Truyện ngắn

Cung đường ngày ấy

Cuối tháng 6, thi tốt nghiệp cấp III xong, tôi có giấy gọi nhập ngũ. Cha tôi khi đó tuổi đã gần 60, nhà chỉ có hai chị em gái. “Ông già thì phải để cho chị em nhà chúng nó ra trận. Làng xã, trai tráng đi hết cả rồi, giữ chúng ở nhà cho mốc meo đi à? Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh, phải cho một đứa tòng quân đợt này!” – Lão Đệ, phó chủ tịch kiêm xã đội trưởng nói như quát vào mặt cha tôi như vậy. Thế là cha tôi, một người rất mực thương con, đành gạt nước mắt để tôi, cô gái út luôn được cha cưng chiều nhập ngũ (Chị gái tôi bị tật thọt chân từ bé). Hôm lên đường, còn con gà mái hoa mơ đang ấp, mẹ tôi thịt nốt. Con gà mái thường ngày vẫn ra mãi ngoài ruộng hợp tác xã canh bới kiếm ăn, nuôi con rất khéo, mẹ tôi khen nó hết lời. Biết là chết bỏ ổ trứng đang ấp dở, con gà quác lên một tiếng rõ là thảm thiết. Còn gì mà tiếc? Ngày mai con gái mẹ ra trận rồi! Ăn đi con! Ăn cho thật no vào! Mẹ tôi cố ngăn dòng nước mắt cứ chực trào ra.

Mười tám tuổi, tôi như chú nghé tơ mới vực, háo hức lên đường, không bợn riêng tư. Đợt ấy, may mắn sao, tôi được tuyển vào đội quân “nữ quái xế”, tức là trường của quân đội đào tạo nữ lái xe. Sau mấy tháng ròng tập lái, đưa xe vượt đèo lội suối, vòng đi rồi vòng lại không biết bao nhiêu lần quanh vùng núi phía Tây Thanh Hóa, tôi đã có đủ tố chất, bản lĩnh vặn vô-lăng vượt Trường Sơn đi chống Mỹ cứu nước. Ăn Tết xong, tôi được giao chiếc xe “giải phóng” sơn xanh do Trung Quốc vừa viện trợ mới khựa. Không giấu nổi niềm tự hào trước bao cặp mắt thán phục của giới mày râu, tôi dí ga, đạp phanh cho xe giật giật như con chiến mã bị kéo cương, tỏ rõ tay lái nữ có hạng. Lái xe vận chuyển vũ khí, đạn dược, chi viện cho chiến trường miền Nam, dưới mưa bom bão đạn quân thù, đâu phải trò đùa! “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”, nhẩm câu thơ của Phạm Tiến Duật vừa mới được một nhạc sỹ phổ nhạc, phát đi phát lại trên đài, tôi thấy tuổi xuân mình vui phơi phới.

Cái gì lâu rồi cũng thành quen. Qua bao lần vượt bom tọa độ, bom từ trường, thứ bom chỉ cần “ngửi” thấy mùi sắt là nổ tung, tôi đã hoàn toàn làm chủ tay lái và không còn thấy sợ nữa. Đã biết bao nhiêu lần, vượt qua mưa bom bão đạn, tôi đưa hàng tới đích. Tôi được khen thưởng mấy lần và vinh dự được kết nạp Đảng. Trời ơi! Mới 19 tuổi đầu đã là Đảng viên! Tôi viết thư về cho cha mẹ, với bao câu từ nói lên nỗi niềm thương nhớ, trách nhiệm tuổi trẻ với non sông đẹp tựa gấm hoa, và, không quên hứa với cha mẹ là sẽ phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một đoàn viên thanh niên.

Cau-Cam-Nghe-An---Vu-Giang-Huong
Cầu Cấm – Nghệ An (1968) – Ký họa – Vũ Giáng Hương.

Cứ thế, tôi đi vào cuộc chiến như một nghĩa vụ, trách nhiệm và niềm tin của mình, quên đi mọi chuyện. Thì chính tôi đã thề trong buổi lễ kết nạp Đảng, là “Suốt đời trung thành với Đảng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, hiến dâng cả tuổi thanh xuân cho sự nghiệp thống nhất đất nước” rồi còn gì?

