Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Cùng là họ Phạm sao mà…?

Trên tạp chí Hồn Việt số 125 tháng 5-2018, ở bài “Chung quanh vấn đề Phạm Quỳnh” có nói “Nghiên cứu lịch sử phải căn cứ vào tư liệu, tư liệu là không khí của người nghiên cứu”. Nhưng “… nhà văn Nguyên Ngọc hầu như không đưa ra một cứ liệu lịch sử nào hết để bênh vực cho lập luận, mà võ đoán, quyết đoán theo nhu cầu chính trị của mình, cốt đạt mục đích, bất chấp sự thật” (Bđd. Trg.17).

Để làm sáng tỏ nhận xét này, chúng tôi gửi tới bạn đọc các tư liệu sau đây cùng với lời bình luận.

Giải Phan Châu Trinh tôn vinh nhà văn hóa Phạm Quỳnh

Nhà văn hóa Phạm Quỳnh vừa được xướng tên tại buổi lễ trao giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh đêm 24-3 ở nội dung Dự án tôn vinh danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại.

Như vậy là tiếp theo 5 vị danh nhân vừa được Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh tôn vinh tại dự án nói trên gồm: Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Phan Khôi, Phạm Quỳnh (1892-1945) được xếp tên vào “ngôi đền online” do Quỹ Phan Châu Trinh lập ra, nơi sẽ tập hợp các thông tin về tiểu sử của các nhà văn hóa được vinh danh, các tác phẩm, các bài viết nghiên cứu và đề xuất nghiên cứu về các nhà văn hóa này.

Một người yêu nước không thể lay chuyển

Trong diễn từ vinh danh, nhà văn Nguyên Ngọc – Chủ tịch Hội đồng Khoa học Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh – đã dùng cụm từ “một nhà văn hóa lớn, một người yêu nước không thể lay chuyển” dành cho Phạm Quỳnh. Cũng trong phần nhận xét của nhà văn Nguyên Ngọc, cuộc đời Phạm Quỳnh, tài năng và những đóng góp lớn lao cho văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam được nhắc lại.

“Phạm Quỳnh là một tài năng xuất chúng, 16 tuổi tốt nghiệp thủ khoa Trường Thành Chung bảo hộ, ngay năm đó đã được tuyển làm viên chức trẻ nhất của Việt Viễn Đông bác cổ Pháp nổi tiếng, tự học cả chữ Nho đến mức uyên thâm. Mẹ mất rất sớm, được bà nội nuôi ăn học, và về sau qua chính người vợ, mẹ vợ và gia đình bên vợ, những người phần lớn gần như mù chữ nhưng tuyệt giỏi, tuyệt hay trong văn hóa, lời ăn tiếng nói vô cùng giàu có của dân gian, chính họ đã dạy Phạm Quỳnh tình yêu say mê tiếng Việt, văn hóa Việt. Ông sống thanh bần, nghiêm cẩn. Con cháu ông kể: … Cho đến những ngày cuối đời, bao giờ ông cũng giữ một nếp: học hành, viết lách, làm việc đều trước bàn thờ tổ tiên, như để tổ tiên hằng ngày chứng giám mọi điều mình nghĩ, mọi việc mình làm”.

Đặt Phạm Quỳnh trước sự lựa chọn chữ quốc ngữ La-tinh trước buổi đầu làm quen với phương tiện ngôn ngữ do “người Tây” chỉ dạy, Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh cho rằng “lúc bấy giờ, có thể nói Việt Nam không có một nền văn xuôi đích thực”. Chính điều này đặt ra nhu cầu phải phổ biến và hoàn thiện, nâng cao chữ quốc ngữ để tạo các phương tiện cho ngôn ngữ dân tộc tự nâng mình lên thành một ngôn ngữ của công cuộc văn minh hóa, của một nền văn học toàn diện và nền văn hóa hiện đại. Tức sáng tạo ra một ngôn ngữ hiện đại.

