Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Công đức của gia đình nhà văn Nguyên Hồng

Nếu công đức là những việc làm đem lại lợi ích cho cộng đồng thì gia đình nhà văn Nguyên Hồng có công đức rất lớn cho đời sống văn hóa dân tộc. Đó là sự nghiệp sáng tạo đồ sộ, là nhân cách văn hóa cao cả của ông. Nhưng có được một Nguyên Hồng vĩ đại như thế là nhờ có vợ và các con của ông. Bà Nguyên Hồng và các anh chị Hà Giang – Sơn – Thanh Thư – Nhã Nam – Yên Thế và Diệu, đã chấp nhận, chịu đựng sống những năm tháng vô cùng cực khổ để Nguyên Hồng giữ được khí tiết trong sáng, cao thượng của một nhà văn chân chính.

Trong Lời bạt của Nhật ký Nguyên Hồng, GS. Phong Lê đã lẩn tránh một sự thật quan trọng nhất:

“Cũng cần nói thêm, ở tuổi ngoài 50, Nguyên Hồng đã xin nghỉ hưu, sau khi cả nhà, vợ chồng con cái cùng dắt díu nhau kéo từ Hà Nội trở lại ấp Cầu Đen, Tân Yên. Ông chán cảnh căng thẳng nơi thành phố một phần, nhưng cái chính là ông cần tập trung tâm sức, thời gian cho việc hoàn thành bộ Cửa biển, cuốn sách về Hải Phòng, quê hương thứ nhất của ông, về món nợ cho cả một đời văn của ông” (Nhật ký Nguyên Hồng, Lời bạt, Phong Lê, trang 643, NXB Trẻ – 2018).

Viết như thế là sáo và còn sơ suất lắm. Ở bìa gấp ghi rõ: Nguyên Hồng sinh ngày 5-11-1918 tại Nam Định. Đến năm 1935, cùng mẹ ra Hải Phòng kiếm sống. Tức là năm 17 tuổi, Nguyên Hồng mới rời quê Nam Định ra Hải Phòng. Vậy thì nên có mở ngoặc phân biệt quê quán và quê hương. Nhưng quê quán với quê hương cũng là một, vậy phải nói rõ quê hương văn học thứ nhất ở Hải Phòng, thứ nhì ở Bắc Giang!

Cũng không phải ông xin nghỉ hưu sau khi cả nhà “dắt díu nhau” trở lại ấp Cầu Đen. Mà đây là “Cuộc chuyển dời lịch sử” như chính các con ông đã xác nhận (Nhật ký… Sđd. Trg.198). Đây có thể xem là sự kiện, là bước ngoặt bộc lộ nhân cách văn hóa cao cả, trong sáng của nhà văn Nguyên Hồng. Không hiểu “Cuộc chuyển dời lịch sử” này hoặc lẩn tránh nó, sẽ không hiểu, không đánh giá được giá trị lớn lao của Nguyên Hồng.

So-525--Cong-duc-cua-gia-dinh-nha-van-Nguyen-Hong---Anh-1
Gia đình nhà văn Nguyên Hồng (nguồn: nguoihanoi.com.vn).

Thực hư như thế nào? Các con của Nguyên Hồng cho biết:

“Cuộc chuyển dời lịch sử. Vào năm 1958, tiếp theo vụ Nhân văn – Giai phẩm là vụ kiểm điểm báo Văn do cha tôi làm tổng biên tập. Sau nhiều ngày học tập, họp hành liên miên, kiểm điểm, phê bình tư tưởng các văn nghệ sỹ ở ấp Thái Hà, “không khí trong anh em rã rời, buồn bã vẩn vơ, mỗi người co về một xó” (chữ của Tô Hoài).

Báo Văn bị kiểm điểm suốt nhiều ngày vì đã cho đăng bài “Tổ chức phát triển lực lượng sáng tác trước nhất” và bài “Góp ý về vấn đề con người mới” của Tô Hoài, truyện ngắn “Ông Năm Chuột” của Phan Khôi với rất nhiều ý kiến, “Lời mẹ dặn” của Phùng Quán, kịch “Cơm mới” của Hoàng Tích Linh, “Ngày giỗ đầu” của Chu Ngọc… là những tác phẩm gợi lại vết thương Cải cách ruộng đất. Truyện ngắn “Đống máy” của một tác giả trẻ còn bị qui là nói xấu sự nghiệp phát triển công nghiệp và tình hữu nghị quốc tế!…

“Nguyễn Đình Thi kết luận: Báo Văn xa thực tế vì vắng chủ đề. Nguy hại. Còn Tố Hữu thì nói: Không làm theo yêu cầu của Đảng, chủ trương quan điểm đối lập Đảng. Con người sai lạc” (Nhật ký Nguyên Hồng, ngày 6-9-1957).

