Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Đặc điểm thơ luật cổ điển là như thế?

Trong Tuyển Tập (tập II) của GS. TS. NGND Trần Đình Sử có bài Thơ Mới và sự đổi mới thơ trữ tình. Ở trang 584-585 có đoạn:

Thơ luật cổ điển xây dựng trên nhãn quan duy lý, nguyên tử luận, xem ngôn ngữ thơ như một tập hợp các từ đại diện cho sự vật mà người ta có (?) sử dụng như những viên gạch để lắp vào bộ khung cố định của luật thơ. Từ ngữ được sử dụng như những yếu tố màu sắc, thanh âm, vật thể với nghĩa bất biến để làm nên họa, nên nhạc (…) Những câu bảy chữ, năm chữ nối nhau không theo qui luật ngữ điệu, giọng điệu mà theo các qui tắc niêm đối. Ứng với lối cú pháp có tính độc lập ấy từ ngữ (trước hết là chữ) trong câu có tính độc lập rất cao, không lệ thuộc chặt chẽ vào qui tắc ngữ pháp thông thường (ví dụ thơ Trương Kế “nguyệt lạc ô đè sương mãn thiên…”) Tính độc lập này làm cho mỗi chữ, mỗi cụm từ, mỗi câu là những ý tượng độc lập tự phản ánh. Câu thơ có xu hướng danh ngữ hóa, cũng tức là họa hóa (Ví dụ trong bài Giang Hán: Giang Hán qui tư khách. Càn khôn nhất hủ nho…).

Thú thật, đọc đoạn này, tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Thoạt đọc có thể nghĩ rằng đây là đoạn tác giả rút ra hoặc lấy từ đâu đó nhận xét về thơ luật cổ điển Trung Quốc vì đến dẫn chứng cũng toàn ở Đường Thi? Nếu thế thì chúng tôi không dám thắc mắc vì đâu có được cho đi sang Tàu đào tạo để mà hiểu cho tử tế để mà thắc mắc! Lại nghĩ rằng nếu đấy là nói về thơ cổ của Tàu thì các nhà thơ trong phong trào Thơ Mới 1930-1945 của ta hơi đâu mà mất công đấu tranh phê phán, đổi mới nó! Phải là nhận xét về thơ luật cổ điển Việt Nam viết bằng tiếng Việt, ghi bằng chữ Nôm thì mới phải bỏ công sức ra vì văn hóa dân tộc mà đấu tranh phê phán nó chứ. Nghĩ như thế thì thấy cũng có thể lạm bàn vì dù sao cũng đã được học ít nhiều về nó.

Cái ngạc nhiên thứ hai là nếu thơ luật cổ điển Việt Nam thời trung đại mà chỉ có cái “đặc điểm” ấy thì sao nó có thể có giá trị trường tồn đến nay? Một thứ thơ mà người làm thơ chỉ “xem ngôn ngữ thơ như một tập hợp các từ đại diện cho sự vật” và “sử dụng như những viên gạch để lắp vào bộ khung cố định của luật thơ” thì phỏng còn có giá trị nghệ thuật gì để mà đọc, mà truyền tụng!

Có lẽ phải hiểu khác! Đấy không phải là đặc điểm của “chính” thơ luật cổ điển. Dường như ông GS. TS đánh đồng một thể thơ (Đường luật bát cú) với các luật lệ về hình thức của nó với chính các bài thơ làm theo thể loại hình thức đó (1). Với những bài thơ làm theo thể loại hình thức “Đường luật bát cú” thì vấn đề lại là giá trị ở từng bài, ở tài năng người làm! Những người bất tài thì có thể làm ra thứ thơ “duy lý”, “nguyên tử luận”, lắp từ ngữ như xếp gạch vào các khuôn như ông nói! Còn những người có tài thì khác!

Cái gọi là “đặc điểm” thơ luật cổ điển như ông nêu ra chỉ là đặc điểm của loại thơ các anh đồ anh khóa cố gò câu chữ để tạo ra các “bài thơ” đúng “luật” trong các kỳ thi cử! Đối với họ, tất cả các yêu cầu về qui tắc bắt vần, giữ niêm, giữ đối, đến cả bố cục cũng phải răm rắp theo qui tắc “Đề thực luận kết” là những thứ họ phải cố sống cố chết thực hiện cho bằng được. Và như thế thì đâu còn gọi là… thơ!

Dường như ông GS. TS lấy lại lời phê phán thứ thơ luật gò bó đủ thứ với những sản phẩm như đã nói trong phong trào phê phán thơ thất ngôn bát cú thời Thơ Mới ở ta hay ở Trung Quốc trước đó! Đó không thể là “đặc điểm” của chính các bài thơ cổ điển, nhất là những bài có giá trị trường tồn của các nhà thơ cổ điển thành danh. Họ có tài làm thơ sao chịu làm như những anh đồ, anh khóa dốt gò gẫm câu chữ theo niêm luật? Họ tung hoành câu chữ tài hoa đến thế kia mà! Họ càng không chịu làm thơ kiểu “câu bảy chữ, năm chữ nối nhau không theo qui luật ngữ điệu, giọng điệu mà theo các qui tắc niêm đối” (2). Họ thừa biết giao tiếp đời thường cũng phải có ngữ điệu, giọng điệu nữa là! Cứ đọc lại riêng mấy bài Đường luật bát cú của Nguyễn Khuyến là rõ! Có cái giọng ngợi ca cảnh sống thanh nhàn, thưởng thức cảnh đẹp thiên nhiên của làng quê của người không màng danh lợi ở bộ ba thơ vịnh mùa thu. Có cái xót xa cho cuộc sống dân lành vùng lũ lụt. Có cái giọng cười châm biếm nhẹ nhàng ở Tiến sĩ giấy. Có cái giọng mỉa mai chì chiết của Hội Tây… Thế thì không thể lẫn lộn như lời GS được!

Người tinh ý một chút có thể thấy thực chất lý luận ở lời phê này trước đây hơn 80 năm. Có lẽ người ta chỉ không nhận ra hai cái từ duy lý và nguyên tử luận trong cái “nhãn quan” nhà nghiên cứu lấy ở đâu đó hoặc tự sáng tác ra! Và không thể không nhận ra những lầm lẫn có thể do viết vội, viết nhịu! Kể ra nếu không có phát hiện gì mới mẻ, đặc sắc thì chỉ nên “thuật nhi bất tác” kiểu cụ Khổng làm lại hay.

Khi các nhà từ chương xây dựng các luật thơ để làm “chức năng lập pháp, quy phạm, tổ chức sáng tác” (như ông Trần nói về chức năng của Lý luận văn học) thì có thể đưa đến thứ quan niệm về thơ như thế thật!

Các nghệ sĩ đi trên dây vẫn có thể đi thoải mái trong khi vẫn thực hiện các qui tắc vật lý trong hoạt động giữ “trọng tâm luôn rơi vào chân đế” để khỏi ngã.

Lê Dân
(Q. Ba Đình, Hà Nội)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 386

——————————————————-

(1) Khi các nhà từ chương xây dựng các luật thơ để làm “chức năng lập pháp, quy phạm, tổ chức sáng tác” (như ông Trần nói về chức năng của Lý luận văn học) thì có thể đưa đến thứ quan niệm về thơ như thế thật!
(2) Các nghệ sĩ đi trên dây vẫn có thể đi thoải mái trong khi vẫn thực hiện các qui tắc vật lý trong hoạt động giữ “trọng tâm luôn rơi vào chân đế” để khỏi ngã.

Ý Kiến bạn đọc