa. Kể từ biên giới phía Bắc và phía Tây cho đến Đèo Ngang. Chỉ cần nghe ở đâu có bia hay có sách Hán Nôm cổ còn lưu giữ là chúng tôi đánh đường tìm đến, bất kể núi cao hay rừng thẳm… Những tấm bia mà chúng tôi tìm được đều có văn chương cực hay… Ví dụ như chân dung Lý Thường Kiệt trong bia Ngưỡng Sơn Linh Xứng. Hay ở chỗ, bia thì nằm trong chùa, nhưng lại tập trung soi rõ một chân dung nhân vật ngoài đời, lấy công tích làm “việc đời” của nhân vật để coi là “việc đạo”, thừa nhận đấy là công tích của nhà Phật – cái cách hoán chuyển tinh tế ấy giữa đạo và đời tạo nên hứng thú thẩm mỹ…” (10).

Có những trí trá chỉ để khoe danh nhưng có những trí trá, bịa đặt là với mục đích để che đậy cho những việc làm thiếu trung thực. Những bịa đặt, dối trá của Nguyễn Huệ Chi với mục đích thuổng kết quả của Nguyễn Lang tôi đã vạch rõ trong bài viết “Boristo Nguyễn đã bé cái nhầm” hay là trò láu của Nguyễn Huệ Chi? (6)

2) Nhận diện các thủ đoạn của Nguyễn Huệ Chi trong việc cướp đoạt thành quả của 2 cụ Vân – Bình trong đại án TVLT. Trong bài Ông Huệ Chi với bộ sách Thơ văn Lý – Trần: một câu chuyện buồn (11) chúng tôi, con cháu cụ Vân đã chỉ ra những cách thức mà Nguyễn Huệ Chi đã sử dụng để chiếm đoạt công lao hai cụ. Ở đây tôi điểm lại các thủ đoạn của Nguyễn Huệ Chi để bạn đọc rõ:

2.1) Phi tang văn bản. Đây là bước đầu tiên. Hầu hết 911 trang bản thảo của hai cụ nộp cho ban Cổ Cận của Viện Văn học đã bị phi tang. Nguyễn Huệ Chi cho rằng bản thảo mất rồi thì chỉ cần đôi câu xin lỗi rồi có thể tha hồ đưa ra những lời kể không thể kiểm chứng, lái mọi người đi đâu thì lái. Không đơn giản như vậy! Cái kim trong bọc lâu ngày cũng lộ, làm bậy nhiều thì dấu tích để lại cũng nhiều. Một trong những loại dấu tích đó là rất nhiều phát biểu mâu thuẫn, bất nhất của Nguyễn Huệ Chi mà tôi đã chỉ rõ trong bài Đôi lời thưa lại cùng giáo sư Nguyễn Huệ Chi về chuyện Thơ văn Lý – Trần(2). Có một câu hỏi thế này: 911 trang bản thảo của hai cụ Vân – Bình được phân chia cho nhiều người xử lí. Mỗi người một tính: người ẩu có thể đánh mất, người cẩn trọng thường cẩn thận giữ gìn, nhất là với những tư liệu quan trọng. Chẳng lẽ các vị, những người mang danh là dân nghiên cứu, làm việc với chữ nghĩa tất cả đều không trân quý tài liệu, đồng loạt đánh mất bản thảo của các cụ? Bạn đọc có thấy điều gì đó không bình thường?

2.2) Pha chế văn bản, tạo ra mô hình sách phi tang công lao của hai cụ và sang tên. Với một văn bản cổ văn thường phải có các bước công việc với trình tự như sau:

Qui trình: 1) Đọc hiểu văn bản => 2) Tiểu dẫn về tác giả và hoàn cảnh sáng tác => 3) Phiên âm và khảo dị (nếu cần) => 4) Dịch nghĩa và chú giải (nếu cần) => 5) Dịch thơ hoặc dịch theo kiểu biền văn nếu nguyên tác là vận văn hay biền văn.