Mùa hè năm sau, gió mưa cũng không làm chậm tốc độ vận hành của cỗ máy chiến tranh. Quân ta tiến đánh Quảng Trị, chuẩn bị tổng tiến công giải phóng hoàn toàn miền Nam. Hai bên giành giật nhau từng mét chiến hào. Tôi được lệnh cùng với chiếc “giải phóng” chất đầy đạn dược lên đường. Phải kịp thời chi viện chiến trường, “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”. Câu khẩu hiệu luôn vang vang bên tai tôi. Càng gần đến ngày kết thúc cuộc chiến, chiến sự càng khốc liệt. Trên đường đi, không có bút nào có thể tả nổi cảnh hoang tàn của con đường mòn sau hàng trăm trận bom B52 dội xuống. Đất đá bị đào xới tơi bời, bánh xe phập phổng như con bọ dừa bò trên mâm bột. Xe của tôi đang vượt qua cung đường nguy hiểm nhất. Đường hẹp, một bên vách núi, bên là vực thẳm. Nhiều lúc tôi nhắm mắt lại, thật bình tĩnh rồi mới nhấn ga đi tiếp. Thần kinh căng thẳng quá. Chỉ cần thiếu tập trung phút giây thôi là cả người và xe sẽ lao xuống vực sâu. Khi xe tôi đang bò bên miệng một hố bom thì máy bay địch phát hiện, lao đến. Một quả rốc-két lóe lửa xanh lét phóng xuống. Xe tôi bốc cháy phừng phừng. Tôi kịp mở ca-bin, lao ra ngoài. Một tiếng nổ long trời lở đất, tai tôi ù đi. Sau tiếng nổ, cả chiếc “giải phóng” với chục tấn đạn dược bay vèo xuống vực như chiếc lá khô gặp gió bão, chỉ nghe tiếng va đập dội lại ầm ào từ vách núi vọng lên. Thật kinh khủng! Sao thế nhỉ? Xe bay xuống vực mà tôi vẫn nằm chềnh ềnh trên đường thế này? Thì ra có một gã đàn ông to béo đang nằm đè lên người tôi. Tôi điên tiết đẩy gã ra nhưng không đẩy nổi. Người gã nặng như tảng đá.

Thì ra, khi thấy tôi, một nữ lái xe nhảy ra khỏi buồng lái chiếc xe bị cháy, lại thấy một quả bom đen trũi lao từ trên trời, gã đã xô tôi ngã xuống và nằm đè lên, rất kịp thời và đúng lúc. Tôi và gã cùng ngượng nghịu cười, hai tay phủi vội quần áo phủ đầy bụi đỏ. Thế là thân nhau. Sau này, nghe chị em trong tiểu đội gọi tên, tôi mới biết, đó là Dũng Phệ, tiểu đội trưởng tiểu đội TNXP phụ trách cung đường. Không biết tôi thoát chết là do gã đàn ông to béo nằm đè lên trên hay do sức ép không khí từ tiếng nổ của bom tác động vào thành xe, nhờ lực phản hồi trước khi xe bay xuống vực, nên tôi không bị bay theo. Dù sao thì cũng còn may chán. Thật là hú hồn, hú vía!

Tài xế không còn xe cũng giống như kỵ sỹ không ngựa. Tôi đành tá túc ở nhờ tổ Thanh niên xung phong, chờ có xe ra, quá giang về đơn vị.

Những ngày ở lại cung đường này cùng với Dũng Phệ, đã có biết bao kỷ niệm in dấu trong cuộc đời tôi.

Tiểu đội TNXP có 8 cô gái còn rất trẻ từ khắp miền quê do Dũng Phệ làm tiểu đội trưởng. Họ làm lán ngay cạnh cung đường để kịp thời ứng cứu khi máy bay địch đánh xe, phá đường. Thức ăn chủ yếu là rau rừng, gạo và lương khô được tiếp tế từ những chiếc xe chở hàng chạy qua. Trong bom đạn mù trời, ăn ngủ thất thường, ngày đêm đối mặt với tử thần, nghe cái tên Dũng Phệ chắc nhiều người ngạc nhiên. Thế mà anh ta vẫn béo mới lạ. Mái tóc hất ngược, đen nhánh, đôi mắt long lanh luôn ẩn một nụ cười, trông anh ta giống một sinh viên trong giảng đường đại học hơn là gã trai TNXP. Chính vì thế mà các cô gái đặt cho anh ta cái tên Dũng Phệ. Thì ra, có những người, không cần ăn, vẫn béo. Hình như cơ thể họ có một sự điều tiết thần kỳ nào đó nên Dũng vẫn trắng trẻo, hai má phúng phính, mặc dù Dũng ăn uống cũng kham khổ như chị em trong tiểu đội.

