Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Công hay tội đều cần được ghi nhận đầy đủ, rõ ràng

Gần đây tôi có đọc một số bài trên tạp chí Xưa & Nay thấy có vài bài viết về nhân vật Nguyễn Ánh – Gia Long và vấn đề Nguyễn Huệ hay Nguyễn Ánh có công thống nhất đất nước. Các bài viết có nhiều điều không ổn nhưng trước mắt có hai vấn đề cần bàn:

1/ Phải xét tội của Nguyễn Ánh trong chủ trương cầu viện nước ngoài nặng, nhẹ thế nào cho thỏa đáng.

2/ Giữa Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh trong thành quả thống nhất đất nước phải ghi nhận sao cho công bằng, thấu tình đạt lý.

Vấn đề thứ nhất

Về tội của Nguyễn Ánh khi cầu viện Xiêm được cho là “điểm mờ”, là “tỳ vết” trong cả cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Ánh đã được ông Phan Huy Lê đưa ra trong tổng kết Hội thảo khoa học “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX” tại Thanh Hóa từ ngày 18 – 19/10/2008. Sau khi bản tổng kết được công bố, nhiều ý kiến phản bác về nhiều vấn đề trong đó có luận điểm về “điểm mờ”, “tỳ vết” do ông Phan Huy Lê đưa ra. Gần đây, trên Xưa & Nay số 488 tháng 10/2017 (trang 6), có bài viết của ông Vũ Văn Quân cũng nêu lại trong câu: “Về hạn chế, hành động của Nguyễn Ánh đưa 5 vạn quân Xiêm vào Gia Định là một “điểm mờ”, một “tỳ vết” (Tôi nhấn mạnh – C.Đ.T) trong cuộc đời Nguyễn Ánh; để mất nước là một trách nhiệm nặng nề không thể thoái thác và biện hộ của triều Nguyễn với cương vị triều đình nắm chủ quyền quốc gia”. Câu nầy ông Vũ Văn Quân cũng lấy lại ý kiến của ông Phan Huy Lê trong bản tổng kết của cuộc hội thảo đã nêu trên (được thể hiện trong phần ghi chú, mục số 9).

Rước giặc vào nhà mà ông Vũ Văn Quân chỉ xem đó là việc có tính “hạn chế” thì không ai có thể chấp nhận được, nhưng trong phạm vi bài viết nầy chúng tôi chỉ tập trung xem lại cái “điểm mờ” và “tỳ vết” do ông Phan Huy Lê đưa ra mà thôi.

Vấn đề cầu viện, dẫn 5 vạn quân Xiêm vào xâm lược, giày xéo nước mình, trước đây ông Phan Huy Lê có bài tham luận được in trong tập Kỷ yếu Hội nghị khoa học lịch sử nhân kỷ niệm 200 năm ngày chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút tại Tiền Giang và XB tháng 12-1984. Trong bài viết về Hội thảo khoa học “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn…” năm 2008, ông Phan Huy Lê vẫn khẳng định: “Về cá nhân trước đây khi nghiên cứu về phong trào Tây Sơn và kháng chiến chống Xiêm tôi đã từng lên án hành động này của Nguyễn Ánh và đến nay vẫn không thay đổi” (Tôi nhấn mạnh). Để có cơ sở xem xét việc đánh giá hành vi của Nguyễn Ánh theo ý kiến của ông Phan Huy Lê trước đây và hiện nay, chúng ta cần đọc lại các ý kiến của ông đã được in cách đây 34 năm nhằm đối chiếu với cái “điểm mờ” và “tỳ vết” trong cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Ánh có trung thực, khách quan, có “toàn bộ và toàn diện” như các ông đã từng khẳng định hay không?

Toàn bộ tập kỷ yếu về “Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút” có 447 trang sách khổ 13 x 19, trong đó bài tham luận của ông Phan Huy Lê được in từ trang 297 đến trang 331. Như vậy bài tham luận của ông Phan Huy Lê có 34 trang. Tôi ghi lại những câu có tính đánh giá, nhận xét về Nguyễn Ánh trong 34 trang sách đó như sau:

+ Triều Mạc thỏa thuận với nhà Minh và cắt đất cho giặc.

