Tản văn

Cuộc chiến đấu bi hùng

Kính Tặng Hương Hồn Các Anh Hùng Liệt Sĩ Trong Các Cuộc Kháng Chiến Chống Giặc Ngoại Xâm, Đặc Biệt Là 5 Liệt Sĩ Hy Sinh Trong Trận Đánh Chốt Bầu Giang – Xã Trung An, Huyện Củ Chi – Gia Định, Đêm Ngày 7 Và Đêm 11 Rạng 12-12-1974.

 

Những buổi chiều mùa khô năm 1974 trên mảnh đất Củ Chi, nơi đơn vị chúng tôi đóng quân, không ai có cảm hứng ngắm hoàng hôn, cũng không ai thấy có nét gì nên thơ như cảnh hoàng hôn xuống ở Sầm Sơn – Thanh Hóa (quê người bạn chiến đấu của tôi). Ở Nam bộ không có mùa đông mà đang là mùa khô, mùa của những chiến dịch… Trời đã chạng vạng tối, tổ chiến đấu của chúng tôi được lệnh xuất phát. Từ rạch Kè nơi đóng quân, các đồng đội tôi đã ngụy trang rất kỹ lưỡng. Túi thủ pháo, lựu đạn, dao găm, súng AK, súng B40, B41, dụng cụ khắc phục mìn, kéo cắt rào… đã được nai nịt gọn gàng. Từng người, từng người một thả mình xuống dòng nước của con rạch Kè thân thuộc để bơi ra sông Sài Gòn tiến về mục tiêu mà chúng tôi được giao nhiệm vụ tiêu diệt.

Đội hình lặng lẽ một hàng dọc, đang bơi trên sông Sài Gòn, bỗng Nguyễn Viết Lăng quê Thanh Hóa, bơi vượt lên ngang hàng tôi thì thầm: “Giờ ni quê choa mùa đông lạnh lắm mi ạ, bơi như ri không chịu nổi mô, trời mùa đông mà ngâm mình dưới nước chắc cảm lạnh chết luôn mi ạ”. Tôi nói: “Cần gì phải là mùa đông ở miền Bắc, mà ngâm nước như thế này cho tới lúc lên bờ cũng run hết rồi còn gì, thôi về vị trí đi không bị phê bình ngay bây giờ”.

Sau gần 2 giờ đồng hồ bơi trên dòng sông Sài Gòn, đội hình rẽ vào rạch Hòa Phú, con nước đang lớn nên bơi không vất vả lắm, vì thuận dòng. Tiếp tục bơi hơn 30 phút nữa thì chúng tôi bắt đầu lên bờ, tiền nhập qua cánh đồng sình lầy, qua mấy ruộng lạc, tới chân gò. Dẫn đường tiền nhập là Nguyễn Ngọc Vân quê Bắc Ninh, Nông Thế Huyến quê Đội Cấn – Bắc Kạn, là hai chiến sĩ trinh sát trận đánh chốt Bầu Giang hôm nay. Đội hình đã tới vị trí tập kết ngay rặng tầm vông nhưng chỉ còn trơ trọi lại gốc, vì đã bị đạn pháo địch cầy xới hàng ngày. Chúng tôi ngụy trang, bôi trát lại, kiểm tra vũ khí đạn dược lần cuối trước khi vào trận.

Đúng 21 giờ 30, đội hình xuất phát, hướng tới mục tiêu chốt Bầu Giang. Chính trị viên Dậu cùng với Nguyễn Viết Lăng liên lạc đại đội, y tá Phạm Văn An ở lại vị trí tập kết, đây là những đồng chí được phân công làm nhiệm vụ cứu thương của trận đánh. Trước khi xuất trận thủ trưởng Dậu đã căn dặn mũi trưởng Nguyễn Hữu Bộ và cả đội hình trận rất tỷ mỷ và chúc các chiến sĩ vào trận giành chiến thắng.

