Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Cũng là nói cho vui

Gặp mấy ông bạn cùng học thời Trung cấp Sư phạm Trung ương, biết tôi có viết mấy bài chê tập “Giáo trình Dẫn luận Thi pháp học” của một GS.TS, nhiều ông tỏ lời khen. Một ông bạn thân cười, lên giọng khích bác: “Tri dị, hành nan cả thôi! Giá giao cho làm thì cũng sợ vãi… ra!”. Nhiều ông nghe thế thì cười. Mấy ông lại nhìn tôi Đòi câu trả lời. Tôi đành lên tiếng:

- Một anh giáo làng chỉ chen qua cái cửa ngách “hàm thụ” vào đại học thì ai giao! Nhưng ông đã nói cho vui thì tôi cũng nói cho vui:

“Nếu được giao thì tôi cũng đã có một cái Đề cương”.

Tôi hiểu một giáo trình cho những người mới học một môn khoa học phải bảo đảm cung cấp được hệ thống kiến thức cơ bản của khoa học đó (chính xác, tất nhiên) nhưng phải là chọn lọc, đơn giản hóa như John Dewey nói, đồng thời tôi nghĩ nó phải vừa sức với người mới học về nhiều mặt như ngôn từ nữa.

Tôi không được tham khảo nhiều giáo trình dạy môn này ở người khác (trừ cái “giáo trình” của ông Trần Đình Sử. Nhưng “Đề cương” của tôi là thứ sẽ trả lời các các câu hỏi với các chương mục cần có.

GS-Antoine-Compagnon
GS Antoine Compagnon – tác giả của nhiều công trình
chuyên khảo về Montaigne và Baudelaire. 

1. Câu hỏi đầu tiên của người học là “Thi pháp học là gì? Vì sao phải học nó?”. Và cái chương mở đầu ấy là câu trả lời THI PHÁP HỌC LÀ GÌ? Ý NGHĨA MÔN HỌC. Theo tôi, sau khi lướt qua quan niệm về “nhiều thứ Thi pháp” mà ông GS.TS giới thiệu, tôi đưa ra quan niệm của mình là chỉ có thứ “Thi pháp tác phẩm” mà đối tượng của nó là nghiên cứu cách tổ chức một tác phẩm văn chương hay nói cách khác là “phương thức cấu tạo tác phẩm” như Tomashevski nói. Với người viết, Thi pháp học ấy giúp họ có được những kiến thức cần thiết khi muốn viết một tác phẩm (ở đây nói riêng là văn chương). Với người đọc, biết cách người ta tạo mã thì họ sẽ làm ngược lại để giải mã, giống như biết cách người ta “gói” một sản phẩm thì sẽ tìm được cách “mở” cái gói đó thôi. Đó chính là câu trả lời cho câu hỏi về “lý do phải học thi pháp học” cho người học viết, người đọc và dạy đọc (1). Hiểu được “lý do” như thế, việc học mới có động lực và có hiệu quả.

2. Câu hỏi tiếp theo phải đặt ra là “Một tác phẩm văn chương cấu trúc thế nào?”. Câu trả lời: NỘI DUNG và HÌNH THỨC TRONG TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG. Phải tìm hiểu về hai thứ đó và mối quan hệ giữa chúng.