Hoài Thanh và Lưu Trọng Lư đề nghị đưa Tô Hoài và Nguyên Hồng ra khỏi Ban chấp hành, ra khỏi Hội Nhà văn. Trong các cuộc kiểm điểm, cha tôi dứt khoát không bao giờ nhận mình có lỗi lầm gì với Đảng, vì thực là như vậy. Ông: “xòe bàn tay lên chồng báo, vuốt vuốt, mếu máo nói: Tôi thức đêm thức hôm… tôi bỏ hết sáng tác, ngày đêm tôi chỉ nghĩ đến tờ báo… Bài này đề tài công nhân… bài này về kháng chiến… bài này về thống nhất… bài về sửa sai CCRĐ… tôi không… tôi không…, chẳng mấy lúc Nguyên Hồng khóc hu hu” (Cát bụi chân ai. NXB Hội Nhà văn, 1992 – Tô Hoài).

Cha tôi còn mang cả tập báo Văn lên gặp ông Nguyễn Lương Bằng (đồng chí Sao Đỏ), là người mà cha tôi hết sức yêu quí và tin tưởng, vì cha tôi bảo với Tô Hoài rằng: “Tao không có điều gì không đúng với Đảng”. Nguyễn Lương Bằng lúc ấy là phụ trách Ban Thanh tra Chính phủ, nhưng chắc là không có kết quả.

Báo Văn vẫn phải đóng cửa. Các nhà văn đi lao động. Cha tôi xuống “thực tế” ở Nhà máy xi măng Hải Phòng.

Giữa bối cảnh ấy, một hôm Tô Hoài mang tờ Nhân Dân ngày 12-3-1958 đăng bài “Nhìn lại một số sai lầm trong bài báo và trong công tác” (của Tô Hoài) đến nhà gặp cha tôi. Tô Hoài đã nhận “sai lầm lớn nhất là đã làm tầm thường và hạ thấp tác dụng lãnh đạo tư tưởng của Đảng…”. “Sau khi đọc lúc chăm chú, lúc hờ hững Nguyên Hồng buông tờ báo. Rồi Nguyên Hồng xua xua tay nói như hét vào mặt tôi: “Tiên sư mày, thằng Câu Tiễn! Ông thì không! Nguyên Hồng thì không!” (Cát bụi chân ai – Tô Hoài).

Trong buổi nói chuyện ấy, cha tôi đã nói với Tô Hoài ý định về Nhã Nam của mình. Khi Tô Hoài hỏi lại: Về Nhã Nam? Thì ông trả lời: “Ừ, Nhã Nam. Đủ, đủ lắm rồi. …. Ông về Nhã Nam” (Cát bụi chân ai – Tô Hoài).

Cha tôi và nhà văn Tô Hoài, cũng như với Nguyễn Tuân hay Kim Lân, là những người bạn chí cốt, trong đời và trong viết ngay từ những ngày đầu bước vào nghề văn. Ông “chửi” Tô Hoài cũng chỉ vì yêu thương và xót xa cho người bạn cùng cảnh ngộ, cùng bị o ép của mình. Tô Hoài có lẽ hiểu rất rõ điều ấy nên chẳng hề giận ông. Mà chính Tô Hoài sau này đã kể lại buổi gặp gỡ hôm ấy trong “Cát bụi chân ai”. Họ vẫn cứ phải gặp nhau mỗi lần cha tôi về Hà Nội, uống với nhau vài cốc bia, cho vay hay xin nhau một vài đồng để… thết bạn! Có những lần cha tôi đến Hà Nội rất muộn, mệt và khát, thì các ông đã nhường cha tôi mấy cốc bia cuối cùng. Kiểu như họ không thể sống thiếu nhau vậy.

Cha tôi không bao giờ nói với các con về vụ báo Văn hay Nhân văn – Giai phẩm, duy chỉ có một lần, khi Hoàng Văn Hoan đã trốn ở lại Trung Quốc, trong căn hộ ở khu tập thể Cầu Tre, cha tôi đã nói vừa như với chính mình, vừa như cho các con nghe, rằng “Hoàng Văn Hoan đã gọi thầy lên và bắt thầy phải nhận sai lầm. Nhưng thầy vẫn cương quyết như thế”.