Chúa Trịnh bất lực để cho nhà Minh rồi nhà Thanh lấn cướp nhiều dải đất biên cương.

Nguyễn Ánh cầu cứu vua Xiêm và câu kết với chủ nghĩa tư bản phương Tây.

Lê Chiêu Thống rước quân Thanh vào giày xéo đất nước.

Đây không còn là hành vi bán nước của từng phần tử phong kiến mà là sự phản bội dân tộc của các thế lực phong kiến nắm quyền thống trị. Giai cấp phong kiến đang trải qua một quá trình phân hóa sâu sắc, trong đó từng bộ phận phong kiến cầm quyền, có tính chất đại diện, đã phản bội lợi ích dân tộc và sẵn sàng câu kết với giặc. Kẻ thù của độc lập dân tộc tìm thấy một chỗ dựa, một lực lượng nội ứng ngay bên trong cơ cấu xã hội (trang 299).

So-500--Cong-hay-toi-deu-can-duoc-ghi-nhan-day-du-ro-rang---Anh-3
Quang Trung – Nguyễn Huệ

+ Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Xiêm được bọn phong kiến phản bội Nguyễn Ánh tiếp tay, là cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc… (tr.300).

+ Với cuộc kháng chiến chống Xiêm, phong trào Tây Sơn bắt đầu tiến lên làm nhiệm vụ dân tộc, đoàn kết các lực lượng yêu nước, kiên quyết chống quân xâm lược Xiêm và bọn phong kiến phản bội Nguyễn Ánh (tr.303).

+ … Nguyễn Ánh lại tìm cách giảng hòa và cầu cứu vương triều Chakri để chống lại nhân dân, chống lại dân tộc (tr.307).

+ … Quân xâm lược lại được Nguyễn Ánh dẫn đường và được các thế lực phong kiến phản động bên trong, nhất là tầng lớp đại địa chủ ở Gia Định ủng hộ. Thế mà với chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút, quân Tây Sơn đã nghiền nát quân cướp nước và bán nước bằng một trận tiêu diệt sấm sét (tr.307).

+… Trong lúc bọn phong kiến đại địa chủ ủng hộ Nguyễn Ánh và khi quân Xiêm tiến sang lại “nô nức dấy quân cần vương” (Mạc thị gia phả – chữ Hán, chép tay, chú thích 2, tr.309) thì đại bộ phận nhân dân vùng này, qua thực tế, càng nhận rõ bộ mặt thật của quân cướp nước và bán nước (tr.309).

+ Nguyễn Ánh đã rước quân Xiêm về nước nhưng trước tội ác của chúng và lòng căm phẫn của dân chúng, sử triều Nguyễn cũng phải ghi những lời mị dân của hắn (tr.312).

+ Đó là một chiến công lớn, oanh liệt đầu tiên của nhân dân miền Nam, bất chấp những khó khăn, phức tạp của hoàn cảnh lịch sử và sự phản bội của bè lũ phong kiến trong nước… (tr.320).

(Những chữ được in đậm do tôi – C.Đ.T nhấn mạnh)

Đem những chữ của ông Phan Huy Lê đã viết trước đây như: Rước quân Xiêm về nước, sự phản bội của bè lũ phong kiến trong nước, mị dân, bán nước, chống lại nhân dân, chống lại dân tộc, lực lượng nội ứng, bọn phong kiến phản bội Nguyễn Ánh, phản bội lợi ích dân tộc, sự phản bội dân tộc, hành vi bán nước… đặt bên cạnh những chữ như: điểm mờ, tỳ vết gần đây cũng chính của ông, chúng ta thấy ông Phan Huy Lê đã quay ngược 170 độ rồi (điểm mờ và tỳ vết chắc khoảng 10 độ thôi) chứ đâu còn giữ nguyên như ông đã viết: “đến nay vẫn không thay đổi”.