Nội dung của tác phẩm là một “sự kiện đời sống” mang ý nghĩa tư tưởng, nhân sinh, xã hội – chính trị… Nội dung là thứ mỗi người đều có theo cách riêng, và ở mỗi tác phẩm một khác, rất phong phú. Nó không thuộc đối tượng nghiên cứu của Thi pháp học. Hình thức mới là thứ Thi pháp học phải nghiên cứu. Phải xuất phát từ quy trình tổ chức tác phẩm văn chương để thấy được thực chất quá trình sáng tác của người viết. Đó là từ một nội dung (sự kiện đời sống và ý nghĩa nhân sinh xã hội có thể rút ra) người viết đi tìm cái Hình thức bao gói nội dung đó. Cố nhiên phải lướt qua vài cái định nghĩa và phân tích dẫn chứng về khái niệm này. Từ đó thấy “Hình thức” không chỉ là ngôn từ như “lớp lá bánh” như có người nghĩ. Chúng có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau trong quá trình sáng tác, thưởng thức. Đồng thời phải nói đến hai thứ “hình thức” cần phân biệt. Trong cách phân định hai thứ hình thức, tôi đi theo quan niệm của Bakhtin. Đó là sự phân biệt hai thứ Hình thức cấu tạo và Hình thức kết cấu: Xin nhắc lại một đoạn tác giả này đã viết: “Hình thức kết cấu là hình thức được thực hiện trên chất liệu, bằng chất liệu; đó là sự tổ chức chất liệu (ngôn từ) – Hình thức cấu tạo là hình thức có ý nghĩa nghệ thuật (2); ý nghĩa đó có được do hoạt động chủ động sáng tạo của một chủ thể thẩm mỹ tức là người nghệ sĩ. Hoạt động này diễn ra không chỉ trong việc tạo lời mà trước đó là nhiều việc như chọn thể loại, cấu tạo cái khung tác phẩm… Việc này đương nhiên gắn với nhiều điều trong quan niệm nghệ thuật của người nghệ sĩ”. Tôi cũng kết hợp giới thiệu cách phân loại Hình thức của Nội dung và Hình thức của Hình thức của A. Compagnon trình bày trong “Bản mệnh của Lý thuyết”. Tôi nghĩ quan niệm về Hình thức như thế ta mới có thể thấy sự tác động “xuyên thấm” vào nhau của Nội dung và Hình thức… Đồng thời tôi cũng giới thiệu quan niệm đại chúng hóa của mình về mối quan hệ Nội dung – Hình thức gồm 4 lớp bao bọc nhau trong một “khối” tác phẩm hoàn chỉnh chuyển đến người đọc mà tôi đã có dịp nói đến trong vài bài (3). Đó là nội dung của Chương thứ hai.

3. Đi vào cách tổ chức một tác phẩm cụ thể, thì câu hỏi sẽ đặt ra là “Nếu nội dung của tác phẩm cụ thể là một sự kiện đời sống thì nó phải được trình bày ra với bạn đọc trong một hình thức như thế nao?”. Câu trả lời là: Chương thứ ba: THỂ LOẠI TRONG TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG. Mỗi nội dung phải được trình bày theo một thể loại, tức là nội dung đó phải được triển khai theo một trong ba “mô hình tổ chức hình thức” biểu đạt đã quen thuộc xưa nay: trữ tình, tự sự (truyện) và kịch (cùng những tiểu loại chia theo nội dung (như bi kịch, hài kịch) hoặc chủng loại hình thức (như kịch nói, kịch thơ, chèo, tuồng…). Tất nhiên trong chương thứ ba nói về cái hình thức bao trùm của tác phẩm là thể loại, mỗi phần nói về một trong ba thể loại sẽ thành một mục và phải được trình bày đủ để người học có được kiến thức cơ bản về chúng, vì chúng có vai trò quyết định cơ bản với việc tổ chức các yếu tố hình thức của tác phẩm (kể cả từ chọn tìm “hình thức của Nội dung” để “bao gói” nội dung như là “khung xương” của tác phẩm đến việc tổ chức thể loại ngôn từ theo một “hình thức của Hình thức” như là “da thịt” của cơ thể tác phẩm).

4. Sau khi xác định Nội dung và Hình thức chung, bao trùm, phải đi vào cấu tạo một tác phẩm cụ thể. Câu hỏi đặt ra sẽ là “Người ta triển khai nội dung một tác phẩm cụ thể như thế nào? Chương thứ tư sẽ là chương trình bày về cách TỔ CHỨC NỘI DUNG TÁC PHẨM. Đầu tiên phải đi tìm một cái “Hình thức của Nội dung” như A. Compagnon nói. Đó chính là sự hư cấu tạo ra một cái Hình thức “bao gói” các chất liệu của Nội dung như nhân vật, tình tiết sự việc… Cái “hình thức” này ở mỗi thể loại một khác. Ở thể loại tự sự nó là cốt truyện, ở kịch nó là cốt kịch, ở thơ là tứ thơ. Sự tác động của thể loại sẽ chi phối việc chọn lựa các chất liệu nội dung phù hợp với yêu cầu thể loại. Phải cho người học nhận thức được góc nhìn Thi pháp học trong những thứ có thể họ được biết khác thế ở Lý luận văn học. Và đó cũng là điều giúp họ thấy rõ tác động biện chứng, “xuyên thấm” vào nhau của Nội dung và Hình thức. Những vấn đề về nhân vật và tình tiết ở truyện, về xung đột và tính cách nhân vật xung đột ở kịch, sự cần phân biệt nhân vật trữ tình – chủ thể của thơ với tác giả bài thơ… sẽ được đưa vào chương mục này. Điều đó cũng giúp học viên không sa lầy vào một thứ Thi pháp học hình thức như nhiều người hiện nay.

