Người tốt - Việc tốt

Cuộc sống giản dị của Bác ở Phủ Chủ tịch

 

Trong những năm ở Phủ Chủ tịch, Bác đã sống hằng ngày như thế nào?

Mùa hè nóng lắm. Hà Nội là nơi nóng bậc nhất ở đồng bằng Bắc bộ. Nhưng như đã nói, Bác không cho lắp máy điều hòa không khí. Còn quạt máy thì cho đến năm 78, 79 tuổi, Bác vẫn không chịu dùng quạt trần và quạt để bàn.

Có một lẽ Bác không nói ra và đây mới là lẽ chính sâu xa ở trong lòng. Số đông người Việt Nam ta ngày ấy chưa có quạt máy để dùng, cho nên từ trong lòng, Bác không muốn dùng quạt máy. Những ngày hè nóng nực nhất, Bác Hồ chỉ dùng quạt giấy và quạt nan thôi.

Đấy là mùa hè. Còn về mùa đông, Bác Hồ có một cái áo bông của đồng bào biếu. Bác dùng nhiều năm rồi. Mới đầu, bông xốp còn dày, ấm. Sau dùng mãi nó lép xẹp xuống không ấm lắm nữa. Nhưng chưa ai dám nghĩ đến việc xin Bác bỏ cả nền bông đâu, chỉ nghĩ đến thay cái vỏ ngoài. Lúc đầu cái vỏ bằng vải mới, dần dần nó phai màu, đứt chỉ ở khủyu tay và cổ. Bác bảo mạng lại. Nó rách ở vai thì Bác bảo vá vai. Mùa rét vừa qua, tháng 2-1969, nó lại rách một miếng nữa ở vai, những đồng chí chuyên săn sóc sức khỏe của Bác nhân dịp ấy mới nhắc một đề nghị đã nhiều lần: Xin Bác cho thay vỏ ngoài, nó lại rách một lần thứ hai ở vai rồi. Đây là một người bạn chiến đấu mấy chục năm nay của Bác, cho nên Bác nói thẳng, thân tình lắm. Bác quay lại bảo đồng chí ấy thế này: “Này chú ạ, Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy. Đừng bỏ cái phúc ấy đi”. Và nhất định Bác không cho thay cái vỏ mới. Bây giờ trong bảo tàng vẫn là cái áo bông vá vai như thế. Bác còn có lò sưởi điện. Bác có mấy cái, nhưng Bác lại càng ít dùng lò sưởi điện. Cũng vì lẽ không muốn phụ thuộc và lò sưởi điện, và nhất là vì lẽ số đông người Việt Nam không có lò sưởi điện hằng ngày sưởi về mùa đông.

So-611--Cuoc-song-gian-di-cua-Bac-o-Phu-Chu-tich---Anh-1
Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch. Nguồn : giaoduc.net.vn

Ở đây cũng rõ một nét trong đời sống hàng ngày của Bác. Bất kỳ cái gì có tý lãng phí cũng quyết không để lãng phí. Nhưng đã cần thì dùng cho đủ mức cần.

Về việc tiết kiệm điện, không biết bao nhiêu lần, tự tay Bác tắt những cái đèn, cái quạt và cái đài đang tiêu thụ điện mà không ai dùng cả. Ở nước ta thế mà khi ra nước ngoài cũng thế. Đi lướt qua một hành lang trên con đường đến nơi nào đó bạn tiếp khách hay trong nhà khách của bạn, thấy có bóng đèn điện để đấy không cần là Bác tìm xem chỗ tắt ở đâu, Bác tắt đi. Có đồng chí ở với Bác khá nhiều năm đã nói:

- Tất cả các năm mình ở với Bác, luôn luôn mình là cán bộ tắt đèn. Bác cứ thấy xa xa những bóng đèn đang sáng, Bác bảo xem lại có ai ở đấy không, có cần để ánh sáng để bảo vệ không? Nếu không thì tắt đi.

Suốt thời gian 15 năm từ ngày về Hà Nội, Bác nhận một ô-tô loại trung bình chứ không phải loại sang nhất và Bác cứ dùng thế mãi cho đến khi qua đời.