Không riêng ông Phan Huy Lê đã lên án nặng nề Nguyễn Ánh mà trong toàn bộ tập kỷ yếu về chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút, tất cả các tác giả đều đã thể hiện rõ ràng quan điểm đánh giá về Nguyễn Ánh cũng như sự bóp méo, xuyên tạc của lịch sử triều Nguyễn trong nhiều nội dung khi đề cập đến vấn đề “cõng rắn cắn gà nhà, rước voi giày mả tổ”.

Bán nước, phản quốc mà chỉ là điểm mờ, tỳ vết trong cuộc đời và sự nghiệp của một người dù đó là một ông vua thì viết sử như vậy có trung thực, khách quan, có toàn bộ – toàn diện theo yêu cầu chung đã đặt ra không!? Sử mà viết như vậy thì sẽ ghi lại bài học gì cho người đọc – nhất là lớp trẻ?

Tội của Nguyễn Ánh trong việc cấu kết với giặc đâu chỉ có việc rước 5 vạn quân Xiêm vào giày xéo, giết hại dân mình.

+ Việc Nguyễn Ánh ủy nhiệm cho Bá Đa Lộc ký Hiệp ước Versailles nhượng hẳn chủ quyền cảng Hội An và đảo Côn Lôn cho Pháp, cắt đất của tổ tiên mình cho giặc mà không gọi là bán nước sao?

+ Trong lúc Nguyễn Huệ đang kéo quân ra Bắc chống quân xâm lược Thanh thì Nguyễn Ánh sai sứ thần Phan Văn Trọng và Lâm Đồ mang thư và 50 vạn cân gạo ra giúp quân Thanh. Tiếp tay cho giặc ngoại xâm – nối giáo cho giặc mà không gọi là phản quốc thì gọi là cái gì?

Những chứng cứ lịch sử như vậy đã đủ khẳng định bản chất của Nguyễn Ánh là một kẻ bán nước, phản quốc rồi, vậy mà bây giờ chúng ta còn phải tốn giấy mực để bàn về cái gọi là hạn chế, là điểm mờ, là tỳ vết của Nguyễn Ánh – để bảo vệ cho Nguyễn Ánh, giảm nhẹ tội trạng của kẻ đã chống lại nhân dân, chống lại dân tộc thì theo tôi cũng cần xem lại lập trường của người viết sử.

Vấn đề thứ hai

Trước hết chúng ta hãy trao đổi về việc vì sao chúng ta lại phải bàn về việc giữa Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh ai có công thống nhất đất nước. Nếu bằng tinh thần công tâm khách quan thì cũng đâu cần tốn giấy mực nữa (có chăng là những gì còn sơ lược, còn thiếu thì chúng ta bổ sung cho rõ thêm để bài học lịch sử thêm sinh động, có giá trị tốt hơn). Nếu không có những đánh giá nhằm mục đích đề cao người nầy, hạ thấp người kia bằng những kẻ vạch nhỏ nhen để cố sống cố chết vun đắp cho lập luận của mình kiểu như cách viết của ông Phan Huy Lê trong bài “Công cuộc khôi phục thống nhất quốc gia cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX” trong Xưa & Nay số 486, tháng 8-2017. Tôi xin trích một số câu của bài viết nầy để chứng minh cho điều đó:

+ Trong tiêu đề thứ hai: Thời Tây Sơn, đất nước chưa được thống nhất.

+ Trong 1 tháng 19 ngày, quân Tây Sơn đã xóa bỏ tình trạng chia cắt Đàng Trong – Đàng Ngoài… Như vậy, trong 31 năm lịch sử Tây Sơn (1771-1802) có 1 tháng 19 ngày, quân Tây Sơn đã làm chủ cả nước, gần như khôi phục được nền thống nhất đất nước, nhưng binh quyền bị chia xẻ, một phần thuộc Nguyễn Nhạc, một phần trong tay Nguyễn Huệ và nhà nước thống nhất chưa được thành lập. Thời gian quá ngắn và chưa đủ cơ sở để nói quốc gia thống nhất đã được xác lập.

+ Theo sử triều Nguyễn, Nguyễn Huệ còn căm giận Nguyễn Nhạc đã thông dâm vợ Huệ khi ở Qui Nhơn.

