Một góc làng quê

Cua đồng ngày mưa

Nhớ ngày thơ ấu, những ngày mưa dầm dề, lũ trẻ trong xóm tôi thường rủ nhau đi bắt cua đồng. Bất chấp trời đổ mưa ào ào như trút nước, đứa này réo đứa kia, chạy qua từng nhà, hẹn tập kết giữa sân làng rồi kéo nhau chạy về hướng đê, nơi có những cánh đồng vừa mới gặt xong. Đứa nào cũng ở trần, mặc chiếc quần đùi vá lỗ chỗ, tay cầm cây móc và chiếc xô nhựa to gần bằng thân mình. Buồn cười nhất là có thằng mặc chiếc quần lỏng dây thun, bị nước mưa nặng hạt nên chạy một chút là quần tuột, phải tìm dây chuối xiêm khô buộc ngang eo cho chắc.

Ra đến đê, mỗi đứa tản ra một nơi để tìm hang cua mà bắt. Cánh đồng làng vừa mới gặt xong, mùi rạ còn thơm ngai ngái. Đặt chiếc xô xuống đất, tôi men theo triền đê, bờ đất tìm hang. Hang ở ngoài đồng rất nhiều, có thể là hang chuột, hang rắn nên bọn trẻ chúng tôi rất cẩn thận xem kỹ. Nhờ đã học được kỹ năng này từ người lớn từ lúc 4 – 5 tuổi nên tôi dễ dàng nhận ra đâu là hang cua. Ở hang chuột, bao giờ cũng có đống đất nhỏ trước miệng hang với những viên đất tròn vo như viên bi. Trong khi hang rắn nhỏ, gọn, bóng nhẵn ngoài thành hang. Riêng hang cua thì to, theo kiểu hình ô-van (do càng chúng dềnh dàng, bò ngang). Tuy nhiên, vẫn cần cảnh giác vì có thể hang nào cũng có rắn, do chuột hoặc cua “bỏ nhà ra đi”. Vì vậy cây móc được ra đời. Cây móc là một thanh tre dài chừng 500cm, trên đầu là một thanh chì cứng uốn cong, buộc chặt vừa làm nhiệm vụ móc cua ra khỏi hang vừa không bị rắn cắn (hoặc cua kẹp).

So-516--Anh-minh-hoa---Cua-dong-ngay-mua---Anh-1

Với chút ít kinh nghiệm non nớt như thế, tôi với đám bạn trong xóm vẫn dễ dàng bắt được những chú cua bướng bỉnh. Khi móc cua ra khỏi hang, tôi nhanh tay chụp mai cua để cua không kẹp, rồi bỏ vào xô nhựa. Do thành xô cao, chú cua ngọ nguậy một hồi rồi bất lực. Cứ thế, từng chú cua thả vào xô cho đến khi xô đầy ắp cua. Thích nhất là bắt được những chú cua đực càng to hay cua sữa (cua đang trong giai đoạn lột vỏ). Những chú cua lột rất hiền, nằm im, chỉ cần cho tay bắt và để riêng trong một bịch xốp (tránh vỡ sữa) mang về nhà hấp, ăn vừa ngon vừa bổ dưỡng. Sau một hồi bắt cua chán chê, bọn trẻ chúng tôi xúm lại, để xô trên đê rồi nhảy ùm xuống sông tắm cho sạch bùn đất, trước khi về nhà.

Cua đồng không to và ngon bằng cua biển nhưng vẫn có thể chế biến ra nhiều món ăn hấp dẫn: nướng thô (tức lùi vào than củi), nấu cháo, riêu, kho, xào, canh… Bao giờ cũng vậy, khi mang xô cua về tới nhà là tôi vặt ngay những chiếc càng cua đem nướng, nói về độ chắc và ngọt thì càng cua đồng hơn cua biển nhiều, vì vậy mà giá càng cua đồng hiện nay rất đắt. Khi mùi thơm thoảng lên mũi, nhìn vào mớ than củi thấy càng cua nứt, nám nâu là biết chín tới. Không nên để quá chín vì lúc ấy thịt khô khốc, mất ngon. Thân cua thì “xử” sao đây? Do ngày đó cảnh nhà khó khăn, thiếu ăn, nên mẹ thường suy nghĩ ra nhiều món để cả nhà không ngán. Món kho được mẹ làm nhiều nhất. Một phần cả nhà thích (vì nước kho có thể trộn với cơm ăn), phần còn lại là mẹ muốn mọi người ăn mặn uống nước nhiều no bụng để quên đi cái đói. Cua được mẹ loại bỏ ngoe, mai (mang cho vịt ăn), chỉ lấy phần thịt. Sau khi rửa sạch, mẹ ướp theo kiểu kho quẹt rồi cho vào nồi đất, mang lên bếp than kho. Nồi đất mà kho cua đồng thì thơm ngon khỏi chê. Hương vị món ăn cứ bám lấy quanh thành đất sét nên món ăn rất đậm đà. Dù vậy, nồi đất lâu nóng, phải nhóm lửa trong khoảng thời gian 10 – 15 phút thì nồi mới chịu nóng bùng. Thân cua đồng ít thịt, nhưng được cái là giàu canxi. Vị nước kho thấm vào cua, cho vào miệng nhai rạo rạo rất… sướng. Cứ thế cho đến khi chiếc nồi đất chỉ còn váng lại một ít nước kho. Mẹ lại cho một vá cơm vào đó, trộn lên cho tôi ăn. Vị cua đồng kho quẹt thơm ngon và lạ lắm, không thể tả được bằng lời. Cũng có những lần mẹ rảnh rang, đem cua đi giã nhuyễn để làm riêu hoặc nấu nồi canh chua cua to chảng để dùng cả ngày. Nói chung qua đôi tay mẹ, món gì cũng ngon. Dù vậy ba mẹ chẳng khuyến khích tôi đi bắt cua đồng giữa trời mưa vì sợ bệnh, sợ rắn cắn và sợ đuối nước khi tắm sông.

Rồi những ngày dầm mưa đi bắt cua đồng thưa dần, xa dần khi bọn trẻ con chúng tôi khôn lớn, trưởng thành. Mỗi đứa giờ một nơi xa, làm những công việc khác nhau: nhân viên văn phòng, công chức, kỹ sư, bác sĩ, thợ hồ, công nhân… nhưng khi có dịp họp mặt đều hòa đồng, vui vẻ nhắc về quá khứ, cái thời mặc quần vá đi móc cua đồng, đứa nào cũng cười ngặt nghẽo. Để rồi ngay sau những tiếng cười ấy là những tiếng thở dài luyến tiếc quá khứ tươi đẹp. Giờ, những con đê sình đất được tráng nhựa tinh tươm. Cánh đồng lúa cũng thu hẹp dần, nhường chỗ cho nhà máy, xí nghiệp. Cua đồng ngày mưa giờ chỉ còn trong những câu chuyện của chúng tôi. Chao ôi, cứ hễ nghĩ tới là bổi hổi bồi hồi!

Trần Thái Học
(Huyện Mỏ Cày Nam – Bến Tre)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 516

Ý Kiến bạn đọc