Bác luôn ân cần bảo ban giúp đỡ mọi người. Điều đó nhập vào trong người Bác thành một cái gì rất tự nhiên như một nhu cầu, một nếp sống quen thuộc của Bác. Giúp đỡ mọi người quanh mình, từ người bạn chiến đấu gần gũi, bây giờ là cán bộ cao cấp của Đảng, của Nhà nước, đến bất kỳ một người bình thường nào, giúp việc Bác hằng ngày trong đời sống. Bảo ban ân cần như nhau, nhiệt tình đầy đủ như nhau, không có gì khác. Không có sự phân biệt, câu nệ, đối với ai cũng ân cần chăm sóc như nhau. Khác chăng là ở cái tầm, ở nội dung thay đổi đi cho vừa với từng người một. Bảo ban cẩn thận, tỉ mỉ, chu đáo. Và trong sự bảo ban ấy, rất khiêm tốn chứ không ra vẻ dạy đời.

Khi Bác tiếp khách, khách nước ngoài cũng thế, khách trong nước cũng thế, để tự anh em, thì khi rót nước xong bưng ngay chén nước đầu tiên đặt ngay trước Bác rồi mới đưa cho người khách. Bác cứ điềm nhiên như không. Lúc nào đó, Bác, cháu ở nhà, Bác mới bảo: “Này, các chú ạ, Bác, cháu ta làm việc ở trong nhà, ta là chủ. Các bạn nước ngoài đến, hay các cô, các chú đến làm việc, là khách. Ta đãi khách. Lần sau các chú rót xong nước thì đưa cho tất cả khách trước, và đưa Bác sau, không phải đưa Bác trước đâu”.

Có một cháu nhỏ được ăn một bữa cơm với Bác. Sau đó nó nhớ mãi. Lúc Bác mất rồi, nó kể lại được ăn cơm với Bác như thế nào. Hôm ấy, đứa cháu còn nhỏ lắm, đi theo bố vào cơ quan. Bố nó có việc bận phải đi xa. Nó ở đấy lâu khóc gọi bố. Bác mời ăn bữa cơm. Trong ngôn ngữ của Bác, không có chữ “cho”. Không phải cho ai cái này, cái kia, mà tặng cô, biếu chú, mời cháu. Mời cháu ăn cơm với Bác Hồ và bác Tô. Đứa cháu sợ lắm, nó chưa quen. Chưa bao giờ nó được vào ngồi với Bác.

Nó kể vào ăn cơm thì được ngồi giữa Bác Hồ và bác Thủ tướng. Lúc đầu vào bữa cơm nó sợ lắm. Nó không biết ăn thế nào. Bác Hồ mời nó ăn miếng thịt gà của Bác. Ăn được hai bát cơm, đứa cháu vẫn sợ. Ăn xong, nó nói: “Cháu ăn xong rồi ạ” rồi ù té chạy. Nó chạy đến cửa, Bác mời vào:

- Này cháu, chưa xong đâu.

Cháu vào đây. Thế này nhé. Hôm nay bác Tô và Bác Hồ mời cháu ăn cơm. Cháu ăn xong, cháu phải cảm ơn đường hoàng rồi cháu mới đi chứ. Không cảm ơn mà đi là không được đâu.

- Cháu cảm ơn Bác Hồ, cháu cảm ơn bác Tô ạ.

Xong, lại ù té chạy. Chạy ra đến cửa Bác lại gọi:

- Chưa, chưa xong đâu. Cháu vào đây. Cháu còn nhỏ, bây giờ về nhà cháu cũng chơi thôi. Không có việc gì vội. Cháu ăn xong, cháu phải đi rửa bát, đũa của cháu cho sạch, đặt vào đây, chứ không phải để các chú lớn phải làm thay cháu đâu. Cháu đi rửa bát, đũa đưa vào đây trả.

Giao cho nó bát, đũa, tự nó rửa sạch sẽ rồi mang vào trả. Khi vào trả, Bác cũng vừa ăn xong. Khi ăn tráng miệng, Bác bảo:

- Mời cháu vào đây ăn tráng miệng với Bác.

Ăn bữa cơm với một đứa cháu mới vừa gặp, Bác dạy cho nó như thế. Bao nhiêu điều trong ấy. Biết lễ phép, biết lịch sự, biết cảm ơn việc làm tốt đối với mình, biết trọng người ta, biết nhường nhịn, biết quý lao động, biết công bằng. Bác hướng dẫn cụ thể, chính xác lắm. Đại khái, lơ mơ là Bác không chịu.

Nguyễn Xuân Ba
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 611

—————
(Theo lời kể của đồng chí Việt Phương, nguyên thư ký của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Trích từ sách: Bác Hồ sống mãi với chúng ta, tập 2, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005)

Ý Kiến bạn đọc