Ba ngày sau, tôi theo xe trở ra Bắc, tạm biệt Dũng Phệ và chị em trong tiểu đội. Khi lên xe, Dũng Phệ dúi vội vào tay tôi một mẩu giấy. Chưa cần đọc, tôi đã đoán là anh ta viết gì rồi. Xe chạy một chặng dài, để cho cảm xúc lắng xuống, tôi mới mở ra xem. Dũng viết: “Chinh! Có lẽ số phận đã run rủi cho tôi gặp em. Tôi yêu em, thề có trời xanh chứng giám. Tôi biết có thể không gặp lại em, chiến tranh ngày càng khốc liệt, sống chết trong gang tấc. Nhưng nếu còn sống, sau chiến tranh, ta sẽ tìm nhau nhé! Mãi mãi yêu em!…”.

Một lá thư tỏ tình chỉ có gần trăm ký tự mà sao khiến tôi rơi lệ. Năm 72 là năm chiến tranh khốc liệt nhất, địch dồn tất cả vũ khí từ trên trời, dưới đất, ngoài biển, quyết tâm chặn đứng con đường tiếp vận của ta. Liệu tôi có còn sống đến khi kết thúc chiến tranh hay không? Hẹn hò yêu đương làm chi thêm đau lòng xót ruột. Tôi mỉm cười. Rõ là anh chàng ngốc! Yêu thế, sao những ngày tôi sống ở tiểu đội, không thổ lộ rồi muốn hôn hay làm gì tôi mà chẳng được? Dù sao thì anh ta cũng đã có công cứu tôi thoát chết. Hình dung lại những ngày sống cùng tiểu đội với anh. Ừ, mà anh ta yêu tôi thật, chẳng thế mà ngày nào cũng trèo lên tận đỉnh núi hái rau sắng về cho tôi ăn đó sao? Tự nhiên tôi thấy thương Dũng, thích cách thổ lộ chân thành của anh. Thôi, cứ đợi kết thúc chiến tranh cái đã! Đến lúc đó, ta sẽ tìm nhau…

Anh-minh-hoa---Cung-duong-ngay-ay

Một tuần sau, tôi nhận xe mới. Ngồi trong buồng lái khi xe sắp đến cung đường của Dũng Phệ, tim tôi cứ phập phồng trong lồng ngực không sao kìm lại được. Tôi đã yêu Dũng rồi ư? Trong chiến tranh, rất lạ là khi vào chiến trường, trong trái tim mỗi người lính chúng tôi, hình như ai cũng đều có một bóng hình nào đó để mà thương mà nhớ. Vẫn biết là “ngày mai biết có còn gặp lại”, nhưng vẫn yêu thầm, nhớ trộm, dẫu đơn phương. Chính tâm hồn tuổi trẻ ngày đó đã tạo thành cái chất lãng mạn của chiến tranh. Hình như yêu để không cô đơn khi hành quân vượt rừng băng suối hay những đêm ngủ hầm dưới làn pháo gầm bom dội, đối mặt với cái chết. Yêu để khi trúng đạn nằm xuống, đôi môi mấp máy gọi mẹ trước rồi gọi người yêu sau. Hàng chục vạn chàng trai cô gái trẻ thời đó, trước khi nhắm mắt, đã thầm gọi như thế. Đất mẹ thấm dòng máu đỏ, trời xanh thăm thẳm, đầy ắp tiếng kêu tha thiết yêu thương. Mười tám tuổi, vừa rời ghế nhà trường, tôi đâu đã kịp yêu? Tâm hồn tôi vẫn trắng trong tinh khiết, vẫn là đứa con gái tồ nhất lớp. Đợt nhập ngũ lần đó, lớp tôi, nữ có con Nhung Trứng, nàng Thủy Tiên sún răng. Nam có thằng Hùng Lùn và Tuấn Rỗ. Tuấn Rỗ và Hùng Lùn sau 3 tháng huấn luyện, nghe nói đã vào chiến trường Quảng Trị. Không biết “mùa hè đỏ lửa” vừa rồi, cái “cối xay thịt” có chừa hai thằng bạn ngông nghênh nhất lớp tôi hay không? Nếu có bề nào, chúng nó đã có người mà gọi trước khi nhắm mắt hay chưa? Mắt tôi bỗng nhiên cay xè… Vào chiến trường mới biết thương nhau. Tôi thì bây giờ đã có rồi. Nếu một lần nữa, bay xuống vực, tôi sẽ kêu to: “Vĩnh biệt bố mẹ và các em thân yêu!”. Rồi sau đó là: “Dũng ơi! Em yêu anh!”…