Nhận xét: Đọc hiểu văn bản và dịch nghĩa giúp cho việc hiểu nội dung văn bản là các bước đặc biệt quan trọng mà thiếu chúng thì đừng nghĩ tới việc dịch theo lối vận văn hay biền văn.

Pha chế văn bản: Đặc điểm của pha chế mà Nguyễn Huệ Chi và một vài vị đã làm là dựa vào thành quả của người đi trước để chỉnh sửa, thêm chỗ này bớt chỗ kia rồi sang tên cho mình. Sự thêm bớt, sửa chữa đôi tí này cũng có chỗ khá hơn nhưng chẳng là bao nhưng có chỗ lại làm hao hụt, thậm chí là sai. Pha chế này khác xa với việc dịch lại tác phẩm với cảm hứng riêng, ngôn ngữ riêng, dấu ấn riêng và không giống với các dịch phẩm nào có trước. Để biện minh cho sự pha chế Nguyễn Huệ Chi cố tình moi móc bắt bẻ một cách chủ quan những chỗ cho rằng người đi trước sai và cố cường điệu tự cho mình đúng hơn. Một ví dụ điển hình về sự pha chế đến độ hài hước của Nguyễn Huệ Chi xin xem hình 3 ở phần sau bài viết.

Tạo mô hình sách để phi tang một phần công lao của hai cụ: Đưa ra cái quy định không ghi tên người dịch nghĩa, chú thích, khảo đính mà chỉ ghi tên người dịch thơ, dịch biền ngẫu. Theo cái mô hình như vậy thì với những tác phẩm mà hai cụ đã làm thành quả lao động của các cụ sẽ bị phi tang sau khi pha chế và sang tên cho người khác. Hịch đánh động Ma Sa của Lý Nhân Tông là một ví dụ: Việc viết tiểu dẫn về tác giả, dịch nghĩa, khảo dị, chú thích của cụ Vân sau khi được pha chế tí chút biến thành của Nguyễn Huệ Chi và Băng Thanh. Dịch nghĩa là việc khó, đòi hỏi phải có trình độ Hán học cao, không có nó đừng nói chuyện dịch thơ hay dịch theo kiểu biền ngẫu. Vậy thì cái qui định dịch nghĩa không ghi tên, còn dịch thơ (sau khi pha chế) thì ghi tên người dịch là để với mục đích gì?

2.3) Xóa bỏ dần vai trò hai cụ theo thời gian, qua từng giai đoạn.

Khi tập 1 TVLT mới ra đời (1977), trong Lời nói đầu còn ghi rõ công lao các cụ, chỉ rõ những kết quả mà các cụ đã thực hiện được:

“Năm 1960, tổ Hán Nôm của Viện được giao nhiệm vụ sưu tập và phiên dịch ra tiếng Việt toàn bộ thơ văn từ thời Hồ đổ về trước, trong các sách vở chữ Hán còn lưu trữ tại các thư viện và trong một số tài liệu bi kí còn nằm rải rác ở các đình chùa trên miền Bắc. Các đồng chí Nguyễn Đức Vân, Đào Phương Bình, cán bộ trong tổ, đã trực tiếp tiến hành công việc đó. Nhờ nỗ lực tìm tòi, nghiên cứu, lại có sự giúp đỡ tận tình của những anh em khác trong tổ, nên công việc đã tiến hành tương đối thuận lợi; mỗi năm, mỗi năm khối lượng thơ văn tập hợp được một phong phú dần. Đến năm 1965 thì việc sưu tập cũng như việc phiên dịch bước đầu đã hoàn thành” (trang 5-6, tập 1, TVLT).

“Đến năm 1965 thì việc sưu tập cũng như việc phiên dịch [của hai cụ] bước đầu đã hoàn thành”.