Và đấy là một công việc khổng lồ. Phạm Quỳnh đã dành cả đời mình để dấn bước vào công việc ấy. “Nam Phong của Phạm Quỳnh và Hội Khai Trí Tiến Đức cũng do ông sáng lập và chủ trì đã đi đầu trong sự nghiệp to lớn này. Ông có niềm tin vững chắc rằng làm được tất cả những điều đó thì sẽ đến ngày người Việt, nước Việt tìm lại được linh hồn của mình, và hơn nữa từ đó có thể có nhiều khả năng hơn để tìm lại nền độc lập” – nhà văn Nguyên Ngọc nhận định.

Phạm Quỳnh

(Thượng Chi. Nhâm Thìn 1892 – Ất Dậu 1945)

Nhà văn, tác giả Cựu Thượng thư, hiệu là Thượng Chi, Hồng Nhân, sinh ngày 17-12-1892 tại Hà Nội, nguyên quán làng Thượng Hồng, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Ông tốt nghiệp trường Thông ngôn năm 1908, được bổ làm việc tại trường Viễn Đông bác cổ Hà Nội. Ông có tài học, nhưng cộng tác chặt chẽ với thực dân Pháp về văn học và chính trị. Do đó, năm 1917 ông được Louis Marty (Giám đốc chính trị kiêm trưởng mật thám Đông Dương) cho ra tờ tạp chí Nam Phong, ông giữ chân chủ nhiệm kiêm chủ bút làm cơ quan tuyên truyền chính trị cho Pháp tại Đông Dương.

Năm 1932, ông được Pháp cử giữ chức Ngự tiền văn phòng vua Bảo Đại, rồi Thượng thư bộ Học, bộ Lại. Hoạn lộ của ông lên nhanh như diều gặp gió vì gắn bó mật thiết với các quan thầy thực dân.

Ông sáng tác văn học khá nhiều, đủ thể loại; nhất là nghiên cứu và dịch thuật. Hầu hết tác phẩm của ông đều đăng trên tạp chí Nam Phong, sau được in lại trong bộ Nam Phong tùng thư và Thượng Chi văn tập (hơn ngàn trang).

Đương thời, Phạm Quỳnh từng bị các nhà yêu nước, nhà văn hóa chân chính (Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi) lên án về việc ông tán dương truyện Kiều với ý đồ đen tối và có tính cách thậm xưng.

Ngày 23-8-1945, ông bị các lực lượng cách mạng bắt ở Huế, rồi sau đó bị xử bắn ở làng Hiền Sĩ, tỉnh Thừa Thiên, hưởng dương 53 tuổi.

Các tác phẩm chính của ông:

- Quelques conférences à Paris. Hà Nội (1923).

- Phật giáo đại quan. Hà Nội (1924).

- Le paysan Tonkinois à travers le parler populaire. Hà Nội (1930).

- Les études classiques sino annamites. Hà Nội (1924).

- Văn minh luận. Hà Nội (1927).

- La poésie annamite. Hà Nội (1930).

- Lịch sử thế giới. Hà Nội (1930).

- Lettre ouverte à S.E. le ministre des colonies. Hà Nội (1931).

- Ba tháng ở Paris. Hà Nội (1927).

- Văn học nước Pháp. Hà Nội (1927).

- L’idéal du sage dans la philosophie confucéenne. Hà Nội (1928).

- Une figure originale de philosophe chinois “Mặc dịch”, apôtre de la paix et de la fraternité. Hà Nội (1928).

- Chính trị nước Pháp. Hà Nội (1928).

- Les humanités sino-annamites. Hà Nội (1928).

- Redressement francais et restauration annamite. Huế, Nhà in Đắc Lập (1941).

- Charles Maurras, penseur politique (có bản dịch ra tiếng Việt). Hà Nội, Thụy Ký (1943).

- Tài liệu bách khoa đại từ điển (sử). Hà Nội (1943).

- Le capitaine Đỗ Hữu Vị, héros franco annamite, Huế, Đắc Lập (1937).