Và tình yêu đến với chúng tôi như thế. Tình yêu là động lực để chuyến hàng sau nhanh hơn chuyến hàng trước. Bất chấp hiểm nguy, cứ nhận lệnh là tôi lên đường. Những đồng đội tôi dần dà rồi họ cũng biết anh chàng tiểu đội trưởng tiểu đội TNXP đã ngự trị trong trái tim tôi.

- Này Chinh! Tám cô nữ quái kia sẽ cướp mất người yêu của mày đấy!

- Này Chinh! Làm quái gì có chuyện lão Dũng chung thủy với mày? Một thằng đàn ông bị vây quanh bởi 8 nữ quái!

Tôi để ngoài tai mọi lời trêu chọc. Tôi tin hoàn toàn tình cảm Dũng dành cho tôi. Cứ mỗi lần xe qua, chúng tôi lại tay trong tay, ngồi vắt vẻo trên những sợi dây thả lòng thòng. Ở lâu trên bờ vực thẳm mãi rồi cũng quen, chẳng còn thấy sợ nữa, mình giống như những con khỉ rừng, tay bám vào đâu cũng chặt – Dũng bảo với tôi như thế!

Những lần gặp thật ngắn ngủi. Dũng kể với tôi bao nhiêu là chuyện. Dũng bảo, ở tiểu đội anh có một cô tên Mùa quê Nam Hà, 20 tuổi. Cô này bị yếu tim, thỉnh thoảng bị ngất đột ngột. Rất lạ là khi cô bị ngất, toàn thân vẫn hồng hào, làn môi cứ tươi dơn dớn. Bạn gái đến xoa tim mãi mà cô vẫn không tỉnh. Chỉ khi Dũng đến, dùng bàn tay nóng hổi của anh nới khuy áo ngực, xoa bóp và làm hô hấp nhân tạo cho cô, lạ lắm, chỉ 15 phút sau là cô tỉnh lại. Cô lại hăm hở lao ra mặt đường làm việc như không có chuyện gì xẩy ra. Sau này, cái bệnh ấy bị lây hay sao ấy, dần dà rồi các cô gái cũng bị căn bệnh giống như cô Mùa. Anh làm hô hấp nhân tạo không xuể.

Sau rồi Dũng cười tủm, nói: “Anh lạ gì trò đó? Thật ra là các cô nàng thèm hôn mà thôi!”.

Tôi ghen, đấm vào lưng anh thùm thụp: “Em cũng bị ngất rồi nè!”. Tôi giả vờ lăn đùng ra cỏ, dẩu môi lên. Và cũng giống như các cô gái kia, Dũng làm hô hấp nhân tạo cho tôi, chỉ khác là anh không hà hơi thổi ngạt…

Hơn một năm trời, tháng nào tôi cũng gặp Dũng. Tình yêu của chúng tôi càng vững vàng hơn trong chiến tranh, trong đạn lửa quân thù. Cuối năm ấy, địch đánh phá ngày càng khốc liệt, gây cho quân ta nhiều tổn thất nặng nề. Tiểu đội của Dũng Phệ có 4 cô hy sinh, cấp trên phải điều từ nơi khác đến, bổ sung cho lúc nào cũng đủ 9 người. Dũng không còn “phệ” nữa. Anh gầy đen như cây củi cháy, chỉ có hai con mắt là vẫn lấp lánh tin yêu. Tôi thương lắm nhưng không biết làm sao được, dành chia bớt tiêu chuẩn phần thực phẩm bồi dưỡng của lái xe của tôi cho anh ăn thêm. Sang năm sau, Hiệp định Paris ký kết, Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, lần lượt rút về nước. Tôi và Dũng tràn trề hy vọng vào một ngày nào đó, cuộc chiến kết thúc để Dũng đưa tôi về nhà, giới thiệu với cha mẹ anh một nữ quái xế kiệt xuất như tôi.