Năm 1978, trong tập 3 tên hai cụ còn trong ban biên soạn nhưng đến tập 2 quyển Thượng (1988) thì cụ Vân bị loại ra khỏi ban biên soạn. Có một lưu ý: Cụ Vân mất năm 1974, cụ Bình không nghỉ hưu và làm việc cho đến ngày mất năm 1988. Tập 1 và tập 3 ra đời vào các năm 1977, 1978 khi vị thế của Nguyễn Huệ Chi chưa cao, cụ Vân mới mất, cụ Bình còn đang làm việc, phải chăng vì vậy mà công lao hai cụ được ghi nhận? Năm 1988 tình hình thay đổi, cụ Vân mất đã lâu nên dễ bề bị loại tên ra khỏi nhóm biên soạn. Tôi không dám so sánh trình độ và khả năng làm việc giữa hai cụ Vân – Bình, nhưng với những kết quả đã được công bố và xã hội công nhận thì thành tựu dịch thuật của cụ Vân không thể thua kém cụ Bình. Hai cụ cùng làm nhưng trong TVLT số đơn vị của cụ Vân ít hơn rất nhiều so với của cụ Bình, nguyên nhân liệu có phải khi đó cụ Vân đã mất còn cụ Bình vẫn đang làm việc nên các vị học trò “yêu” có phần thiên vị?

Giai đoạn tiếp theo, ngày 5-9-2007, trong nghiệm thu đề cương công trình “Tuyển tập thơ văn Lý – Trần” do Nguyễn Huệ Chi làm chủ biên thì phạm vi công việc mà các cụ làm đã bị thu hẹp lại một cách đáng kể: “Viện Văn học đã giao cho nhóm cụ Nguyễn Đức Vân – Tổ Hán văn, các cụ chỉ tuyển trên cơ sở các tác phẩm đã in từ trước, từ thế kỷ X – XV nên không được thông qua” (12)

Rồi trong thuyết minh đề tài Tuyển tập thơ văn Lý – Trần cho Tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến thì Nguyễn Huệ Chi với vai trò chủ biên đã trơ tráo gạt bỏ toàn bộ vai trò của hai cụ. Trong phần “Mục đích, ý nghĩa và đối tượng phục vụ” của bản đề cương ghi rõ: “Việc sưu tầm, nghiên cứu được đặt ra từ 1968…” coi như không có việc hai cụ đã làm trong những năm 1960-1965.

Những điều kể trên là bằng chứng chỉ rõ thủ đoạn nhằm dần loại bỏ theo thời gian công lao hai cụ.

Loại bỏ công lao của các cụ được tiến hành song song, vừa phủ nhận tổng thể vai trò theo thời gian vừa loại bỏ các kết quả cụ thể mà các cụ đã làm. Việc làm này để lại không ít dấu vết và tôi đã chỉ ra trong bài Đôi lời thưa lại cùng giáo sư Nguyễn Huệ Chi về chuyện Thơ văn Lý Trần (2)

2.4) Tách riêng công trình của hai cụ ra khỏi công trình chung của Viện Văn học. TVLT là một công trình lớn, được tiến hành trong thời gian dài, qua hai giai đoạn, giai đoạn một từ 1960 đến 1965, giai đoạn hai: từ 1968 trở về sau. Giai đoạn nào cũng là nhiệm vụ do Viện giao chứ không phải là nghiên cứu cá nhân. Việc tách riêng công trình của hai cụ khỏi công trình chung để sáp nhập vào những kết quả lẻ tẻ của các bậc tiền bối khác không thuộc một công trình tập thể nào cả là việc làm có chủ đích, mang tính thủ đoạn.