Bầu Giang là một chốt tiền tiêu của địch, đây là chốt án ngữ con Lộ 8, cũng đồng thời là chốt bảo vệ vành đai căn cứ Đồng Dù, nên địch bố phòng rất cẩn mật. Chốt được bảo vệ 7 lớp hàng rào các loại, cài rất nhiều loại mìn hòng ngăn chặn việc tiếp cận của quân ta. Ban đêm hệ thống đèn pha, pháo sáng liên tục chiếu, quét để phát hiện “Việt Cộng” tấn công. Đây là cái “gai” rất khó chịu của đơn vị chúng tôi. Đứng trong chốt địch có thể quan sát được tất cả con rạch Kè nơi địa bàn đóng quân của đơn vị. Không những thế, chốt này còn án ngữ con đường liên lạc huyết mạch, cung cấp lực lượng biệt động và vũ khí, khí tài vào nội đô Sài Gòn của ta từ vùng giải phóng. Vì vậy, chỉ thị của chỉ huy E115 là liên tục đánh, có thể “nhổ” được chốt này càng tốt. Vì vậy, ngoài nhiệm vụ chính ra, đơn vị chúng tôi còn phải tổ chức điều nghiên và đánh hủy diệt chốt Bầu Giang, để mọi hoạt động của ta được thuận lợi.

Trong không gian tĩnh mịch của tiết trời cuối năm âm lịch, với đội hình thấp thoáng lúc ẩn lúc hiện, tiến dần dần tới mục tiêu trên gò Trung An. Bất chợt một quả pháo sáng trong chốt địch bắn lên, cả đội hình chúng tôi đồng loạt nằm xuống. Dưới ánh sáng của hỏa châu, màu ngụy trang trên người những chiến sĩ đặc công với địa vật xung quanh như hòa quyện với nhau, vì thế mà kẻ địch khó phát hiện được. Thỉnh thoảng tiếng đề pa “cắc ùm” của pháo 175 ly trong căn cứ Đồng Dù vang lên, hay một loạt súng từ trong chốt bắn vu vơ… làm cho chúng tôi cũng phải nghe ngóng, cảnh giác.

Khi tới hàng rào ngoài cùng của chốt Bầu Giang, mũi trưởng Nguyễn Hữu Bộ phân công chúng tôi cảnh giới. Còn anh Vân dẫn Trần Đức Hiểu “Chuyên gia cắt rào” vào khắc phục mìn và cắt rào cửa mở. Chúng tôi nằm cảnh giới khá lâu rồi mà sao đêm nay anh Vân và anh Hiểu loay hoay mãi vẫn chưa cắt được lớp rào ngoài cùng. Tôi nằm cạnh mũi trưởng Bộ sốt ruột nói: “Anh Bộ vào xem thế nào chứ chuyên gia cắt rào gì mà chậm như rùa vậy, không cẩn thận đến giờ nổ súng vẫn chưa vào được là toi hết! Đội hình nằm ngoài như vậy rất nguy hiểm, địch dễ phát hiện”.

Sau khi anh Bộ vào kiểm tra cửa mở, tôi trườn tới cạnh Nguyễn Công Tịch xạ thủ B41 thì thầm: “Ông có phát hiện điều gì kỳ lạ so với các trận đánh trước không?”. Tịch chưa hiểu ý tôi, nói ngay: “Chẳng có gì khác cả!”.

- Sao không! Mấy trận trước mươi, mười lăm phút đội hình đã nằm gọn trong cửa mở, vậy mà hơn 30 phút rồi mấy bố còn chưa cắt xong hàng rào ngoài cùng, sốt ruột quá!

- Mày phải bình tĩnh, chắc có trục trặc gì đấy, ông Bộ vào rồi đấy!

- Mà cũng lạ, đêm nay tụi nó bắn pháo sáng nhiều quá!

Tôi cảm giác thời gian đêm nay như ngắn hơn mọi đêm, không gian như chùng xuống, tiếng côn trùng như to hơn, trống ngực mình cũng đánh loạn xạ như thôi thúc, giục giã điều gì. Bỗng… chíu… chíu… chíu… một loạt tiểu liên cực nhanh bắn như vãi đạn trên đầu chúng tôi. Rồi tất cả im bặt.

Hình như bị lộ hay saoTịch ạ? – Anh Bính trườn tới ra hiệu im lặng để theo dõi.

Chúng tôi nhìn nhau, cùng quan sát xung quanh… vẫn im lặng… im lặng đến nghẹt thở. Một lúc sau, anh Bộ trườn ra thông báo không có tình huống lộ, nhưng thực tế trận địa bị thay đổi so với 2 lần điều nghiên trước. Thứ nhất, mìn địch cài dày đặc hơn; thứ hai, bọn lính canh gác nhiều hơn và thỉnh thoảng còn đi tuần quanh chốt…

So-604--Hanh-quan-dem---Tran-Dinh-Tho---Anh-1
Hành quân đêm (1974) – sơn mài – Trần Đình Thọ.