Ngoài ra, ông còn có nhiều bản dịch về triết học, văn học cách ngôn, ngụ ngôn, tuồng hát từ tiếng Pháp ra tiếng Việt…; nhiều bài nghiên cứu in trong Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Nam Phong tùng thư, Thượng Chi văn tập, Essais franco annamites, Nouveaux essais franco annamites, Huế, 1938; tập san – trường Viễn Đông bác cổ, Nha học chánh Đông Dương, tạp chí Thái Bình Dương, tạp chí Pháp Á…

Sau đây là bài Tự ngôn của bộ Thượng Chi văn tập (5 cuốn), in năm 1943 do tác giả viết:

“Nhiều bạn độc giả có bụng yêu thường nói với tôi rằng:

Báo Nam Phong bây giờ ít người giữ được trọn bộ. Những bài luận thuyết khảo cứu của ông đăng trong báo, nhiều bài còn có giá trị. Chúng tôi muốn đọc mà tìm kiếm rất khó. Ông nên cho lựa chọn những bài hay, tái bản thành sách, thật là ích lợi cho chúng tôi lắm”.

Tôi ngần ngại, tự nghĩ: những bài đăng báo là phần nhiều vì câu chuyện hiện thời mà viết ra, cách mười lăm, hai mươi năm về sau không còn thích hợp nữa. Vả tựu trung vàng thau lẫn lộn, lựa chọn cho được toàn bích, đáng để lưu truyền cũng khó lắm.

Song lại nghĩ rằng: báo Nam Phong cũng là tiêu biểu cho một thời kỳ trong công cuộc cải tạo quốc văn, đề xướng quốc học. Quốc văn sau này còn tấn tới nhiều, quốc học sau này còn mở mang rộng. Nhưng cái bước đầu khó khăn cũng nên ghi nhớ lấy, để có thể so sánh trước sau hơn kém thế nào. Sau hơn trước là lẽ cố nhiên, nhưng có trước mới có sau thời trước đối với sau cũng không phải là tuyệt vô quan hệ.

Cho nên tôi cũng vui lòng lựa lấy ít nhiều bài gọi là nghe được, cho in thành sách, đề là Thượng Chi văn tập để cống hiến các độc giả có bụng chiếu cố.

Chỉ xin nhớ cho rằng những bài này là viết tự khoảng trên dưới mười lăm hai mươi năm trước, chỉ có nhuận sắc đính chính lại một đôi chút mà thôi.

Hoa Đường Phạm Quỳnh cẩn chí

(Huế, ngày tháng 6 năm 1943)

Phạm Thận Duật

(Ất Dậu 1825 – Ất Dậu 1885)

Danh thần, tác giả đời Tự Đức, tự Quan Thành. Quê xã Côi Trì, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình (nay là huyện Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình).

Năm Nhâm Tý 1852, ông đỗ cử nhân, từng làm Thượng thư bộ Hộ, kiêm quản Quốc tử giám. Năm Tân Dậu 1881, được cử làm Phó tổng tài Quốc sử quán khảo duyệt bộ Việt sử thông giám cương mục.

Khi giặc Pháp chiếm thành Hà Nội, ông là một trong nhóm đại diện triều Nguyễn ký hàng ước Patenôtre (1884).

So-498--Cung-la-ho-Pham-sao-ma---Anh-1
Phạm Thận Duật (1825 – 1885).

Năm Ất Dậu 1885, sau khi đi sứ Thiên Tân (Tr. Q) về, ông cùng Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi xuất bôn kháng Pháp. Bị giặc bắt, ông bất khuất. Chúng đưa ông xuống tàu đi đày sang châu Phi, giữa đường ông mất, xác bị vất xuống biển, trong năm 1885 (khoảng ngày 6 tháng 9).

Ông là tác giả các sách:

- Hưng Hóa ký lược.

- Hà đê bộ văn tập.

- Hà đê tấu tư tập.

- Như Thanh nhật trình.

- Quan Thành văn tập.

- Khâm định Việt sử thông giám cương mục (hợp soạn).

- Bộ Hưng Hóa ký lược (1 cuốn) do ông biên soạn. Theo GS. Trần Văn Giáp thì sách này viết vào khoảng giữa thế kỷ XIX. Tất cả gồm 12 mục, nói về các mặt lịch sử, địa lý của tỉnh Hưng Hóa. Nội dung sách có liên quan đến môn dân tộc học cổ đại.

