Truyện ngắn

Cuốn nhật kí còn dang dở

Trời đã vào thu, không còn cái nắng đổ lửa như hồi đầu hạ nữa. Bà Loan bần thần nhìn cây thị góc vườn, nó đã lúc lỉu những chùm quả căng mọng sắp rực ươm sắc vàng. Mới đó thôi mà đã mấy chục năm qua đi rồi. Đôi mắt bà mờ sương chìm vào dòng cảm xúc khi nhìn từng đợt mưa ngâu trắng trời. Không biết ông Trời thế nào mà để cho Ngưu Lang gặp Chức Nữ trong làn nước bạc đến tê lòng…

Ngày ấy, tóc bà còn xanh thắm. Mái tóc dài bén gót đen nhay nháy mà khi bà gội đầu buông xõa ai đi qua cũng phải ngoái nhìn là lúc ông trồng cây thị này. Độ ấy cũng là mùa thu, trời hây hẩy gió heo may. Ông về huyện lấy thêm tân binh cho đơn vị có tạt qua nhà được một ngày. Ông trồng cây thị ngay đầu ngõ, bảo ngày ông trở về sẽ rất vui khi thấy mấy mẹ con bà đợi ông ở đó. Ba mẹ con bà còn nhớ mãi hình ảnh người ông lấm lem đất cát hì hục đào hố đánh cây mang trồng. Hôm đó mưa ngâu cũng da diết. Ông yêu con bé Hà lắm. Nó sinh thiếu tháng hay ốm đau nên ông không yên tâm khi ra trận, nhưng đất nước còn loạn lạc nên ông phải làm tròn nghĩa vụ của một người lính. Ông chỉ ao ước được về đón Trung thu với con, sẽ làm chiếc đèn ông sao thật to, sẽ đan cho con bé cái túi đựng quả thị bằng cói, sẽ đưa con đi chơi dưới đêm trăng rằm, sẽ…

Nhưng tất cả chỉ là ước mơ. Cây thị giờ đã già, cao to như một tòa nhà hai tầng tỏa bóng mát rượi quanh năm. Nó vẫn đứng đó xanh tốt mặc cho thời gian trôi đi, mặc cho nắng hạn mưa vùi. Cây thị đến già chưa một lần được đón ông về. Hình ảnh ông trở về với ngôi nhà này chỉ có trong tưởng tượng. Ông đi lần ấy rồi bà có thêm thằng Lâm. Tội cho thằng bé, chưa được biết mặt bố lần nào. Một mình bà ở nhà làm ăn công điểm của hợp tác xã, các con bà bữa đói bữa no. Bà mò cua bắt ốc đắp đổi qua ngày. Hai bên nội ngoại bố mẹ mất cả chẳng nhờ được ai. Thời buổi tem phiếu đói kém, anh em trong nhà ai cũng đàn con nheo nhóc.

Ngày nhận giấy báo tử của ông, bà ngất lên ngất xuống. Trời đất đổ sập quay cuồng dưới chân bà. Thương đàn con thơ dại bà gắng gượng sống nuôi con. Như ở trong cơn ác mộng. Ông hứa với bà nhiều lắm. Khi nào hết giặc, ông sẽ về hạ vườn xoan đào xuống dựng cái nhà chắc chắn. Mùa ngâu đến sẽ không còn cảnh dột ướt nữa. Vậy mà…

Kể từ đó bà lầm lũi như chiếc bóng. Thằng cả cũng đã biết giúp mẹ việc nhà, chăm sóc các em. Bà đi làm từ lúc gà gáy sáng và trở về nhà khi đã lặn mặt trời. Các con là lẽ sống, công việc là niềm vui. Bà lao vào việc đồng áng để con có bát cơm trắng không phải ăn độn khoai lúc giáp hạt và công việc mệt nhọc giúp bà quên đi cái mềm mọng của người đàn bà xa chồng lâu ngày. Những tủi cực chất chứa trong lòng rồi cũng sẽ nhẹ bớt theo thời gian và nhất là khi nhìn thấy nụ cười trên mặt các con.

So-514--Trua-he---Nguyen-Thanh-Minh---Anh-1
Trưa hè – sơn dầu – Nguyễn Thanh Minh.

Một lần, bà ra đồng gặp cơn mưa bị cảm lạnh. Toàn thân lạnh cóng run rẩy. Đêm ấy, thằng Phúc lấy dây bạc của em đánh cảm cho bà rồi mà vẫn cứ rét. Từng cơn sốt mê man cứ liên tục đến làm bà mệt lả. Rồi bà thấy ông về, ông đội mưa ướt dầm dề, ông gạt mưa phăng phăng chạy đến bên bà. Ánh mắt ông nhìn bà tha thiết:

- Mình ơi! Tôi đã về với mình rồi đây!