Cuối cùng thì cửa mở cũng đã được cắt rào xong, chúng tôi lần lượt trườn vào bên trong và nằm lại ở hàng rào thứ ba, đội hình đã sắp xếp theo phương án đánh được thảo luận từ hôm trước. Huyến xạ thủ B40, cảnh giới cho Vân và Hiểu vừa khắc phục mìn vừa cắt rào cửa mở. Anh Bộ mũi trưởng chỉ huy trận đánh, đi sát cạnh Nguyễn Văn Bính bộc phá lệnh, có nhiệm vụ tiêu diệt sở chỉ huy, điện đài chốt Bầu Giang. Tôi bộc phá viên tiêu diệt hai nhà ngủ, sau cùng là Tịch xạ thủ B41 cảnh giới cửa mở, tiêu diệt ổ đại liên và hạ thủ bọn lính ở vọng gác.

Hàng rào thứ 5 (3 lớp rào bùng nhùng) đã được Hiểu cắt một cách nhanh chóng, chỉ còn một lớp rào trong cùng. Ngọc Vân nhanh chóng trườn lên khắc phục mìn, phía trước là một giao thông hào bao quanh có một lớp hàng rào đơn, bên trong là đường tuần tra quanh chốt. Huyến đã trườn lên trước để cảnh giới cho Vân khắc phục mìn. Vừa lúc đó một quả pháo sáng vụt lên, tất cả cảnh vật hiện ra rõ như ban ngày. Mọi động tác, hành động của chúng tôi đều giữ nguyên bất động, bỗng phía cổng gác có tiếng chửi thề của bọn lính thay ca gác và tiếng ồn ào mà chúng tôi không nghe rõ. Tất cả lại im lặng, pháo sáng cũng lịm tắt, tôi kéo tay anh Bộ xem đồng hồ, đã 23 giờ. Tôi nói vào tai anh: “Còn một giờ nữa là đến giờ G, anh cho em lên hỗ trợ khắc phục mìn để cắt rào không chậm mất”. Anh Bộ lắc đầu không đồng ý. Mấy phút sau, 3 tên lính đi tuần tới phì phèo thuốc lá Ruby thơm nức, làm bọn tôi phát thèm. Nhưng tất cả anh em vẫn nằm bất động. Bỗng một loạt AR15 chiu chíu vào đội hình chúng tôi. Huyến tưởng bị lộ đứng phắt dậy “phụt” một quả B40 vào tốp lính đang đi tuần, một tiếng nổ chát chúa sau ánh chớp lóe lên của quả đạn B40. Huyến lắp tiếp quả đạn thứ hai và nhằm chòi gác bắn. Quả đạn vừa bay ra khỏi nòng thì cũng đúng lúc một quả đạn M79 của địch nổ ngay chỗ anh và Vân, tiếp đó hàng loạt pháo sáng bắn lên sáng rực cả một góc trời rồi súng đại liên và các loại súng khác xối xả vào hướng của Huyến và Vân. Tình thế diễn ra quá nhanh và bất ngờ, trận địa đã bị lộ. Anh Bộ ra lệnh cho anh em rút, còn lại anh và anh Bính tiếp cận vị trí anh Vân và Huyến để kéo hai đồng đội đã hy sinh ra khỏi trận địa. Hỏa lực địch bắn ra quá rát, anh Bính bị thương vào đùi, không thể kéo xác đồng đội ra ngoài, anh Bộ vội băng bó cho anh Bính và dùng hết sức mình kéo anh Bính ra khỏi các lớp hàng rào để rút về vị trí tập kết.