Mục 1 và 2: Theo 2 mục Diên cách và Cương vực thì tỉnh Hưng Hóa nói đây chiếm một khu vực khá rộng, phía đông liền với huyện Sơn Vi, phủ Lâm Thao, tỉnh Sơn Tây (xưa); phía tây tiếp giáp các huyện Kiến Thủy, Văn Sơn, phủ Khai Hóa nước Thanh (Trung Quốc) và các nước Nam Chưởng (tục gọi Quân Lào hay Lèo), Xa Lý (tục gọi Quân Lự); phía nam giáp châu Quan Hóa, huyện Trình Cố, tỉnh Thanh Hóa và huyện Lạc Yên, tỉnh Ninh Bình; phía bắc tiếp giáp Thu Châu, tỉnh Tuyên Quang. Gồm có các châu huyện: Gia Hưng phủ: 3 huyện Tam Nông, Thanh Sơn, Thanh Thủy; 8 châu: Phú Yên, Mộc Châu, Đà Bắc, Mai Sơn, Mai Châu, Sơn La, Yên Châu. Qui Hóa phủ, 3 huyện: Yên Lập, Văn Chấn, Trấn Yên; 2 châu: Văn Bàn, Thủy Vĩ; An Tây phủ, 3 châu: Chiêu Tấn, Huỳnh Nhai, Luân Châu; Điện Biên Phủ, 3 châu: Ninh Biên (kiêm lý), Lai Châu, Tuần Giáo (Trong khi nói đến các phủ, các châu, huyện trên đây đều có ghi chép về lịch sử diên cách, lúc chia lúc hợp, hoặc thay đổi tên gọi, nay là có thêm 3 mục phụ: a) Lưu thổ thủy mạt: nói về lai lịch cách bố trí các quan hành chánh hoặc theo chế độ bổ dụng người địa phương hay các quan của triều đình bổ lên; b) Binh (cách bắt lính); c) Lại viên: nói về số lượng các viên chức giúp việc các đơn vị hành chánh.

Cuối mục Cương vực có hình vẽ cối giã gạo bằng sức nước chảy (thủy đôi đồ) và guồng dẫn nước khe vào ruộng (thủy xa đồ).

Mục 3: Đinh điền thuế lệ. Trước khi kê khai riêng từng hạt, có ghi tổng số; năm Gia Long thứ 13 (1814): “Trấn Hưng Hóa gồm có 3 phủ, 4 huyện, 16 châu, 172 trang, động, xã, thôn, vạn, phố. Nhân số là 5.800 người; ruộng đất: 4.321 mẫu.

Mục 4: Núi sông. Sông Thao, sông Đà, sông Mã… Núi Hùng Nhị ở Thanh Sơn, núi Chuyện Thiệt ở Thanh Thủy, núi Thái Sơn, Lai Sơn ở Phù Yên…

Mục 5: Từ tự. Nói về một số đền ở tỉnh lỵ thuộc văn hóa người Kinh, lập từ đời Minh Mạng về sau như: Văn miếu, tiên nông… Trong thành phủ Điện Biên có đền thờ Lê Chất, ở các nơi khác có đền thờ Tản Viên, thờ Liễu Hạnh… và các chùa thờ Phật đều không phải tục cũ của người địa phương.

Mục 6: Thanh trì. Nói về thành cũ ở xã Trúc Phê, huyện Tam Nông xây đắp từ năm Minh Mạng thứ XIII (1832) và các thành lũy ở các phủ huyện, các trại lính ở các nơi cũng đều về đầu thế kỷ XIX, sau thời Minh Mạng. Ngoài ra, cũng có vài nơi theo di tích từ đời Trần, đời Lê, như thành huyện Thanh Sơn…

Mục 7: Cổ tích. Ghi rõ địa điểm và miêu tả 2 thành cũ là căn cứ quân sự của Lê Chất chống lại chính quyền Lê Trịnh. Ghi lịch sử cái bia và bài văn bia của Lê Thái Tổ ở Chợ Bờ từ năm Thuận Thiên thứ 4 (1431), trong cuộc đi đánh Xa Khả Tham và bài thơ đi bình Đèo Cát Hãn ở Mường Lễ (Lai Châu): Đê Long Thủy hay Long Môn giang…; di tích chùa cổ tên là Nùng Lĩnh ở Tam Nông. Ở làng Ngọc Uyển, châu Thủy Vĩ còn di tích thành lũy của Vũ Đình (?) Uyên, tục gọi Chúa Bàu. 