Không tin ở mắt mình, bà ôm chầm lấy ông, gục đầu vào khuôn ngực vạm vỡ cơ múi của ông mà khóc. Bao nhiêu nước mắt kìm nén giờ bung ra như suối. Ông nhẹ nhàng lau nước mắt cho bà, dịu dàng hôn lên đôi mắt buồn thẳm rồi ông lấy khăn ướt đắp lên trán bà. Bà giữ chặt tay ông thảng thốt gọi tên như thể sợ ông sẽ biến mất vậy.

- Mẹ! Mẹ làm sao thế? – Các con bà đồng loạt kêu lên kéo bà khỏi cơn mộng mị. Thì ra chỉ là một cơn mơ. Đã quá khuya mà cả ba đứa vẫn còn thức canh chừng bà. Nhìn các con lòng bà trào lên một niềm hạnh phúc vì thấy chúng biết thương và lo lắng cho mẹ. Con Hà ôm lấy bà khóc vì sợ, thằng Phúc thì cũng luống cuống tay chân tìm xem trên người bà có bị làm sao không. Thằng Lâm thì mếu máo. Bà trấn an các con:

- Mẹ không sao đâu. Thôi các con ngủ đi!

Nhìn chúng ngủ như những thiên thần lòng bà chùng xuống. Ở đâu đó từ trong một cõi rất sâu rất xa một nỗi niềm khó có thể nói thành lời. Chỉ có bóng đêm và tiếng mưa rơi ngoài sân là bạn đồng lõa với tiếng thở dài của bà. Trong lòng bà chưa lần nào thôi hi vọng một ngày nào đó ông sẽ trở về bên bà, bù đắp cho bà những tháng ngày mòn mỏi cho dù ông có bị mất trí nhớ hay không còn nguyên vẹn. Ông vẫn là của riêng bà. Hoặc là nếu nhỡ ông có người khác thì bà cũng không trách ông, vì các con bà cần ông. Trong miền lặng của bà, ông chỉ có thể là của bà, mãi mãi. Nghĩ đến đây trái tim bà nghẹn lại. Bà không tin ông có thể là người bạc tình bạc nghĩa như thế. Bà lại tự an ủi mình. Có thể lắm chứ, biết đâu ông vẫn còn sống. Chiến tranh mà, mọi chuyện đều có thể xảy ra chỉ cần ta đừng thôi hi vọng.

Bà thấy nhớ ông cồn cào, nhớ vòng tay chắc khỏe ôm bà nghẹt thở, nhớ mùi mồ hôi nồng nồng của ông, nhớ nụ cười rám nắng, nhớ ánh mắt thiết tha. Lâu lắm rồi bà gói ghém nỗi nhớ này tận đáy lòng. Lí trí bà mạnh mẽ lắm. Mỗi lần nỗi nhớ ấy len lỏi trong trái tim, bà đều dùng lí trí gạt phắt đi. Nhưng bây giờ bà để mặc nó vẫy vùng cho thỏa thuê nhớ mong. Ừ thì cứ sống thật với chính mình đi nào. Việc nhớ chồng hà tất gì phải kìm nén. Cô đơn bủa vây người vợ trẻ. Không ngủ được bà ra hiên ngồi. Mưa rập rờn qua vườn. Cây thị khẽ rung rung vạt lá.

Sáng hôm sau có người mặc bộ quân phục tìm vào nhà. Suýt chút nữa thì bà đã reo lên. Thì ra là không phải. Bà cố trấn tĩnh nhận lại từ tay người đồng chí của chồng món quà vô giá là quyển nhật kí đã ngả màu. Hi vọng tắt ngấm. Ông đã ra đi mãi mãi. Một viên đạn cắm vào ngực trong lúc đi trinh sát đã khiến ông chẳng bao giờ trở về. Người bạn đi cùng đã chôn cất ông ở một khe suối bên cạnh một gốc cây to. Người đó còn vẽ cả sơ đồ vào quyển nhật kí để sau này có thể tìm được phần mộ. Nhưng trận đánh sau, anh ấy cũng hi sinh. Người ngồi trước mặt bà đây cùng đơn vị bị thương phải về tuyến sau điều trị nên khó khăn lắm mới mang được quyển nhật kí này về trao cho bà. Tai bà ù đặc đi. Bà chẳng biết gì nữa.

Ngày tháng trở nên trống rỗng. Không có con thì cuộc sống của bà như vô nghĩa. Nhắm mắt vào mở mắt ra là những dòng chữ mềm mại bay bướm của ông hiện ra trước mặt. Ông cẩn thận ghi chép từng trận đánh, những cảm giác đau đớn khi mất đi người đồng chí của mình như mất đi người thân. Khi đọc nó, bà thấy ra rằng những chờ đợi vất vả của bà ở hậu phương chả là gì so với những nguy hiểm mà ông và đồng đội luôn phải đối diện.