+ Trên lãnh thổ Đại Việt, đã hình thành ba chính quyền Tây Sơn.

+ Cuối năm 1786, đất nước bị chia thành ba vùng thuộc quyền cai quản của ba chính quyền Tây Sơn, trong đó có mâu thuẫn và xung đột giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ.

+ Tình trạng thực tế như vậy, không thể nói nền thống nhất đất nước đã được lập lại và cũng không thể nói Tây Sơn hay Nguyễn Huệ đã thống nhất đất nước.

+ Tây Sơn chưa thống nhất được đất nước và từ đó có người phủ nhận mọi công lao thống nhất của Tây Sơn, thậm chí còn cho rằng Trịnh Nguyễn chia nước làm hai vùng, Tây Sơn chia nước nặng nề hơn, làm ba vùng. Đặng Xuân Bảng trong Việt sử cương mục tiết yếu, cũng coi thời kỳ từ năm 1788 đến năm 1802 là thời “Tam quốc” vì nước Đại Việt thời đó bị chia làm“ba nước”: Gia Định đến Hà Tiên thuộc Nguyễn Ánh, Quảng Ngãi đến Khánh Hòa thuộc Nguyễn Nhạc, Quảng Nam đến Cao Bằng thuộc Nguyễn Quang Bình (Nguyễn Huệ).

Tôi thật sự bức xúc khi đọc những dòng trên đây, tôi đọc lại ý kiến của ông Phan Huy Lê trong tập kỷ yếu “Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút”, tôi thấy thời điểm ấy ông đâu có viết như vậy. Ngay trong đoạn mở đầu của bài tham luận ông đã viết:

“Từ đầu thế kỷ XVI, sự bùng nổ của các mâu thuẫn trên đã dẫn đến chế độ phong kiến Việt Nam vào một cuộc khủng hoảng triền miên, kéo dài, mang tính chất trì trệ, có nhiều đặc điểm khác với quá trình suy thoái và giải thể của chế độ phong kiến phương Tây.

So-500--Cong-hay-toi-deu-can-duoc-ghi-nhan-day-du-ro-rang---Anh-4
Gia Long – Nguyễn Ánh

Trước hết, những cuộc tranh chấp, xung đột quyết liệt giữa các phe phái phong kiến đưa đến một hậu quả tai hại cho đất nước: nền thống nhất quốc gia bị phá vỡ, hết Nam – Bắc triều đến Trịnh – Nguyễn phân tranh, tình trạng chia cắt kéo dài trên hai thế kỷ rưỡi (1533 – 1786). Trong hoàn cảnh dựng nước của dân tộc ta, độc lập dân tộc luôn luôn gắn liền với thống nhất quốc gia. Cảnh đất nước phân ly không những gây nhiều đau khổ cho nhân dân, cản trở sự phát triển kinh tế chung của cả nước, mà còn làm yếu thế nước, làm suy giảm sức mạnh của dân tộc. Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia đã bước đầu bị đe dọa từ trong hành động cát cứ, chia cắt đất nước của các phe phái phong kiến.

Chế độ phong kiến lại càng ngày càng khơi sâu mâu thuẫn giữa tầng lớp nhân dân với giai cấp thống trị và vương triều phong kiến. Chiến tranh nông dân bùng nổ từng đợt vào thế kỷ XVI, thế kỷ XVII rồi dâng lên như bão táp trong thế kỷ XVIII dẫn đến đỉnh cao của phong trào Tây Sơn. Các thế lực phong kiến càng ngày càng đối lập với nhân dân và đi ngược lại lợi ích tối cao của dân tộc là độc lập và thống nhất”.