Chúng tôi đã tập trung đầy đủ ở vị trí tập kết. Mọi người đều an toàn, chỉ có anh Bính bị thương và đã được y tá băng bó lại. Về việc anh Vân và anh Huyến đã hy sinh còn đang nằm lại trong lớp rào thứ năm, mọi người đang bàn tính phương án đưa thi hài hai đồng đội về thì một quả pháo từ căn cứ Tân Quy nổ ngay phía bên kia rặng tầm vông. Thủ trưởng Dậu hô mọi người nằm tránh kịp thời, song cũng làm một số đồng đội bị thương nhẹ. Theo kinh nghiệm dày dạn chiến trường của thủ trưởng Dậu và anh Bộ mũi trưởng, đội hình được lệnh nằm tại chỗ để tránh phản pháo của địch. Đồng thời cử 3 đồng chí lên đưa thi hài 2 đồng đội Vân và Huyến về vị trí tập kết. Khi tổ cứu thương lên đến nơi thì phát hiện tụi lính trong chốt đã kéo xác anh Vân, anh Huyến vào bên trong chốt rồi. Không thể đưa thi hài 2 đồng đội về được nữa, toàn đội hình chiến đấu theo sự chỉ huy của chính trị viên Dậu và mũi trưởng Bộ rút về nơi đóng quân.

Một trận đánh thất bại, đồng đội tôi ai nấy đều cảm thấy buồn bã, nhất là không mang được thi hài hai đồng đội của mình về, làm cho nỗi buồn còn tăng thêm. Sau trận đánh, Tổ chiến đấu họp rút kinh nghiệm, Chi bộ Đảng, cán bộ, chiến sĩ C59, tổ chức họp kiểm điểm, đánh giá rút kinh nghiệm. Mặc dù trận đánh thất bại song mọi đảng viên và cán bộ chiến sĩ Đại đội 59 vẫn quyết tâm tiếp tục đánh chốt Bầu Giang lần thứ 2 ngay vài ngày sau đó.

Để lên một phương án đánh hợp lý và chặt chẽ, chỉ huy đơn vị cử đồng chí Dương Đình Toản quê Phổ Yên – Bắc Thái (nay là Sông Công, Thái Nguyên) và Nguyễn Ngọc Khuê quê Sơn Dương – Tuyên Quang, đi điều nghiên. Giao cho đồng chí Nguyễn Khắc Thả chính trị viên phó đại đội, quê ở Gia Viễn – Ninh Bình làm mũi trưởng. Đồng chí Nguyễn Văn Tá quê Vĩnh Phú làm mũi phó, đồng chí Trần Đức Hiểu quê Sơn Dương – Tuyên Quang làm nhiệm vụ cắt rào cửa mở, đồng chí Phạm Công Tuyển B41và Hoàng Trọng Thoan AK bộc phá viên (cùng quê Bố Trạch – Quảng Bình). Riêng đồng chí Thoan và Tuyển chủ động tiền nhập cửa mở phụ nằm giáp cổng ra vào của chốt Bầu Giang khống chế bọn lính gác ở chòi gác. Nguyễn Công Tịch (quê Yên Sơn – Tuyên Quang) B40, Hoàng Thanh Vân (quê Đại Từ – Bắc Thái) làm nhiệm vụ bộc phá lệnh, Phùng Đình Thọ (quê Yên Sơn – Tuyên Quang) bộc phá viên. Tất cả công tác chuẩn bị đã đầy đủ. Tôi và Nguyễn Viết Lăng quê Thanh Hóa, cùng y tá Bùi Văn Hạnh quê Nghệ An, dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Đỗ Quyết Chiến làm công tác cứu thương, nằm cách chốt Bầu Giang khoảng 30 mét.

Đúng 22 giờ ngày 11/12/1974, từ vị trí tập kết đơn vị chúng tôi tiếp tục tiền nhập đánh chốt Bầu Giang. Đội hình tới sát hàng rào ngoài cùng thì chia làm hai mũi, Thoan và Tuyển vòng sang trái khắc phục mìn và án ngữ cổng ra vào chốt Bầu Giang. Còn anh Thả chỉ huy mũi chính, giao cho anh Hiểu, anh Toản và anh Khuê vào khắc phục mìn và cắt rào cửa mở, số còn lại cảnh giới cho đồng đội cắt rào.

Vừa bị một trận tập kích không thành của đơn vị đặc công, bọn địch trong chốt Bầu Giang vô cùng hoảng sợ. Theo cơ sở của ta báo ra, tuy chúng ta không hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt được chốt Bầu Giang đêm 7/12/1974, nhưng quân địch bị đánh bất ngờ đã bị thương vong khá nhiều, và cái tác động chính là đã làm cho tinh thần chúng vô cùng hoảng hốt, lo sợ. Bầu Giang là chốt tiền tiêu bảo vệ căn cứ Đồng Dù, Tân Quy, Bến Cát, là chiến tuyến bất khả xâm phạm từ trước đến giờ để bảo vệ Sài Gòn. Vì vậy ngoài việc canh phòng cẩn mật, chúng còn cài thêm rất nhiều loại mìn để ngăn chặn quân giải phóng xâm nhập.