Một phóng viên của tờ báo tỉnh đã năn nỉ bà cho mượn cuốn nhật kí của ông để lấy tư liệu viết bài về phong trào đánh giặc. Nghĩ mãi rồi bà cũng đồng ý. Cuốn sổ ấy vô cùng quý giá với bà, nó thay ông ở bên bà suốt quãng đời còn lại. Ông đã hi sinh vì dân vì nước ấy thôi. Bà nghĩ mình không thể ích kỉ được và chắc ông cũng sẽ thấu hiểu, ủng hộ quyết định của bà. Liên tiếp năm sáu số báo liền có bài viết về ông, những dòng nhật kí của ông xuất hiện trên mặt báo khiến cả làng tự hào. Và rồi bà không bao giờ thấy người đàn ông trung niên oằn mình đạp cái xe đạp Thống Nhất hoen gỉ ấy đến nhà bà nữa. Bà lại đợi chờ. Nhiều lần bà tự trách mình, kỉ vật vô giá cuối cùng của ông mà bà không biết giữ gìn. Giá như bà đừng cả tin như thế. Rồi bà tự an ủi mình, âu cũng là vì tình yêu nước mà ra cả.

Đàn cháu đi học về cười nói kéo bà trở về thực tại. Các con bà thành đạt và yên bề gia thất bà cũng lấy làm mãn nguyện. Nhiều người thắc mắc sao bà không chặt cây thị đi, nó cao lớn che hết cả một góc vườn. Chặt đi rồi trồng hòe lấy nụ bán có phải kinh tế hơn không. Người ta đâu còn thích ăn thị như trước nữa. Bà chỉ ậm ừ cho qua chuyện. Ông không còn nữa nên cây thị này nó rất quan trọng với gia đình bà. Có nó, cả nhà bà ai cũng thấy như ông ở bên, luôn che chở cho các thành viên trong gia đình. Bà già rồi, giờ chỉ còn một tâm nguyện là đưa ông về quê. Các con của bà cũng đã cố gắng đi tìm phần mộ của ông mà chưa được, kể cả nhờ nhà ngoại cảm. Giá như còn quyển nhật kí của ông, biết đâu có thể tìm được một thông tin gì đó cho việc kiếm tìm?! Bà lại trách mình nhẹ dạ. Con cháu không đứa nào nhắc tới cuốn nhật kí đó, chúng sợ bà buồn. Bà cũng đứt ra từng khúc ruột. Tìm được ông thì bà có chết mới yên lòng về với ông. Đêm trở nên dài vô tận với người già, nhất là với người có nhiều nỗi lòng như bà.

Thằng Phúc có vẻ gấp gáp đánh xe về đón bà lên ngay phòng truyền thống của đơn vị ông. Tim bà như muốn nhảy ra khi nhìn thấy cuốn sổ. Con bà vẫn không thôi việc tìm hài cốt của bố. Nó lên gặp thủ trưởng mới của đơn vị đúng lúc ông ấy bận họp. Trong khi chờ đợi nó đã vào xem phòng truyền thống. Như có một lực hút vô hình, nó không rời mắt khỏi cuốn sổ. Nó khẽ rùng mình, một cảm giác thân quen ấm áp dâng lên. Nó đã từng đọc trộm cuốn sổ đó lúc còn bé nên cũng nhớ một số chi tiết.

*
Bà run run thắp nén nhang lên mộ ông. Ông đã về yên nghỉ bên đồng đội ở Nghĩa trang Liệt sĩ quê nhà. Thế là giờ đây bà có thể khóc to trước phần mộ của ông được rồi. Những giọt nước mắt kìm nén lâu ngày được dịp bung ra trên khóe mắt già nua của bà khiến những người có mặt khó có thể cầm lòng. Bà đã từng oán trách người phóng viên đó bao nhiêu lần. Giờ mới rõ ra ông ấy đã đạp xe về trả bà cuốn nhật kí, nhưng đi trong đêm bị cướp giữa đường mất hết đồ lại bị đánh ngất khi cố lấy lại quyển nhật kí. Rồi một người đồng đội của ông đi giao hàng sớm nhặt được nó ở giữa đường. Hôm gặp mặt những chiến sĩ Trường Sơn năm xưa của đơn vị, ông ấy đã gửi nó vào phòng truyền thống. Cũng nhờ quyển nhật kí này mà ngoài ông ra, người ta còn tìm thấy mấy đồng đội của ông đã yên nghỉ. Không chỉ có mình bà mà người phóng viên khi xưa giờ đã già yếu lắm rồi cũng cảm thấy nhẹ lòng. Trong làn khói hương mờ ảo dưới ánh chiều, bà thấy ông hiện ra khẽ mỉm cười rồi tan vào trong gió…

Lê Thị Nhung
(Thái Thụy – Thái Bình)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 514

Ý Kiến bạn đọc