Đến giờ khi đọc lại câu nầy tôi vẫn thấy thật sự xúc động vì nó rất chính xác. Nhân đây, tôi tạm đối chiếu lại với bài viết mới đây của ông Phan Huy Lê trên Xưa & Nay mà tôi đã dẫn ở trên. Vì sao bây giờ ông Phan Huy Lê lại tự phủ định mình khi ông cho rằng mốc thời gian 1786 không phải là mốc thời gian của sự thống nhất như ông đã viết ở đoạn trích trên đây (tình trạng chia cắt kéo dài trên hai thế kỷ rưỡi (1533 – 1786). Như vậy tình trạng chia cắt đất nước đến năm 1786 là chấm dứt. Bây giờ ông lại viết: “Cuối năm 1786, đất nước bị chia làm ba vùng… tình trạng thực tế như vậy, không thể nói rằng trong thời Tây Sơn nền thống nhất đất nước đã được lập lại…”.

Tôi xin được bình luận về nội dung nầy như sau:

Trước hết, chúng ta hãy cùng xem lại tại sao lại có từ thống nhất trong trường hợp nầy. Như chính ông Phan Huy Lê đã viết “nền thống nhất quốc gia bị phá vỡ” bởi Trịnh – Nguyễn phân tranh, vậy thì việc Nguyễn Huệ – sau khi đã đánh tan tập đoàn họ Nguyễn ở phương Nam rồi năm 1786 lại ra Bắc đập tan thế lực họ Trịnh chấm dứt tình trạng hơn hai thế kỷ rưỡi đất nước bị chia cắt thì rõ ràng Nguyễn Huệ chính là người đã xóa bỏ tình trạng chia cắt đó thì không phải Nguyễn Huệ có công thống nhất đất nước theo nguyện vọng của cả dân tộc thì ai là người có công nầy trong thời điểm đó? Tôi xin trích thêm một số đoạn viết của ông Phan Huy Lê cách đây 34 năm như sau:

+ Nhưng rồi trước nạn xâm lược của nước ngoài và họa đất nước bị chia cắt, phong trào Tây Sơn đã phát triển thành một phong trào dân tộc, làm nhiệm vụ bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất đất nước (C.Đ.T nhấn mạnh. Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút, tr.301).

+ Trên cơ sở đó, năm 1786 quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy, bất chấp sự hạn chế của Nguyễn Nhạc, đã tiến ra đàng ngoài, lật đổ chế độ chúa Trịnh, xóa bỏ tình trạng chia cắt, lập lại quốc gia thống nhất (C.Đ.T nhấn mạnh). Phong trào Tây Sơn là phong trào nông dân duy nhất trong lịch sử, khi chưa có một giai cấp lãnh đạo, đã lan rộng trên quy mô toàn quốc và làm nhiệm vụ khôi phục quốc gia thống nhất (C.Đ.T nhấn mạnh), dù sự nghiệp thống nhất đó chỉ mới bước đầu và còn những hạn chế khách quan, chủ quan (RG-XM, tr.314).

+ Đó cũng là bước chuyển biến lớn lao, đưa phong trào Tây Sơn tiến lên những đỉnh cao mới của phong trào dân tộc, bên trong thì đánh bại thù trong giặc ngoài, bảo vệ độc lập dân tộc, khôi phục quốc gia thống nhất (C.Đ.T nhấn mạnh, RG-XM, tr. 320).

Vậy mà đến nay ông Phan Huy Lê lại cho rằng phải đến năm 1802 và phải có cuộc đấu tranh đó (tức đánh bại Tây Sơn, C.Đ.T) của Nguyễn Ánh mới dẫn đến sự nghiệp thống nhất đất nước đầu thế kỷ XIX. Tôi cho rằng đây là việc cướp công của Tây Sơn đem dâng cho Nguyễn Ánh.

Viết tới đây tôi tự hỏi vì đâu nên nỗi!? Gió đã đổi chiều chăng? Điều nầy tôi đã biết từ năm 2011 khi ông Phan Huy Lê tỏ rõ quan điểm của mình là sẽ “vượt qua được mọi rào cản về ý thức hệ” khi viết sử nhưng khi gặp những câu, những ý của ông lại trùng với những nội dung mà Tạ Chí Đại Trường đã viết trong “Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802”, XB tại Sài Gòn năm 1973, tôi thật sự bị sốc. Hơn ai hết ông Phan Huy Lê thừa biết Tạ Chí Đại Trường là ai và quyển “Lịch sử nội chiến…” có nội dung thế nào rồi. Trước đây ông Phan Huy Lê và Tạ Chí Đại Trường ở hai chiến tuyến, nếu đem bài tham luận về chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút của ông Phan Huy Lê đặt cạnh quyển “Lịch sử nội chiến…” của Tạ Chí Đại Trường nếu sách mà có tay chân thì chắc không khỏi chuyện đánh nhau.