*
Không còn bị máy bay đánh chặn, khắp các ngả đường miền Bắc, từng đoàn xe ung dung chạy giữa ban ngày. Xe pháo nườm nượp lao vào chiến trường miền Nam. Chiến tranh sắp đến hồi kết liễu rồi! Có người bí mật nói với tôi là xong chuyến này, tôi sẽ được cấp trên ưu tiên cử đi học đại học. Tôi mừng lắm, chỉ mong gặp Dũng để khoe tin. Khi đoàn xe của chúng tôi sắp qua cung đường Dũng và tiểu đội TNXP của anh phụ trách, không hiểu sao tôi cứ thấy bồn chồn trong bụng. Có một khối khói đen kịt che kín con đường từ phía trước còn chưa tan, báo hiệu cung đường vừa bị đánh. Thấp thoáng mấy chiến sỹ ở trạm tiền tiêu chạy đi chạy lại, họ thông báo với chúng tôi là đường vừa bị bom. Đoàn xe tạm dừng chờ san lấp, sửa chữa xong mới qua được. Tôi cho xe tấp vào bờ ta-luy, ruột nóng như có lửa đốt. Không biết Dũng của tôi có bề gì không?

Phải hai tiếng đồng hồ sau, mới nghe tiếng kẻng keng keng báo đường thông. Trời đã tối. Tôi bật đèn gầm. Xe chầm chậm, thận trọng bò, tiếng động cơ rì rì bí ẩn. Không gian rờn rợn, sự chết chóc bao trùm, mùi tử khí lẩn khuất đâu đây. Mặt đường ngập ngụa đất đá vừa vội san lấp. Tôi cố quan sát ra hai bên đường nhưng không gặp khuôn mặt nào thân quen của tiểu đội TNXP của Dũng. Sao thế này? Những người mới đến lạ lắm. Tôi dừng xe, chạy lại nơi có hai người lính trẻ đang chụm đầu thì thào. – Này, hai đồng chí trẻ kia ơi! Tiểu đội TNXP phụ trách đoạn đường này đi đâu cả rồi?

Không nghe trả lời. Điếc cả hay sao? Tôi gọi to lần nữa. Đến lúc đó, cả hai cái đầu mới ngẩng lên. Chỉ nhìn thấy khuôn mặt và cái nhìn của họ, tôi đã rụng rời. Một sự kiện hãi hùng, một tổn thất lớn lao. – Hy sinh rồi! Một quả bom tấn đã rơi đúng đội hình, tất cả đã bay xuống vực – Một trong hai người giọng trầm buồn, cố nén, nói với tôi như vậy. Tôi hét lên, bịt chặt lấy hai tai. Rồi tôi nhảy nhót như một kẻ điên. Dũng ơi! Hoa ơi! Thịnh ơi, Loan ơi!… Tôi gọi tên từng người, những cái tên vừa mới quen biết trong tiểu đội của Dũng. Những khuôn mặt trẻ trung, những ánh nhìn đằm thắm chan hòa, những khuôn ngực căng phồng tràn căng sức trẻ, giờ đâu cả rồi?

Tôi nhìn sang phía vực sâu, chỉ thấy một khoảng trống tối đen thăm thẳm như địa ngục. Tôi gào lên: “Dũng ơi! Em đây! Chinh đây”… Tiếng gọi của tôi vọng xuống vực sâu, dội lên, đập vào vách đá, phản hồi lại thứ âm thanh ong ong u u, vừa thống thiết, vừa ma quái.