Mục 8: Khí hậu. Lạnh nhiều hơn nóng, miền cao mùa đông có tuyết…

Mục 9: Thổ sản. Có các loại như: tam thất, thuốc lá, cây long cu-li, tre hoa, trám, nâu, lê, hoàng thảo, sa nhân, gà, trứng kiến, cá anh vũ, cánh kiến, mật ong, đao trùng, phượng hoàng đất, ngựa, sơn, gỗ gụ, sắn, cốc (cây gió) làm giấy, tức cây tang cốc (?), cây dùng nhựa làm tên thuốc độc (cây sui); mỏ vàng, mỏ bạc, mỏ diêm tiêu, mỏ đồng, mỏ chì…; các loài thú rừng, chè mạn, chè xuân…; công nghệ có pháo giấy, pháo cối, bút lông, mực thoi, mã nhục, thuộc da thú…

Mục 10: Tập thương (tức là thói quen, phong tục). Mục này nói về phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số ở Hưng Hóa như người Tày đen, Tày trắng phân bố ở những đâu, thuộc những giống nào, người Thổ, người Nùng, người Lèo, người Lự… Nói về sinh hoạt, nhà cửa, tập tục của các dân tộc ấy, cách giao dịch, buôn bán, tín ngưỡng, canh tác, săn bắn… Sau chương này có vẽ hình 3 dạng người khác nhau, vẽ xấu lắm, nhưng cũng cho ta có một quan niệm sơ qua về dân tộc ấy: 1/ Giốc xá nhân (người Xá Sừng); 2/ A xá nhân (người Xá cằm chăm đen); 3/ Các người Chăm minh như người Nam, người Lèo, người Lý, người Nhuận, người Cân, người Xiêm.

Mục 11: Thổ tự, ghi đủ văn chữ thông dụng ở các châu: Luân Châu, Chiêu Tấn, Quỳnh Nhai, Lai Châu, gồm có 18 chữ bằng, 18 chữ trắc và 11 chữ làm dấu phụ. Chữ viết ở Phù Yên gồm 17 chữ vần bằng, 16 chữ vần trắc và 11 chữ làm dấu phụ. Sau đó, có một số chữ viết sẵn xếp theo vần chữ Trung Quốc như: nhất đông, tam giang…

Mục 12: Thổ ngữ, chia ra nhiều môn: Thiên văn, Địa lý, Nhân luân, Thân thể, Cung thất, Thực phẩm, Y phục, Thập vật, Cằm trùng, Thảo mộc, Tạp hoại. Sau cùng có phụ một số danh từ riêng gọi các dân tộc ấy và câu chuyện Hồ Thực ở khoảng đời Vĩnh Hựu, đầu đề là Tung Dương kỳ ngộ ký.

Xem bài tựa của tác giả, ta biết rằng sách này không phải là sách đầu tiên dân tộc học về vùng Hưng Hóa xưa. Theo bài tựa của tác giả, trước sách này đã có sách của quan đốc đồng họ Hoàng đời Lê, các sách của quan hiệp trấn họ Trần, của quan tuần phủ họ Ngụy triều Nguyễn và một tập công văn tư về Viện Hàn lâm năm Tự Đức thứ 4 (1851). Nhưng sưu tầm các bộ sách ấy không được bộ nào, sau tác giả tìm được tập văn tư của Hàn lâm viện và tập sách của quan hiệp trấn họ Trần. Tác giả đã dùng hai tập sách này, tham khảo thêm các sử, sách khác, các truyện ký, các nhà riêng và việc sưu tầm, điều tra từng địa phương, đem về viết thành sách này.