Ai có quan tâm ít nhiều đến sử học đều biết quyển “Lịch sử nội chiến…” của Tạ Chí Đại Trường có nội dung rất xấu. Tôi chỉ xin trích vài câu trong bài tham luận của tác giả Phan Đại Doãn cũng được in trong tập kỷ yếu “Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút”:

+ Giới sử học miền Nam cũ cũng đã để nhiều bút mực nghiên cứu nó. Có bài viết đã cung cấp một số tư liệu mới, đề ra ít nhiều nhận định đúng đắn, khách quan. Nhưng cạnh đó cũng không ít tác giả tìm cách bóp méo lịch sử bằng những lập luận khác nhau, thậm chí còn nhằm phục vụ cho ý đồ chính trị đen tối. Tiêu biểu cho những người này có Nguyễn Phương và Tạ Chí Đại Trường.

+ Theo tác giả (tức T.C.Đ.T – C.Đ.T), chiến tranh từ 1771 đến 1802 chỉ là một sự tiếp nối phân tranh của Đại Việt, chỉ là nội chiến của một bên là Tây Sơn man rợ “có tính chất rừng rú thật đặc biệt” (tr.39) với một bên là Nguyễn Ánh văn minh “đã làm dồi dào sinh lực quốc gia” (tr.39).

+ “Họ đi từ rừng núi phía Tây, lấy sức mạnh cường bạo của đám người Thượng, Trung Hoa khách thương liều lĩnh, nông dân Việt đi khai phá đất hoang tâm tính trở thành hung dữ rồi truyền tấm lòng hăng hái nhiệt thành, tính chất vong mạng đó cho dân đồng bằng hiền lành chân chất gây nên cuộc đảo lộn dữ dội trong nước” (tr. 212).

+ Tạ Chí Đại Trường còn mạt sát Tây Sơn là những con người “hiếu sát” (tr.135), Tây Sơn phải đánh ồ ạt để lấp liếm cái yếu kém kỹ thuật của họ cho nên họ phải tàn sát (tr.136), chiến tranh tàn sát vẫn là vết nhơ cho Tây Sơn (tr.135).

+ Trong khi không tiếc lời mạt sát Tây Sơn, xuyên tạc ý nghĩa lịch sử của phong trào Tây Sơn thì Tạ Chí Đại Trường lại tô vẽ cho Nguyễn Ánh – Gia Long những hào quang sáng chói, đẹp nhất thế kỷ (CT RG-XM, tr.325).

+ Trong tiến trình lịch sử cụ thể thì Nguyễn Ánh là người nhiều công lao nhất: chấm dứt nội chiến, thống nhất quốc gia (CT RG-XM, tr.325).

+ Thực chất tập sách “Lịch sử nội chiến…” của T.C.Đ.T nhằm phục vụ cho ngụy quyền Sài Gòn trước đây là như vậy (CT RG-XM, tr.331).

Tôi trích những câu trên nhằm cho chúng ta cùng thấy được bộ mặt thật của Tạ Chí Đại Trường và bản chất tráo trở, nguy hiểm của một người viết sử trước đây. Vậy mà bây giờ ông Phan Huy Lê lại lặp lại luận điệu sai trái đó khi cho rằng Nguyễn Ánh mới là người thật sự có công thống nhất đất nước. Ngoài ra, trong bài viết của ông Phan Huy Lê cũng có một số chi tiết thống nhất với Tạ Chí Đại Trường như:

+ Khi Tạ Chí Đại Trường viết: “May mắn cho Nguyễn Ánh hơn nữa là việc chia ba đất nước đã giúp Ánh ngăn cách với kẻ thù nguy hiểm nhất của ông”, hoặc: “Trở lại thời phân làm ba của Tây Sơn…” thì ông Phan Huy Lê viết: “Cuối năm 1786, đất nước bị chia làm ba vùng của ba chính quyền Tây Sơn…”, hoặc lấy ý kiến của Đặng Xuân Bảng trong Việt Sử cương mục tiết yếu: “Từ năm 1788 đến 1802 là thời “Tam quốc” vì nước Đại Việt thời đó bị chia làm “ba nước”…”. Mục đích của việc nêu những hiện tượng có thật nhưng bị cường điệu lên đó để cho rằng Tây Sơn không có tích sự gì hoặc có cũng không đi tới đâu trong thành quả thống nhất đất nước.

Làm gì có chuyện ba chính quyền, ba nước. Thực chất của việc phân công giữa ba anh em Tây Sơn là theo thực tế của phong trào Tây Sơn trong thời chiến, dĩ nhiên phải có bộ máy hành chính để làm việc nhưng đó đâu phải là ba triều đình của ba ông vua. Bằng chứng là chính trong bài viết của ông Phan Huy Lê có trích một đoạn trong bài hịch chuẩn bị ra quân vào Nam đánh Nguyễn Ánh năm 1792 của Nguyễn Huệ như sau: “Giờ đây, tuân thủ đức Hoàng huynh, ta sửa soạn một đạo thủy bộ hùng binh và sẽ thân hành kéo vào đánh bại quân giặc dễ như bẻ gãy cành khô củi mục…, ta sẽ lấy lại trong nháy mắt để cho mọi người biết rằng chúng ta cùng chung một dòng máu…”. Chúng ta không phủ nhận giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ có bất hòa đến mức đánh nhau nhưng không thể vì vậy mà phủ định công lao của Nguyễn Huệ xóa bỏ cảnh Nam Bắc phân tranh để thống nhất đất nước. Làm gì có chuyện ba nước, dù Nguyễn Ánh có chiếm lại được Gia Định sau hơn hai năm chạy trốn qua Xiêm, trong thời điểm đó lực lượng của Nguyễn Ánh cũng chỉ khá hơn bọn thổ phỉ một chút thôi chứ đâu phải như Tạ Chí Đại Trường đã đề cao quá mức khi cho Nguyễn Ánh lúc đó là “ông vua chính thức” (Lịch sử nội chiến…, tr.153).

+ Khi Tạ Chí Đại Trường viết: “Nguyễn Ánh có con đường thật dài, thật đầy gian nan mà cũng đầy vinh quang đã tìm cho đất nước con đường thoát trong thống nhất và yên nghỉ, mở ra một giai đoạn Nguyễn Ánh – Gia Long (Lịch sử nội chiến…, tr.329) thì ông Phan Huy Lê viết: “Đó là cuộc chiến kéo dài 14 năm rất gian khổ với nhiều bước thăng trầm rất ác liệt. Đánh bại Nguyễn Lữ năm 1787 rồi tiến lên đánh bại Nguyễn Nhạc năm 1793 sau khi Quang Trung từ trần và cuối cùng đánh bại chính quyền Tây Sơn cuối cùng của Nguyễn Quang Toản. Chính thắng lợi của cuộc chiến tranh nầy mới đưa tới sự thống nhất đất nước”.

+ Khi Tạ Chí Đại Trường viết: “Sử quan nhà Nguyễn khi bàn về chỗ nầy quy tội thật nhiều cho Nguyễn Nhạc. Họ cho rằng từ lúc đánh Bắc Hà thắng, Nhạc đắc chí ngày càng buông thả dâm loạn, giết Nguyễn Thung, người cộng sự lúc đầu, lại hiếp vợ Huệ, “người người đều ghê tởm”. Trong chuyến Bắc xâm, vàng bạc quý giá của Trịnh phủ Huệ lấy, Nhạc đòi không cho Huệ và ông còn tranh chiếm đất Quảng Nam nữa. Do đó chiến tranh mới nổ bùng” thì ông Phan Huy Lê viết: “Từ khác biệt và mâu thuẫn về chí hướng, nay lại thêm mâu thuẫn trong phân chia chiến lợi phẩm và định ranh giới phân chia đất đai. Theo sử triều Nguyễn, Nguyễn Huệ còn căm giận Nguyễn Nhạc đã thông dâm vợ Huệ khi ở Qui Nhơn. Nguyễn Huệ đem quân vào vây hãm thành hoàng đế”.