Còn biết làm gì hơn nữa? Không thể dừng lại lâu vì phía sau, đoàn xe đang sốt ruột chờ. Tôi bậm môi. Nước mắt chảy ngược vào tim lạnh buốt, rần rật. Tôi giơ tay lên ngực, cố níu giữ lấy trái tim đang thổn thức. Chiếc xe như cũng đồng cảm với tôi. Tiếng máy rú lên, rin rít, quằn quại, đớn đau…

*
Sau chiến tranh, tôi xuất ngũ với quân hàm thượng sỹ. Hai mươi sáu tuổi, với một đứa con gái, chưa phải là già nhưng cũng không là trẻ nữa. Với số điểm ưu tiên tối đa dành cho thí sinh đã từng kinh qua chiến đấu, tôi thi đậu vào trường Đại học Quân y. Trước mắt tôi, con đường mới đang rộng mở. Và trong trái tim tôi, hình ảnh Dũng vẫn chưa phai mờ…

Sự đời đâu có theo dự tính của con người. Năm thứ ba, một trung tá, trưởng khoa trong trường chết vợ ngỏ lời với tôi. Ngày ấy, trung tá là sỹ quan trung cấp, lại là phó tiến sỹ khoa học là ghê gớm lắm. Tầm đó, chết vợ một lần chứ hai ba lần thì vẫn là giấc mơ của nhiều thiếu nữ. Tôi đã định nhận lời rồi, song chẳng biết lý do gì, tôi lưỡng lự và trả lời nước đôi với anh ta: “Thầy đợi em ra trường. Hiện giờ em chưa tính đến việc đó”. Trung tá trưởng khoa đồng ý. “Anh sẵn lòng chờ, hai năm nữa có là bao xa?”. Vì là đảng viên, tôi được cử làm bí thư đoàn trường, ủy viên chấp hành Đảng bộ. Hàng tháng, tôi vẫn thường dự các cuộc hội nghị với các thầy cô là giáo sư tiến sỹ.

Cứ cái đà ấy, ra trường, con đường thăng tiến của tôi chắc không đến nỗi nào. Tôi sống lặng lẽ, kín đáo, tỏ vẻ con người từng trải. Thầy cô và các bạn sinh viên đều quý trọng tôi. Nhưng trong lòng tôi vẫn thấy thiêu thiếu một cái gì đó. Nhiều đêm trong giấc mơ, tôi mơ gặp Dũng. Anh vẫn trẻ trai và cười tươi như ngày đầu mới gặp. Dũng của tôi vẫn còn sống. Không hiểu sao, tôi luôn nghĩ như vậy.

Năm cuối cùng, tôi làm nhóm trưởng dẫn đầu nhóm sinh viên đi thực tập tại một viện quân y, đồng thời làm luận án tốt nghiệp dưới sự hướng dẫn của trưởng khoa – trung tá, phó tiến sỹ. Được quan sát, chứng kiến và thực hành những ca mổ phức tạp của những bác sỹ chuyên khoa, tôi trưởng thành nhanh chóng. Chúng tôi được phân công theo dõi, trực tiếp điều trị cho bệnh nhân như một bác sỹ thực thụ. Quân y viện lúc này không còn như thời chiến tranh. Ngoài việc điều trị và chăm sóc cho các quân nhân, bệnh viện còn mở phòng khám và điều trị cho dân, gọi là Bệnh viện Quân dân y. Thời đó đang còn chế độ bao cấp. Tiêu chuẩn chế độ của sinh viên trường y, gạo thịt, đường sữa khá đầy đủ. Tôi thường để dành từng cân tem phiếu giúp đỡ những bệnh nhân nghèo. Họ lấy tem gạo đó để mua bánh mỳ ở căn-tin bệnh viện.

Vì ở xa nhà nên chủ nhật, tôi thường nhận trực hộ cho các bạn nhà ở gần. Khoảng 8 giờ sáng hôm ấy, người dân cáng đến một bệnh nhân nam. Anh ta bị gẫy đùi phải cùng với đa chấn thương phần mềm. Ca chấn thương khá phức tạp. Phải tiến hành thăm khám sơ bộ xem có tổn thương nào ảnh hưởng đến tính mạng không đã? Sau đó mới chiếu chụp, xác định vết thương thực thể. Bị thương thế mà anh vẫn tỉnh táo, nói cười như không. Theo lời người nhà đi theo thì nạn nhân bị ngã khi đang làm việc trên giàn giáo ở độ cao hơn 8 mét. Từ giàn giáo thứ hai, va vào giàn giáo thứ nhất rồi mới rơi xuống đất. Đọc cái tên trong bệnh án, địa chỉ nơi cư trú của người bị nạn, tôi sững sờ đến một phút. Tên và địa chỉ, ghi hệt như trong mảnh giấy Dũng Phệ dúi vào tay tôi hơn 8 năm về trước.