So-525--Cong-duc-cua-gia-dinh-nha-van-Nguyen-Hong---Anh-3

Thực ra đây không phải là một quyết định dễ dàng gì. Bởi cha tôi còn có cả một gánh nặng gia đình gồm mẹ già, vợ yếu và năm đứa con dại trên vai. Không phải ông không nghĩ đến gia đình. Hơn ai hết, ông là người luôn trăn trở vì miếng cơm manh áo cho gia đình, vì sự học hành của các con. Nhưng tôi nghĩ, bởi là một người rất rạch ròi trong yêu, ghét, và quyết liệt với quan điểm sống và viết của mình nên ông đành dứt áo ra đi, dẫu biết rằng phía trước là khó khăn, nhọc nhằn, túng thiếu, vất vả, thiệt thòi vô cùng cho cả mình, cho cả mẹ già, vợ yếu và con dại”.

Ngày 3-3-1959. Chuyển hết đồ về quê. Tôi phải đội cả cái hòm sách, mệt gò ruột lại, để nhích vào trong xe. Rồi đi mua thuốc cho vợ con. Gặp Văn Cao. Đọc bài “Hoàng Hoa Thám” cho Văn Cao nghe. Góp nhiều ý tốt. Đến chơi Kim Lân. Hiền, Chương, Hạnh trố mắt và cũng góp chuyện về Ấp.

Đến nhà Tuân.

Ngày 4-3-1959. Chiều tôi đi mua cây đèn dầu ở chợ Giám. Cả đêm không ngủ. Sáng ra chuẩn bị đi thì không thấy cây bút máy. Cây bút phải 50đ là rẻ. Tôi bàng hoàng ngơ ngẩn, mệt mỏi thêm. Không đi tầu. Ra ô tô không có chuyến. Chờ đến 9 giờ mới được đi. Tinh thần đương dần hồi lại trên đường đi thì đến bến Bắc Giang. Tôi chuyển va ly sách xuống để đỡ 2 hào. Anh bộ đội yếu tay để đập vào cửa kính mà tài xế đã dặn. Tôi ra công an làm giấy bồi thường. Đền 5 đồng, chịu 5 đồng. Bao nhiêu xa xót trong mấy ngày nay.

“Tôi thắt ruột lại khi đọc những dòng này. Một sự ra đi, một sự cắt đứt. Một bước ngoặt mới trong cuộc sống của gia đình tôi. Hẳn cha mẹ tôi cũng ngậm ngùi lắm khi dứt áo ra đi như vậy. Mẹ tôi kể là khi cha tôi quyết định bỏ Hà Nội về ấp Cầu Đen, mẹ tôi không đồng ý. Hai ông bà đã cãi nhau một trận. Nhưng rồi mẹ tôi vẫn chiều theo ý cha tôi. Có thể lúc ấy bà không biết rằng mình đang bước chân vào một chặng đường mới, vất vả, túng thiếu, gian nan khủng khiếp như thế nào… Tôi hình dung ra cha tôi trong cơn tê dại của tâm trí, ngơ ngác thực hiện các công việc sau quyết định sống còn kia. Hẳn trái tim ông đã rỉ máu, ruột gan quặn thắt khi biết mình mơ hồ nhận thấy con đường mịt mùng phía trước mà mình đã đẩy cả gia đình vào đó.

Về Cầu Đen, là gia đình tôi phải làm lại tất cả từ đầu, trong khi thực ra, cha tôi chưa có chuẩn bị gì về tài chính cho việc lớn này. Cũng may, bà con trên Ấp đã xúm vào, mỗi người một tay giúp đỡ”.

(Nhật ký… Sđd. Trg.198 – 201)

“Cuộc chuyển dời lịch sử” này như đã nói, là sự bộc lộ nhân cách cao cả, tính cương trực thẳng thắn đến quyết liệt của nhà văn Nguyên Hồng. Trong khoảnh khắc gian nan của cuộc sống bộc lộ tính cách của con người. Không phải là một sự bực bội tức khí bình thường mà là giây phút bùng cháy của nhân cách. Nhà văn Nguyên Hồng hiện lên như một kẻ sĩ quân tử thời trung đại. Phú quí bất năng dâm. Bần tiện bất năng di. Uy vũ bất năng khuất.

Ông tin vào việc làm của ông. Dù bị phê phán, ông chỉ khóc. Ông không nhận khuyết điểm sai lầm vì ông không có. Ông đã kêu đến tận vị cán bộ cao cấp của Đảng mà ông tin cậy, quí mến như đồng chí Nguyễn Lương Bằng. Thậm chí đến Hoàng Văn Hoan, lúc đó đầy quyền lực gọi ông lên bắt ông phải nhận sai lầm nhưng ông cương quyết không nhận. Giọt nước tràn ly khiến ông lập tức quyết định trở về Nhã Nam chính là bài báo của Tô Hoài, tự kiểm điểm, tự nhận sai lầm…

Đó là nguyên nhân chính khiến Nguyên Hồng dứt áo ra đi, cùng với mẹ già, vợ yếu và năm đứa con nhỏ, “bước chân vào một chặng đường mới, vất vả, túng thiếu, gian nan khủng khiếp…”.