Cả Tạ Chí Đại Trường và ông Phan Huy Lê đều ghi là theo sử triều Nguyễn hoặc sử quan nhà Nguyễn, chúng ta đều biết triều Nguyễn coi Tây Sơn là kẻ thù truyền kiếp nên việc bịa ra để bôi xấu các lãnh tụ Tây Sơn là việc đương nhiên. Còn đối với Nguyễn Ánh thì cũng không thiếu chuyện bịa để tán dương. Ví dụ như chính Tạ Chí Đại Trường cũng nêu lại việc sử quan nhà Nguyễn ghi lại việc khi qua sông, Nguyễn Ánh được con trâu đưa đi, đến khi nước chảy quá mạnh, trâu chìm thì may mắn được con cá sấu đưa tiếp qua sông. Nếu có chuyện Nguyễn Ánh cỡi cá sấu qua sông thì chúng ta đâu phải tốn công, tốn sức biện luận mất thì giờ.

Việc bôi xấu Tây Sơn là mục đích của Tạ Chí Đại Trường, thêm một ví dụ nữa khi Tạ Chí Đại Trường viết: “Trong một quyển dã sử còn lại, có một vài nét về Nguyễn Huệ có vẻ thực lắm: “Tóc Huệ quăn, mặt mụn đầy, có một con mắt nhỏ…” (Lịch sử nội chiến… Tr.271). Mặt mụn, hai mắt không đều thì dung mạo xấu rồi, còn tóc quăn thì có dụng ý cho rằng Nguyễn Huệ thuộc dân tộc ít người ở miền núi cho hợp với câu đã viết trước đó: “Nguyễn Huệ tuy cầm quân nhiều lần, tuy làm em vua một cõi, có lúc hãnh diện là “kẻ bố y” nhưng không thoát khỏi mặc cảm làm kẻ mường mán trong hang hốc xa xôi”. Vậy mà ở những đoạn trích trên đây khi tôi có ý đối chiếu giữa ý kiến của Tạ Chí Đại Trường và ý kiến của ông Phan Huy Lê, chúng ta thấy cả hai đã như hình với bóng. Điều đó được thể hiện trong nhận xét của ông Phan Huy Lê về Tạ Chí Đại Trường qua báo Thanh niên – ở trang 19, ngày 16-9-2016 như sau: “Tạ Chí Đại Trường là một nhà sử học có tính độc lập, phong cách riêng trong nghiên cứu lịch sử. Ông có những công trình nghiên cứu sâu sắc trên phương pháp luận sử học nghiêm túc mà tiêu biểu là Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802. Các tác phẩm của Tạ Chí Đại Trường mang nặng tính suy ngẫm lịch sử, gần như một thứ triết lý lịch sử như những bài dã sử Việt hay Thần, người và đất Việt. Tạ Chí Đại Trường luôn nhìn lịch sử Việt Nam với tấm lòng của một người Việt Nam”. Với cách nhìn người và cách đánh giá tác phẩm như vậy, nên ở nội dung ai có công thống nhất đất nước, tôi thấy ông Phan Huy Lê đã xoay đủ 180 độ rồi.

Không thể đánh tráo khái niệm phản quốc, bán nước thành điểm mờ, tỳ vết; không thể cướp công thống nhất đất nước của một anh hùng dân tộc trao lại cho một kẻ manh tâm “cõng rắn cắn gà nhà, rước voi giày mả tổ”. Chúng tôi rất mong các cơ quan có thẩm quyền xem xét lại việc nầy, không để những quan điểm lệch lạc chi phối nội dung của bộ Quốc sử Việt Nam.

27-5-2018

Cao Đức Trường
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM sô 500

Ý Kiến bạn đọc