Dũng ư? Tôi nhìn vào khuôn mặt không phải băng bó. Trong tích tắc, hai ánh mắt gặp nhau và cùng lóe lên như tia chớp. Kinh ngạc và xúc động. Đúng là Dũng và Dũng cũng đã nhận ra tôi. Tôi ôm lấy Dũng, nước mắt chứa chan. Dũng cũng quên cả thân mình đang bị thương nặng, quàng tay ôm lấy tôi khiến cho những người đi theo không hiểu đầu cua tai nheo ra làm sao nữa.

Sau đó là những ngày tôi ở bên Dũng. Anh kể lại cho tôi nghe giây phút thoát chết rất kỳ lạ ngày ấy. Lần cả tiểu đội của anh bị bom nổ hất xuống vực sâu như những chiếc lá cuối thu. Nhưng may mắn làm sao, anh rơi trúng vào đám dây rừng đan nhau chằng chịt, chăng giữa các ngọn cây giống như một chiếc lưới tự nhiên. Anh tỉnh dậy, thấy mình bị treo lơ lửng, xung quanh là lũ khỉ đang nhìn anh chòng chọc, có con kêu ré lên. Khi đã bình tĩnh trở lại, anh quan sát xung quanh không giấu nổi sự thất vọng. Bốn bề vách đá cao sừng sững. Anh tụt xuống gốc cây lần mò tìm đường thoát. Có khỉ sống ở đây, dứt khoát sẽ có đường thoát ra… Ở đáy vực sâu, con đường thoát không thể leo lên miệng vực mà phải lần theo hang động, lần theo mạch nước chảy. Nước thoát đường nào thì con người ra lối ấy. Anh tự nhủ.

Ngày hôm sau, anh đi lạc vào một cái hang đá lớn có không biết cơ man nào là khỉ, đúng là vương quốc khỉ. Thấy anh đến, lũ khỉ không những không sợ mà còn ngồi vây quanh nhìn anh chòng chọc – Anh kể. Chiến tranh bom đạn ác liệt thế mà sao lũ khỉ ở đây vẫn đông đúc và không hề hấn gì. Có một con khỉ chúa “cảm tình” với anh. Nó rất muốn gần gũi với anh, hái quả rừng mang đến cho anh ăn. Nhờ nó dẫn đường mà anh đến một nương ngô của đồng bào Pa Kô, anh thoát khỏi vương quốc khỉ. Tôi không tin lắm lời Dũng kể. Mặc kệ anh, chỉ biết là Dũng của tôi vẫn còn sống. Sau khi vết thương ổn định, Dũng đưa tôi về quê anh, một vùng quê nghèo ở miền Tây Thanh Hóa. Bố mẹ anh đã già, cô em gái vừa cưới chồng. Sau chiến tranh, anh giải ngũ về quê, hàng ngày theo tốp thợ đi xây, kiếm tiền nuôi cả gia đình…

Rồi chúng tôi cưới nhau. Một năm sau, Dũng xin làm nhân viên bảo vệ ở một cơ quan dân chính gần Quân y viện nơi tôi công tác…

Thấm thoắt thế mà gần nửa thế kỷ trôi qua. Tôi và Dũng bây giờ đã là ông bà của 4 đứa cháu nội ngoại. Chúng tôi đã sắm được ô tô. Thi thoảng tôi vẫn cầm vô-lăng đưa ông và cháu nhà nó đi du ngoạn. Mỗi lần qua ngã ba thành phố, nơi giao nhau với con đường mòn, nay là đại lộ Hồ Chí Minh, trước mắt tôi vẫn hiện lên rõ mồn một cung đường máu lửa ngày xưa. Hình ảnh Dũng Phệ nằm đè lên người tôi sau tiếng bom nổ, cái miệng cười ngoác, mẩu giấy tỏ tình, lại hiện lên trước mắt tôi. Và, như một phản xạ tự nhiên, tôi nới nhẹ chân ga cho chiếc xe đi chậm lại, kéo dài thêm chút nữa dòng hồi ức chiến tranh, mối tình cảm động của vợ chồng tôi, suốt đời không thể nào quên…

3/2017

Trịnh Tuyên
(Hội VHNT Thanh Hóa)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 447

Ý Kiến bạn đọc