Sau đây những đoạn cần thiết trong bài tự tự viết năm 1856:

D. nghĩa… Năm ngoái tôi được lên làm việc ở Tuần Giáo thuộc Hưng Hóa, hỏi ra mới biết các vị đốc đồng họ Hoàng triều Lê, hiệp trấn họ Trần, tuần phủ họ Ngụy triều ta, đều có viết sách về Hưng Hóa. Tôi tìm mãi không được. Gần đây tìm được một tập Tỉnh tư Hàn lâm viện năm Tự Đức thứ 4 (1856), nay lại tiếp tục tìm được tập sách Hưng Hóa lục của quan hiệp trấn họ Trần, tôi cất kỹ vào tủ sách… Nhưng sách của họ Trần chỉ nói kỹ về số ngạch đình điền còn thì chỉ nói qua loa, còn tập Tỉnh tư Hàn lâm viện thì lại căn cứ vào sách cũ của họ Trần, chuyển lên, chuyển xuống, không có gì khác cả… Tôi là Duật, không tự biết là quê mùa, đem cả hai tập ấy ra, tham khảo thêm các sử, sách, truyện ký và các nhà riêng, hỏi han tận các làng xóm, đem biên lại thành sách, đặt tên gọi là Hưng Hóa ký lược, sách chia làm 12 mục…”.

Theo GS. Trần Văn Giáp, sách Hưng Hóa ký lược của Phạm Thận Duật vẫn là một bộ sách viết công phu và có phương pháp, một bộ sách thuộc môn lịch sử, địa lý, phong tục… của một số lớn các dân tộc thiểu số ở miền Bắc nước ta. Đó là một bộ lịch sử sơ lược về các dân tộc người Tày ở Việt Nam, có giá trị. Các mục Tập thượng, Thổ tự, Thổ ngữ là những mục rất có giá trị. Qua nghiên cứu, ta nhận thấy ngoài những điểm tác giả sưu tập, nhận xét, ghi chép ngay ở địa phương, tác giả còn khảo cứu thêm nhiều ở các sách khác sau đây:

1/ Hưng Hóa xứ phong thổ lục của Hoàng Bình Chánh triều Lê.

2/ Hưng Hóa thực lục của quan hiệp trấn họ Trần, khoảng năm Gia Long.

3/ Hưng Hóa lục của quan tuần phủ họ Ngụy, khoảng sau đời Gia Long.

4/ Tự Đức tứ niên tỉnh tư Hàn lâm viện sách.

5/ Vân đài loại ngữ và Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn.

6/ Thiên Nam dư hạ của Lê Thánh Tông sai Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận soạn tập.

7/ Thoái thực ký văn của Trương Quốc Dụng.

8/ Bình Hưng thực lục.

9/ Dã sử.

10/ Hoàng Việt địa dư chí của Phan Huy Chú.

11/ Nguyễn Bá Lân gia phả.

12/ Hải Thiên Bùi công địa dư chí của Bùi Quỹ.

13/ Tam tự sử của Hoành Hải Phan tiên sinh ở Tả Thanh Oai.

14/ Cao Bằng phong thổ ký của quan bố chánh Cao Bằng Trần Huy Phác. Và sách sử Trung Quốc như:

a/ Minh sử.

b/ Ngự phê Thông giám tập lãm.

- Bộ Khâm Định Việt sử thông giám cương mục (56 quyển) do ông làm Phó Tổng tài trông coi việc biên soạn. Sách soạn xong ông và Toản tu Vũ Nhự đồng dâng lên vua Tự Đức bài Biểu tấu như sau:

Biểu tấu trình về việc hoàn thành bộ sách.

Khâm Định Việt sử thông giám cương mục.

Chúng thần, Hội Bộ Thượng thư Phạm Thận Duật, Sử quán Toản tu Vũ Nhự, cúi đầu kính cẩn tâu bày: Nay bộ “Khâm Định Việt sử thông giám cương mục” đã biên soạn xong, chúng thần rất lấy làm kinh sợ, kính xin làm biểu tiến dâng.

Chúng thần trộm nghĩ: quốc sử là cốt tỏ rõ dấu vết hay dở, thuật lại việc quá khứ, để làm gương cho tương lai; đấng thành nhân cân nhắc phải trái, thu góp mọi lời bàn luận, để lưu truyền lời dặn đúng đắn cho đời sau.