5. Câu hỏi tiếp là câu hỏi về cách tổ chức hình thức tác phẩm. Và chương thứ năm sẽ đi vào cung cấp những kiến thức về việc đi tìm một “Hình thức của Hình thức” và sự thể hiện nó trong tác phẩm với tên chương là “TỔ CHỨC HÌNH THỨC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG. Sự phân chia các “chủng loại” hình thức của một thể loại là thứ phải đề cập. Cách làm thơ lục bát khác làm thơ thất ngôn chẳng hạn. Ở truyện, việc chọn cách kể gắn với việc chọn “nhân vật kể chuyện” vì người kể chuyện là nhân vật trong câu chuyện khác với người kể chuyện “biết tất”, đứng ngoài câu chuyện. Rồi chuyện bố cục, chuyện đảo trật tự thời gian, chuyện giọng điệu, ngôn ngữ. Ở kịch, việc viết kịch nói khác kịch thơ, khác chèo, tuồng không chỉ là sự khác nhau về ngôn ngữ… là những điều người học cần biết theo góc nhìn thi pháp học không thể không đề cập nếu muốn giáo trình cung cấp được kiến thức cơ bản có hệ thống.

6. Cuối cùng cũng nên có một chương nói về một vài vấn đề có thể chưa có điều kiện đi sâu ở các chương chính kia. Có thể coi như là một “Phụ lục” với vài vấn đề sau:

* Tác giả và người kể chuyện.

* Nhân vật trữ tình và nhân vật trong “bức tranh cuộc sống” trong một bài thơ.

* Vấn đề giọng điệu trong truyện, trong thơ…

* Quan điểm (Điểm nhìn) tác giả và quan điểm nhân vật trong sự miêu tả, kể lại.

* Vấn đề thi pháp và phong cách mà có người gần như đồng nhất khi coi chúng là anh em song sinh! Quy tắc chung và sáng tạo cá nhân là hai thứ khác nhau trong sáng tác văn chương.

* Vấn đề Không gian Thời gian như là những chi tiết miêu tả nhân vật trong lý luận văn học mà ở Giáo trình của ông Trần được coi là thành tố của thi pháp học.
Như đã nói, đây chỉ là chuyện “nói cho vui”. Gửi lên báo để các bạn “đọc chơi” cho vui. Tóm lại là may ra được ai đó coi là một hình thức “văn học – trò chơi” gì đó cũng đã lấy làm mãn nguyện rồi.

Lê Xuân Mậu
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 394

______

(1) Nên nhắc lại những câu nhà thơ Pháp Paul Valéry trách những người giảng giải thơ ca mà không đem lại gì thêm cho một độc giả yêu thơ trong thưởng thức thơ mà cũng không làm cho nhà thơ hiểu gì thêm về những phương pháp mà các bậc thầy đã sử dụng.
Không hiểu thi pháp sáng tác thơ (và mở rộng ra là các thể loại khác) dễ gì làm được điều đó.
(2) Có lẽ nên thêm hai chữ “quyết định” hoặc “cơ bản”. Hình thức kết cấu cũng phải tiến hành có nghệ thuật chứ.
(3) Bốn lớp đó là:
Lớp 1 ngoài cùng là lớp chữ viết (KÊNH CHỮ).
Lớp 2 là lớp NGÔN TỪ (NGÔN NGỮ NÓI).
Lớp 3 là lớp CÁC Ý (Bức tranh cuộc sống).
Lớp 4 là THÔNG ĐIỆP.

Ý Kiến bạn đọc