Đã đến giờ G mà không thấy bộc phá lệnh phát hỏa, đại đội trưởng Chiến đi đi lại lại một cách sốt ruột, nôn nóng, vừa lẩm bẩm: “Đã biết là vừa chết hụt nên bọn địch trong chốt cảnh giác cao độ. Nhưng chúng cũng sẽ không ngờ quân ta lại có thể tập kích đánh ngay sau trận thất bại trước chưa đầy một tuần, đây cũng là một yếu tố bất ngờ, phương án đánh đã đưa ra rất nhiều tình huống để tìm cách xử lý, vậy mà sao giờ này vẫn chưa tiếp cận được mục tiêu, sao vẫn chưa nổ súng nhỉ!!!”.

Mới ngoài 30 tuổi mà mái tóc đại trưởng đã lốm đốm sợi bạc, có lẽ vì anh một phần nghĩ tới hậu phương… Gần chục năm trời chia tay vợ khi thằng con sắp ra đời để đi vào chiến trường B, chắc nay cu cậu cũng đã lớn mà anh vẫn chưa được nhìn thấy mặt con, không biết cuộc sống hai mẹ con ra sao? Ngần ấy năm vợ chồng chẳng có lấy một tin tức gì… Phần thì lo chỉ huy đơn vị hoàn thành hết nhiệm vụ dẫn đường đưa các chiến sĩ biệt động vào Sài Gòn, chỉ huy bộ đội vận chuyển vũ khí đạn dược xuống nội đô, điều nghiên các mục tiêu chiến lược, rồi tổ chức trinh sát đánh tiêu diệt sinh lực địch ở một số chốt án ngữ đường giao liên giữa vùng giải phóng với Sài Gòn… Nhìn nét mặt hốc hác, phong trần của thủ trưởng ai cũng đủ biết đây là một vị chỉ huy đã dầy dạn chiến trường.

Trời càng về sáng, thời tiết càng se lạnh, càng tĩnh mịch đến ớn lạnh, vậy mà tổ cứu thương chúng tôi ai nấy đều bừng bừng như lửa đốt, văng vẳng phía ấp chiến lược lác đác đã có tiếng gà gáy càng làm cho tất cả chúng tôi đứng ngồi không yên, mắt dán vào chốt Bầu Giang chờ đợi…

Chờ đợi… Rồi chờ đợi… Không gian như chùng xuống bao phủ một điều bí ẩn đến ớn người. Trống ngực chúng tôi muốn nổ tung ra, rồi dồn nén sự hồi hộp đến nghẹt thở… Những bước chân dồn dập, rồi ngập ngừng của đại đội trưởng, những động tác chém gió, khua tay lung tung trong không khí, cũng đủ biết anh đang suy nghĩ một cách hoảng loạn, như đoán được điều gì sắp xảy ra… Những động tác, thái độ của đại đội trưởng người chỉ huy cao nhất trong trận đấu này thực sự làm cho chúng tôi lúng túng, lo sợ…

Cái gì đến rồi cũng sẽ đến, trời hửng sáng đã nhìn nhọ mặt người. Bỗng, tằng… tằng… tằng… loạt AK nổ giòn giã như xé toang bầu không khí đang nặng trĩu như muốn đè bẹp chúng tôi. Tiếp sau đó tiếng nổ đinh tai của B40, B41, rồi thủ pháo, lựu đạn, tiếng hò hét, chửi bới loạn xạ của bọn địch trong chốt. Những đường đạn đỏ lừ chéo cánh xẻ, những chụm lửa tung tóe lên trời đỏ rực như pháo hoa… khói nồng nặc bốc lên khắp chốt Bầu Giang.