2.5) Lôi đồng đội vào để che đậy những hành vi bất chính của mình. Lúc cần để thanh minh thì Nguyễn Huệ Chi coi đấy là việc của tập thể, khi hưởng thanh danh thì một mình mình hưởng, chỉ nhắc đến tên mình. Đọc các phát biểu của Nguyễn Huệ Chi thì thấy đầy rẫy bất nhất. Khi thì nói đó là công việc chung dưới sự chỉ đạo sát sao của GS Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy, “Hội đồng duyệt bộ sách gồm 13 thành viên họp và bỏ phiếu” (3), khi thì mình là quyết định, mọi cái theo ý mình. Chỉ đạo sát sao mà các vị làm gì trong suốt 3 năm lãnh đạo không biết: “Và luôn trong 3 năm trời, cả tôi, Băng Thanh, Tú Châu (anh Hỷ tuổi cao được miễn) hàng ngày đến nhà in nằm bò ra giữa sàn, xếp chữ Hán xen vào khuôn chữ Việt. Thợ nhà in cứ tủm tỉm cười thầm, cho chúng tôi là những người làm sách kỳ quặc. Sách in bị chậm lại đến 3 năm chính là vì vậy. Chỉ đến khi sách ra mắt cả Viện mới biết lý do vì sao sách chậm trễ, còn Ủy ban Khoa học xã hội thì cắt khen thưởng của tôi trong liền 3 năm” (13). Chuyện trong 3 năm trời, Nguyễn Huệ Chi, Băng Thanh, Tú Châu hàng ngày đến nhà in nằm bò ra giữa sàn… thì trong bài “Boristo Nguyen đã bé cái nhầm” hay là trò láu của Nguyễn Huệ Chi? (6), tôi đã đưa ra những bằng chứng chứng minh đó hoàn toàn là bịa đặt.

2.6) Và thủ đoạn cuối cùng khi bị tố giác thì quay ra biện giải linh tinh, tiền hậu bất nhất. Những phát biểu chỗ này đối nghịch chỗ kia có quá nhiều mà tôi chỉ dẫn lại để nêu lên 8 câu hỏi trong bài Đôi lời thưa lại cùng giáo sư Nguyễn Huệ Chi về chuyện Thơ văn Lý – Trần (2).

(Còn tiếp kỳ sau)

Boristo Nguyen
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 543

—————————–
(1) Boristo Nguyen. Thơ văn Lý – Trần – Nghĩ về “tư cách trí thức” của GS. Nguyễn Huệ Chi. Tuần báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, số 502, 21-6-2018.
(2) Boristo Nguyen. Đôi lời thưa lại cùng GS. Nguyễn Huệ Chi về chuyện Thơ văn Lý – Trần. Tuần báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 510 và 511, 8-2018 hoặc trang mạng http://www.viet-studies.net của Trần Hữu Dũng, 28-7-2018.
(3) Nguyễn Huệ Chi. Về bài “thưa lại” của ông Boristo Nguyen. Trang mạng Diễn Đàn (www.diendan.org).
(5) Vũ Ngọc Phan. Những năm tháng ấy. Hồi ký. NXB Văn học, 1987.
(6) Boristo Nguyen. “Boristo nguyen đã bé cái nhầm” hay là trò láu của Nguyễn Huệ Chi? Tuần báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 534, 535. Tháng 2-2019.
(7) Kiều Mai Sơn. Facebook cá nhân. Có thể xem tại mục Tư liệu về Nhật kí trong tù, trang Thơ văn Lý – Trần – Đại án văn chương. Blog Boristo Nguyen.
(8) Kiều Mai Sơn. Trích Nhật kí KMS đăng trên fb Son Mai Kieu ngày 5-5-2017, phần comments trao đổi của Nguyễn Huệ Chi.
(9) Nguyễn Huệ Chi. Lược bày những sự thật khác với bài nói của ông Nguyễn Văn Hoàn. http://www.viet-studies.net, 25-7-2018.
(10) Nguyễn Huệ Chi. Trăn trở về thế hệ tiếp nối. Kiến thức ngày nay, số 818, 10-4-2013
(11) Con cháu cụ Nguyễn Đức Vân. Ông Huệ Chi với bộ sách Thơ văn Lý – Trần: một câu chuyện buồn (Bức tâm thư gửi bạn dọc xa gần). Văn hóa Nghệ An, 10-11-2018.
(12) Nghiệm thu đề cương công trình “Tuyển tập thơ văn Lý – Trần” do GS. Nguyễn Huệ Chi chủ biên tại NXB Hà Nội, 5-9-2007.
(13) Nguyễn Huệ Chi. Những năm tháng với Phong Lê. Talawas, 14-6-2008.

Ý Kiến bạn đọc