Nước Đại Việt ta, dựng bờ cõi ở minh đô, sách trời định rõ núi sông, nết đất đúc nên văn vật, vua chúa đời sau thay đời trước, phong khí ngày một mở mang; thời đại không giống nhau, qui mô cũng mỗi thời một khác. Sự việc đời trước, sử cũ có thuật lại, nhưng không thấy bản sách nào hoàn toàn, tìm được bộ sách này đầy đủ thật là khó khăn, bộ nào cũng không sao tránh khỏi lầm lỗi nhỏ: tuy nêu rõ tháng năm, căn cứ vào tài liệu lưu giữ cũng như sách của Thốc Thủy ở Trung Quốc, nhưng đề ra yếu lĩnh, phô diễn nên lời, so với phương pháp chép sách của Tử Dương phần nhiều còn kém. Có phải đâu vì nước ta không giữ được điển tịch, không có hiền tài như trước khó lấy gì làm tin; vậy việc chép sách bây giờ chỉ cần theo nghĩa kinh Xuân Thu để đợi bậc chí thánh phán đoán điều phải trái. (…)

Cúi mong giao thợ khắc vào gỗ tốt, ban hành trong nước giữ làm của quý vô ngần, để cho người đọc sách này tôn trọng điều đã được nghe, thực hành điều đã được biết, không khác gì chính mình được thân nghe lời dạy bảo của vua. Thế là bệ hạ đã nối được chí nguyện của tiên vương, làm xong việc bỏ dở của tiên vương, mà lại ban thêm ơn huệ cho bọn sĩ phu nữa, trước là sáng tỏ được dấu thơm “người sáng tác là bậc thánh, người hoàn thành là bậc minh”, sau là làm gương sáng để soi việc thịnh suy mãi mãi. Thật là may cho thiên hạ, may cho muôn đời lắm. Chúng thần xiết bao lo sợ, xin kính cẩn tiến dâng bài biểu này, mong lượng trên soi xét.

Viết ngày 21 tháng 7 niên hiệu Kiến Phúc thứ nhất (10-9-1884)

Phạm Quỳnh và Nam Phong và Khai trí tiến đức đi đầu trong sự nghiệp to lớn, công việc khổng lồ: sáng tạo ra một ngôn ngữ hiện đại… Thì cần nhớ, chữ quốc ngữ cho đến nay đã được 400 năm. Thời Phạm Quỳnh là 300 năm. Từ cuối thế kỷ XIX, ngay buổi đầu xâm lược Việt Nam, tướng Pennequin, chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương lúc đó đã nói: “Quốc ngữ là công cụ thực sự để đưa tư tưởng chúng ta xâm nhập vào dân An Nam”.

Chính Phạm Quỳnh đã thừa nhận: Các nhà Nho Trung Hoa vào đầu thế kỷ XX đã tiếp thu văn hóa phương Tây và dịch các tác phẩm của Darwin, Kant, Rousseau, Montesquieu, Voltaire, Diderot sang tiếng Hán, được truyền sang Đông Dương và các nhà Nho Việt Nam đã “đọc ngốn ngấu”, “họ bèn dịch lại từ tiếng Hán sang tiếng Nam không chỉ tác phẩm của Rousseau, Montesquieu, Kant và Darwin, mà cả những sách giáo khoa thường thức khoa học do các tác giả Trung Hoa viết cho các trường học mới ở Trung Quốc, và khi dịch như thế họ dùng luôn chữ quốc ngữ. Nhờ đó tiếng Nam trở nên phong phú. Phạm Quỳnh còn nhấn mạnh: “Cần phải ghi nhớ một thực tế hiển nhiên là: trước khi ở nước tôi có tầng lớp Tây học có khả năng dịch sang tiếng Nam các tác phẩm Pháp, có khả năng phổ biến bằng tiếng mẹ đẻ những tri thức khoa học mới thì các nhà Nho lớp cũ đã làm việc đó nhờ cảm hứng từ các sách Trung Hoa”; “Các tác phẩm viết bằng chữ quốc ngữ ngày càng nhiều… Hàng chục tờ báo và tạp chí bằng chữ viết mới được xuất bản ở Hà Nội và Sài Gòn”. Rất gần gũi với Trần Trọng Kim: Chữ quốc ngữ đã phổ thông cả trong nước – trước 1920 (1).