Ba chúng tôi lao tới ôm đại đội trưởng như muốn tung bổng ông lên trời để ăn mừng. Trời cũng đã sáng rõ. Trong chốt sau một hồi tiếng nổ loạn xạ, giờ cũng đã ngớt. Bỗng một bóng người lò dò từ phía cửa mở xuất hiện, tôi và Lăng lao lên như một phản xạ không điều kiện, tới gần thì phát hiện Trần Đức Hiểu vẫn ôm kéo cắt rào và túi thủ pháo lom khom lê từng bước khó nhọc. Máu chảy ướt hết hai chân anh. Tôi và Lăng phát hiện anh bị một đầu đạn AR15 còn găm ngay đốt xương cùng. Kịp thời băng bó và dìu anh về vị trí tập kết, khi nghe chúng tôi hỏi, anh chỉ phều phào một câu không nghe rõ: “… H…ê…ế…t… r…ồ…i…”. Y tá Hạnh kiểm tra nhịp tim và băng bó lại cho anh, và được lệnh đại đội trưởng tổ cứu thương chúng tôi rút về cứ. Đặt anh nằm trên cáng võng, tôi và Lăng cố nâng anh lên cao, nhưng cuối cùng mấy chục mét sình lầy lội làm cho đôi tay chúng tôi không chịu nổi cái trọng lượng 70 kg của Hiểu, chúng tôi đành kéo lê anh trên mặt sình ngập đến ngực…

Trời đã sáng hẳn, vừa rút vừa tránh phản pháo của địch, vừa lo sợ cho số phận của đội hình chiến đấu không biết lúc này thế nào, chẳng lẽ lại chết hết như giọng phều phào của Hiểu trước khi anh ngất xỉu? Chúng tôi giờ chỉ còn đội cứu thương và một thương binh, còn các đồng chí khác đâu?

Con đường rút quân còn vất vả hơn khi xung trận, cuối cùng thì cũng đưa được thương binh về đến cứ. Điều ngạc nhiên đến ngỡ ngàng là hầu hết các đồng chí mình đã có mặt tại cứ. Đó là anh Tá, anh Tuyển, anh Thoan, anh Tịch, anh Thọ hầu như anh nào cũng bị thương phải băng bó. Riêng Hoàng Thanh Vân bị thương khá nặng, băng quấn trắng đầu. Còn anh Thả Mũi trưởng đâu? Anh Toản, anh Khuê đâu? Các anh bị lạc hay đã… Bỗng Thọ lao ra ôm lấy đại đội trưởng nức nở như một đứa trẻ mắc lỗi nói trong tiếng nấc: “Thủ trưởng ơi chúng ta lại thất bại rồi, chúng em không giữ đúng lời hứa với thủ trưởng, với đơn vị. Chúng em hầu hết đều bị thương, anh Vân mất hẳn một mắt rồi… còn mấy anh hy sinh… rồi!”. Thọ lặng người, nói không ra tiếng, khóc nức nở. Thoan tiếp: “Báo cáo thủ trưởng trận đánh này chúng ta đã không khắc phục được chướng ngại vật. Tới sáng rồi mà vẫn còn lớp rào trong cùng không cắt được. Địch trong chốt đã dậy, một tên ra đi tiểu phát hiện đội hình hô “Việt Cộng”, thế là Mũi trưởng Thả dùng AK tiêu diệt và anh Toản hô to “Tất cả xung phong”. Mọi người nhảy qua hàng rào cuối cùng lao vào tiêu diệt các mục tiêu, nhưng… Đặc công với thủ pháo làm sao chiến đấu cường tập được với một đơn vị địch bố phòng cẩn mật như Bầu Giang. Em và Tuyển thấy tiếng AK liền hạ thủ vọng gác, tiêu diệt những tên đang nháo nhác và lao sang cửa mở chính, phát hiện Mũi trưởng Thả, anh Toản, anh Khuê đã hy sinh… Em và Tuyển đều bị thương hơn nữa trời đã sáng hẳn nên không thể đưa các anh ra được…

Đại đội trưởng Đỗ Quyết Chiến lặng người nghe các chiến sĩ báo cáo tình hình, anh chỉ run run đôi tay nắm chặt như nuốt hận, như muốn nói với các chiến sĩ của mình rằng: Các đồng chí hãy biến đau thương thành hành động, hãy quyết tâm nhổ bằng được chốt Bầu Giang để trả thù cho các đồng chí đã hy sinh!

