Tản văn

Con về nhen ngọn lửa hồng

Lần nào lên phương Bắc, tôi cũng có ít nhất một lần ngồi lại bên bếp lửa vùng cao.

Miền chờn vờn sương sớm – như nhà thơ Bằng Việt đã viết trong bài thơ Bếp lửa thuở nào: “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm/Một bếp lửa ấp iu nồng đượm…”. Ngồi đơm thêm những nhánh củi khô cho nồi ngô luộc thơm lựng hừng đông, tôi như thấy lại mình của những ngày thơ ấu. Huơ huơ tay sưởi ấm, hít hà mùi hương củi khô tí tách. Những khuôn mặt ngồi bên bếp lửa cũng ửng hồng, rạng ngời như những tinh khôi thuở nào. Tôi ở miền xuôi, cả tuổi thơ quanh quẩn trên những cánh đồng không có núi cao rừng sâu, nhưng ngồi lại bên bếp lửa ở bất kỳ đâu trên đất nước cũng lại thấy như vẹn nguyên đó là dáng hình ký ức. Còn mình như một cái gạch nối của bếp lửa từ ký ức đến hiện tại. Cái gạch nối lặng thầm đi mãi mà lòng vẫn neo đậu nhớ thương.

Ngồi bên bếp lửa buổi dừng chân qua Thái Nguyên một ngày cuối năm, gió lùa qua tóc. Tôi nhớ tôi của ngày len lỏi vào rừng tre quê nhà nhặt củi khô, bó thành từng bó, ôm chất thành đống ở chái bếp. Nhà nào cũng phải dự trữ củi khô đủ dùng suốt mùa mưa. Bếp quê chỉ là ba viên gạch chụm lại, giản dị nghèo nàn, vậy mà đã nuôi lớn bao cuộc đời, đã ủ ấm qua tháng ngày mưa lạnh, đã nhen những yêu thương thơm mùi khói bếp…

Buổi ngồi uống nước ngô luộc ngọt thơm ở góc bếp ven đường Hà Giang, tôi lại nhớ mình của năm tháng ngồi hóng những món bánh ngon lành má làm ở bếp quê. Má đổ bánh xèo, hấp bánh khoai mì, làm chè trôi nước… Củi như hương vườn nhà làm hồng cả một góc bếp bình an. Hồi đó ăn gì cũng ngon cũng thòm thèm, rất nhiều cái Tết cứ đến bữa má nấu ăn là tôi lại quẩn chân trong bếp. Thế nào cũng được cho cái đùi gà, nắm xôi, hay xơi luôn những món bánh vừa chín mà chẳng kịp chờ lên mâm. Tôi chắc rằng đứa trẻ quê nghèo nào cũng “đúc kết” được kinh nghiệm này: ăn trong bếp bao giờ cũng ngon tuyệt cú mèo.

Anh-minh-hoa---Con-ve-nhen-ngon-lua-hong---Anh-1

Hôm ra Phú Yên công tác, cả một nhóm “già đầu” chúng tôi được mời đến chơi nhà người bạn đồng nghiệp. Nhà đổ bánh xèo đãi khách bằng bếp củi, bọn chúng tôi ùa nhau ngồi quây quần, chừng như ai cũng đang tìm thấy ngày xưa bên bếp lửa hồng. Nói cười hồn nhiên. Những cô gái quen bếp gas thành thị, ngồi bẹp xuống nền gạch xi măng, mỗi người nhắc một ký ức bếp quê, cứ thế mà buổi chiều mùa đông ở mảnh đất “hạ vàng cỏ xanh” trở nên ấm áp lạ. Công việc luôn có những lúc mệt mỏi buồn phiền, nhưng được những lần ngồi với nhau bằng tâm hồn của những đứa trẻ, lại thấy mình thật diễm phúc khi từng được là một-đứa-trẻ-quê. Để mà giữa những bôn ba, tháng năm còn cho mình nhặt lại biết bao cảm xúc ngọt ngào – mà nếu không, có khi lòng mình cũng phải đôi lần chơ vơ như rừng qua mùa thay lá…