Về cái “ngày người Việt, nước Việt tìm lại được linh hồn của mình, và hơn nữa từ đó có thể có nhiều khả năng hơn để tìm lại nền độc lập” thì luận điểm hồn nước là lặp lại tư tưởng của Ernest Renan: Nước là một cái hồn, một cái tinh thần mầu nhiệm (La nation est une ame, un principe spirituel). Hồn còn thì nước còn. Hồn mất thì nước mất. Phạm Quỳnh còn vận dụng cụ thể hơn: “Tiếng là nước, tiếng còn thì nước còn, tiếng mất thì nước mất, mà cái mất đó mới thực là mất hẳn, không sao vãn hồi được nữa” (2). Và Phạm Quỳnh đưa ra một “tiên đề”: “Đối với dân tộc này, phải giải phóng tinh thần trước khi giải phóng chính trị” (3).

Lịch sử dân tộc và nhân loại từ cổ chí kim đã chứng tỏ luận điểm của Phạm Quỳnh, dù là vay mượn lại của người khác, là một luận điểm hoàn toàn sai về học thuật và rất phản động về chính trị. Nó bộc lộ rất rõ trong sự tiếp thu, luận giải Kinh Coran: Tên nô lệ nào biết viết đơn xin được tự do thì hãy giải phóng cho nó. Phải biết đọc, biết viết, biết viết cái đơn xin được tự do, hiểu thế nào là tự do… Khi đã ý thức được tự do thì ai mà cướp được tự do!

Để đánh giá đúng Phạm Quỳnh và Nam Phong cần phải thấy “sứ mệnh hai mặt” (Double Mission) của chủ nghĩa thực dân (Hồn Việt, Bđd. Trg.18). Nếu chỉ thấy một mặt thì giải này giải kia vẫn chỉ là một mặt!

Về mục từ Phạm Quỳnh đặt bên cạnh mục từ Phạm Thận Duật thì bạn đọc dễ dàng thấy ra vấn đề. Chỉ xin lưu ý ở hai điểm:

- Thế nào là một nhà văn hóa. Trước tác của Cụ Phạm Thận Duật thể hiện phẩm chất văn hóa của Cụ. Sự nghiên cứu dù là một đề tài về địa chí lịch sử như Hưng Hóa ký lược vẫn nghiêm cẩn, cụ thể, xác thực chứ không “nói theo Ernest Renan”. Đến biên soạn được bộ Khâm Định Việt sử thông giám cương mục thì chắc Phạm Quỳnh chỉ có thể đọc được thôi chứ không thể làm được như thế. Cũng phải, nếu đã mất hồn, thần hồn nát thần tính trước Sứ mệnh của nước Pháp thì chỉ có thể “vãi linh hồn” (Vũ Bảo) ra thôi!

- Người bất khuất trước quân giặc ngoại xâm hy sinh vì nước, bỏ mình giữa đại dương xa xôi thì bị lãng quên và ngược lại thì được tôn vinh!

Nói về Nguyên Ngọc đã nhiều, vì cây muốn lặng mà gió chẳng đừng nên cũng chẳng đặng đừng. Xin tặng một vế đối:

Trung thành thành bất trung chung qui

Chung chạ bất thành trung!

Hà Nội, 9-5-2018

Năm Châu Đốc
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 498

———————————

(1), (2), (3), (4): Xem: Thượng Chi văn tập, NXB Văn học – 2006; Giải oan lập một đàn tràng, Tâm Nguyện xuất bản, Hoa Kỳ – 2001; Tiểu luận bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922 – 1932, NXB Tri thức – 2007; Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim, NXB Văn học – 2015. Các trích dẫn trên đã được chú rõ trong loạt bài Nguyên bản Phạm Quỳnh, Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh từ số báo 468 (ngày 21-9-2017) đến số báo 472 (ngày 19-10-2017).

Ý Kiến bạn đọc