Mấy ngày sau, đơn vị chúng tôi bắt liên lạc được với cơ sở trong ấp cho biết: Sau trận đánh đêm 7/12, địch đã đổi đơn vị khác vào thay thế, chúng tăng cường canh gác, tuần tra ban đêm liên tục. Cài thêm nhiều loại mìn mới, đèn pha pháo sáng bắn liên tục để cảnh giới, phát hiện đối phương. Trận đánh đêm 11 rạng sáng 12/12/1974, đơn vị đã tiêu diệt được một số tên lính. Còn 3 liệt sĩ của ta bị chúng quăng xuống cái giếng cạn mà trận đánh trước chúng đã quăng xác của anh Vân, anh Huyến xuống đó, chúng dùng thủ pháo của chính các anh quăng xuống cho nổ lấp các đồng chí của mình!

Sau 2 trận chiến đấu đã không hoàn thành nhiệm vụ, mà còn hy sinh 5 đồng chí không lấy được thi hài của các anh về… Chúng tôi ai nấy đều bứt rứt, buồn rầu…

Con nước thủy triều đã dâng mấp mé bờ con rạch Kè, hôm nay chúng tôi được xả hơi một ngày sau những cuộc tranh luận quyết liệt, mổ xẻ từng chi tiết trong 2 trận chiến đấu, phê bình, rút kinh nghiệm từng đồng chí.

Nằm cạnh võng tôi là Hoàng Trọng Thoan, quê Quảng Bình rất đăm chiêu nhìn đám lục bình trôi vào rạch… Thấy vậy, tôi hỏi:

- Mi lại tưởng tượng đến nàng ở quê hả?

Thoan nghiêm mặt trả lời:

- Bậy nào! Mấy hôm nay kiểm điểm thấy đại đội trưởng Chiến kết luận quá đúng mi ạ. Đêm mùng 7/12 đánh, đêm 11 rạng 12 /12 đánh! Hai trận đánh chốt Bầu Giang cách nhau có 5 ngày, rõ ràng đây là yếu tố bất ngờ. Địch không thể ngờ chúng ta lại đánh nhanh như rứa. Điều nghiên, trinh sát, lên phương án đánh quá ngon lành, tuyển chọn những chiến sĩ giỏi, quá thuần thục trong cách đánh đặc công. Vậy mà không vào được hết rào… Đã thế 2 trận lại hy sinh tới 5 chiến sĩ, quá đau lòng khi “miềng” không làm được công tác tử sĩ. Cuộc đời binh chiến của tau chưa bao chừ đau đớn như ri!

- Chiến tranh mà Thoan, thắng thua là lẽ thường tình – Tôi an ủi Thoan – Từ ngày chúng ta vào chiến trường đến nay đã chịu thua một trận nào đâu! Trận nào lính mình chẳng có người được tặng thưởng Huân chương chiến công. Đây là lần đầu tiên đơn vị mình chiến đấu bị thất bại thôi mà, thua keo này ta bày keo khác. Hãy biến căm thù này thành hành động, để trả thù cho các đồng chí đã hy sinh!

Không bao lâu sau, Chiến dịch mùa xuân 1975 đã diễn ra. Đơn vị chúng tôi được giao nhiệm vụ chuyển vũ khí đạn dược xuống nội đô để chuẩn bị cho chiến dịch, trong đó có nhiệm vụ đánh chiếm và giữ cầu Bình Phước để đón đại quân vào giải phóng Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Sau giải phóng mỗi chúng tôi mỗi nhiệm vụ, một số đồng đội trở về xây dựng quê hương… Vì khó khăn không có điều kiện tìm kiếm, quy tập đồng đội, mãi tới nhiều năm sau chúng tôi mới liên hệ được với gia đình các liệt sĩ và cùng nhau đi tìm kiếm hài cốt 5 đồng đội. Do địa hình địa vật thay đổi nhiều, mãi tới năm 2004 được sự hỗ trợ tích cực của đội quy tập hài cốt Quân khu 7 và Thành phố Hồ Chí Minh, sự quan tâm của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TP. Hồ Chí Minh, chúng ta đã tìm được hài cốt của 5 liệt sĩ. Do lâu ngày hài cốt đã bị phân hóa và lẫn lộn không còn được nhiều xương cốt. Được sự nhất trí của 5 gia đình liệt sĩ, hài cốt các liệt sĩ đã được quy tập chung trong một ngôi mộ tập thể tại Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh.

Bắc Kạn, 27-7-2020

Nguyễn Quang Vinh
(Nguyên là chiến sĩ C59, E115, F2, QK7)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 604

Ý Kiến bạn đọc