Gian khổ như thế nhưng Nguyên Hồng và gia đình ông đã vượt qua. Sự nghiệp văn học của ông vẫn tiếp tục. Không chỉ viết cho ông, mà Nguyên Hồng còn nhận nhiệm vụ Chủ tịch Hội Văn nghệ Hải Phòng; phụ trách Trường bồi dưỡng Viết Văn của Hội Nhà văn mà các thế hệ học viên yêu mến ông, gọi ông một cách quí mến là ông Đốc Hồng. Ông đọc bản thảo cho tạp chí Cửa Biển (Hải Phòng), cho các tác giả trẻ yêu mến tin cậy gửi bản thảo xin ông nhận xét; tham gia vào làm giải thưởng cho Hội Văn nghệ Quảng Ninh. Bắc Giang – Hà Nội – Hải Phòng là hành trình thường xuyên của ông với chiếc xe đạp thiếu niên Liên Xô… Ngày nay chỉ thi thoảng còn vài nhà văn đi xe đạp để tập thể dục. Còn thì lên ô tô xuống xe máy. Càng thương và cảm phục Nguyên Hồng biết bao! Các con ông đã chịu đựng và vượt qua gian khổ, học tập, trưởng thành, làm ấm lòng, làm vẻ vang cho cha mẹ.

Như thế có thể khẳng định Nguyên Hồng cùng gia đình ông đã để lại công đức lớn cho lịch sử văn học Việt Nam, cho văn hóa dân tộc. Cùng với khối lượng sáng tác đồ sộ trong đó có kiệt tác Bỉ vỏ thì nhân cách cao thượng đẹp đẽ của ông là một di sản quí cho hôm nay và mai sau.

Văn Nguyên Hồng là thứ văn rất khó chiếm lĩnh được bằng các thủ thuật thi pháp học, các ngôn từ bình luận văn hoa, công thức. Ông viết: “Sáng tác! Thật là rứt thịt mình ra” (Nhật ký… Sđd. Trg.33). “Những cái tôi viết càng nặng trĩu đầu ngòi bút. Nó là những dòng máu không chết” (Nhật ký… Sđd. Trg.30).

[…]

“Sự sống ơi! Cuộc đời ơi! Những ai cùng là người nghèo khổ cùng kiệt đang sống cái cuộc đời lầm than khó khăn và tủi nhục vô cùng nhưng cũng đáng yêu đáng tin vì nhất định một ngày mai đây những nỗi áp bức bất công, những sự tàn bạo độc ác sẽ được vạch ra và trừ bỏ đến tận ngọn nguồn… những ai là người cùng chung số kiếp với tôi ấy, vì người, do người mà tôi đã viết xong một thiên truyện đấy!… Người cho tôi gửi tặng nhá! Người đọc cho tôi nhá! Người làm chứng cho sự sống của tôi nhá, người đánh giá việc làm của tôi nhá. Người hãy nhận cho tôi! Người hãy nhận lấy những trang chữ, hãy nhận lấy trọn vẹn trái tim và linh hồn tôi, một đứa con xấu số chỉ có thể sống với cuộc đời của người, ăn ở với người cho đến trọn đời.

Tôi mở hai cánh tay, nước mắt tràn ra, vừa đi vừa nói thầm rất nhiều như thế…”.

(Bước đường viết văn của tôi – Nguyên Hồng)

“Tác phẩm đầu tay của cha tôi đã ra đời như thế đấy! Nó được viết vào những năm 1935-1936 trong bối cảnh như vậy, với một tinh thần như vậy. Một chàng trai mười bảy tuổi, nghèo đói đến lằn ranh của sự sống và cái chết, đã viết như ngày mai sẽ chết, để dâng tặng cho cuộc đời, cho tất cả những kiếp người đói khổ và cùng cực “những rung động cực điểm” của trái tim mình. Quan điểm viết ấy đã được ông tuân thủ cho đến trang viết cuối cùng” (Nhật ký… Sđd. Trg.16).

Các con của Nguyên Hồng, chị Thanh Thư và Nhã Nam, đã nói lên những điều căn cốt nhất về con người và trang văn của Nguyên Hồng – đó là giá trị quí của “Nhật ký Nguyên Hồng”.

Hà Nội, tháng 11-2018

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 525

Ý Kiến bạn đọc