Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Cụ Đồ Chiểu có làm thơ khóc thương Phan Thanh Giản?

Tuần báo Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh số 462, ngày 10/8/2017 có bài “Sự thật lịch sử chỉ có một” của tác giả Nhị Hà phản bác lập luận bênh vực Phan Thanh Giản của nhà văn Hoàng Lại Giang đăng trên Tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam và trên Website Văn nghệ Sông Cửu Long.

Xin thưa, chuyện Phan đại thần cách nay 150 năm rồi. Nước mất thì dân ta đã lấy lại được. Người chết chẳng thể sống lại hại ai. Cuộc sống bề bộn không thiếu gì nỗi buồn lo mới. Sức đâu mà nghĩ điều ân oán của chung thiên hạ? Nhưng với lịch sử còn rành rành ra đấy trên những trang giấy chưa mờ, trên những lời răn dạy truyền qua mấy thế hệ còn nghe từng hơi thở. Những con người ai dũng ai hèn. Những sự kiện đớn đau uất hận mà tiền nhân ta phải chịu. Khoảng cách giữa quá khứ và hiện tại cho phép ta có đủ độ chín, tầm nhìn để cần lên án ai và tha thứ cho ai, thậm chí cần quên đi những điều nhỏ nhặt. Với một con người đến lúc “cái quan nhận định” là đời đã có thể nói câu kết cuối cùng. Phan nhân là bậc chí sỹ, là quan đại thần trọng yếu nắm chính sự quốc gia. Người xưa nói: “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”, “Nước loạn mới biết tôi trung”. Người dân nhìn ông là bậc chí sỹ có trách nhiệm cao trước đấng quân vương, trước thần dân trăm họ; nhìn ông là trụ cột triều đình đã làm được gì lúc quốc gia vong biến? Chính sử của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đánh giá công minh: “Để mất nước, các vua nhà Nguyễn là chính phạm, các triều thần trong đó có Phan là đồng phạm. Riêng trong sự kiện để lục tỉnh Nam kỳ lọt vào tay giặc thì Phan là chính phạm”. Chữ ký của Phan, Lâm năm 1862 dâng ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, đảo Côn Lôn cho tên quan Pháp Bonard và bức công thư dụ hàng của Phan khâm sai năm 1867 để ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên lọt vào tay tướng Pháp De Lagrandière cũng như lời thú nhận trước cái chết của Hải quân Trung tướng Bonard “là người đồng chung một ý tưởng từ lâu về vấn đề lấy xứ Nam kỳ làm thực dân địa, bây giờ tử thần sẽ cho hai ta gặp mặt trong sự vĩnh cửu, sẽ sung sướng vô biên giới và tình huynh đệ không thể tan rã được”(!) còn lưu trong thư khố.

Nếu như hậu thế có ai thương ông thì hãy để ông thảnh thơi yên giấc, chớ sao lại dựng ông dậy, đưa ông ngồi vào đền thờ các bậc thánh sư thì ông đâu dám dạy ai? Và đâu dám nhìn ai khi dựng tượng ông đứng nghênh ngang trên mảnh đất thấm đẫm máu xương của bao nhiêu thế hệ bởi chính ông đã không làm tròn trọng trách trước thiên tử, thần dân?! Thế mới nên chuyện để đời soi mói. Càng làm khổ người đã khuất!

Trong lúc cả xã hội đang rất lo lắng bởi lớp trẻ thờ ơ với môn sử học mà lại có những ông thầy bảo chúng cúi đầu tạ ơn một viên đại quan ươn hèn bạc nhược trốn tránh trách nhiệm với nước với dân! Giờ đây trước lũ giặc mới hùng hổ như cọp beo, xảo quyệt như lang sói, đang lau súng mài dao trước ngõ thì lớp trẻ biết noi tấm gương nào để bảo vệ nước non này?

Trong lịch sử Việt Nam chưa có viên đại quan nào làm những việc bất minh trước Trời-Đất-Quỷ-Thần mà còn để lại bao nhiêu điều rối ren cho hậu thế như Phan Thanh Giản! Thì ra quan lớn khéo “tu” nên đã thành tinh. Chẳng những lừa được thiên hạ đương thời, lại lừa được hậu thế hàng trăm năm nữa!

Các ông Hoàng Lại Giang, Dương Trung Quốc và cả ông trùm sử học Phan Huy Lê nghĩ sao khi không chỉ một lần đưa ra lý lẽ: Nguyễn Đình Chiểu, một con người cùng thời với Phan Thanh Giản, được xem là ngọn cờ đầu của công cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ thời bấy giờ đã khóc thương khi hay tin Phan Thanh Giản mất. Nhà thơ mù đất Bến Tre bằng ngòi bút “đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” luôn có con mắt sáng khi nhìn sự việc: ông đánh giá sự hy sinh của nghĩa binh Cần Giuộc đánh đồn, cũng như khi ông làm hai bài thơ điếu Phan Thanh Giản với lời lẽ thắm thiết thương cảm lắm. Chả hiểu mấy vị có biết bào đệ của nhà thơ cũng là một nghĩa binh trong đội quân của “Bình tây đại nguyên soái” và đã “vị quốc vong thân” cùng chủ tướng, thì sao Cụ Đồ lại có thể thương khóc người đã chỉ chọc cho giặc cắt đôi khúc ruột của mình?!

Là những nhà nghiên cứu sử, các vị có từng nghĩ rằng tội ác lớn nhất của quân xâm lược dù khi chúng đã cuốn xéo đi là đã cắt đứt hoàn toàn gốc rễ văn hóa truyền thống để con cháu đời sau không tiếp thu được nguồn mạch tư tưởng sâu xa của tiền nhân, nên nỗi những người mang danh đại trí thức đọc thơ cổ Xuân-Thu như thể đọc thơ con cóc, những câu thơ “ý tại ngôn ngoại”, tưởng khen mà chê, tưởng thương mà giận, tưởng bi mà hài đến nỗi nghe người chửi mà lại rớm lệ mủi lòng!

Trên Tuần báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 55, ngày 26/3/2009, nhà giáo Phạm Thị Hảo, giảng viên môn Văn học cổ Trung Quốc tại Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh đã có bài “Viết về Phan Thanh Giản, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã dùng bút pháp Xuân Thu”, giảng giải rành mạch ý tứ thâm sâu của cách “đối” thơ Hán – Nôm là như thế nào. Xin trình toàn văn bài viết đó, các bạn đọc xem đặng phần nào hiểu ra tại sao người Nhật, người Cao Ly giữ được truyền thống dân tộc và có được những bước tiến dài. Đồng thời cũng là dịp thắp nén hương tưởng nhớ một nhà giáo lão thành khiêm nhường và tâm huyết, bởi bà đã từ biệt thế giới này 3 năm nay giữa lúc chúng ta đang rất cần những người am hiểu văn tự Hán – Nôm.

Nguyễn Văn Thịnh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 463

Ý Kiến bạn đọc