Bây giờ, người ta vẫn thường nói với nhau “Hãy biết hạnh phúc với những gì đang có”, “Sống cho hiện tại”… Nhưng dễ thường có mấy ai làm được. Phải để đến khi cái gì đó mất đi, phải qua một độ lùi thời gian nhìn lại ta mới thấy rõ nhất cái gì là quý, cái gì là đẹp. Như tôi của khoảnh khắc ngồi đốt lửa rơm không ngơi tay để nấu cơm kho cá bên gốc me cũ, cứ nhìn lửa cháy phừng phừng nhưng cũng sớm lụi tàn mà ngán ngẩm. Lúc đó tôi ước có loại bếp nào mà mình có thể vừa nấu cơm vừa đọc sách. Giờ tôi dùng bếp hồng ngoại có chế độ nấu định giờ cho từng món ăn, lại thấy lòng mình đi lang thang quanh quẩn ngày xưa. Tự nhiên muốn hít hà lại mùi lửa rơm năm cũ.

Hồi đó, cứ Giao thừa là cả nhà quây quần ngoài sân. Ba viên gạch (có khi là gấp đôi) được xếp ba góc, vậy là thành bếp. Má chuẩn bị nồi gang to dùng để nấu bánh chưng – nồi này có khi cất cả năm mới được dịp mang ra sử dụng, nhiều nhà hàng xóm tiết kiệm không mua nồi thì gói bánh mang sang… gửi. Cứ thế, nhà ai có nồi to nhất thì dễ trở thành “nồi bánh hợp tác xã”. Càng đông càng vui. Bọn trẻ con háo hức xí xọn tắm rửa sạch sẽ ra ngồi xun xoe, tranh nhau đơm củi. Còn hứa hẹn sẽ cùng nhau thức đón Giao thừa, chờ đến khi bánh chín. Nhưng chúng sẽ luôn lăn ra ngủ trong tay bà, tay mẹ. Có khi vừa ngáp vặt vừa lê tấm thân buồn ngủ vào nhà nằm bò lên bộ ván ngủ khò. Tôi cũng vậy, chẳng có năm nào trong tuổi còn được gọi là “con nít” mà tôi thức nổi đến sáng mùng Một. Tôi ngủ gục trong tay má hoặc trên lưng chị, ngủ say như một khúc cây khô ai muốn quăng đi đâu thì quăng. Để sáng mở mắt ra là thấy những đòn bánh tét chín đã được vớt ra, đặt cúng trên bàn thờ. Bếp vẫn còn đỏ lửa, đượm than hồng. Nếu thích có thể vùi khoai lang, bắp vào trong đó lại có món ăn chơi thơm bùi dẻo ngọt.

Nhiều khi tôi thấy 365 ngày trôi qua quá nhanh, ký ức đẹp đẽ như bếp quê mỗi ngày một lùi xa về chân chim mắt má…

*
Có người vừa về làng tôi tìm mua chiếc bàn ủi than bằng gang có cái núm con gà. Loại bàn ủi này mấy thập niên trước chỉ có người nghèo mới dùng. Quê tôi từ hồi chưa có điện kéo về, người ta ủi phẳng quần áo bằng những chiếc bàn ủi than con gà này. Nhà tôi cũng có một cái. Tôi còn nhỏ, không có nhu cầu ủi quần áo. Chỉ thấy các chị mỗi lần muốn mặc đẹp đi đâu là phải vào bếp, nhóm lửa, đốt những thanh củi to để lấy than. Sau đó dùng đũa gỗ gắp từng mẩu than xếp vào bàn ủi. Màu than củi hồng rực, phải đậy nắp gài con gà cẩn thận, nếu không xách bàn ủi đi than đỏ có thể bị đổ ra, có khi trúng chân bỏng cũng nên. Ủi được một lúc than nguội, lại phải xách xuống bếp thêm than.

Bàn ủi thời khổ, vậy mà đến khi nhà nhà đều có bàn ủi điện tiện dụng, nó lại trở thành cổ vật có giá. Nghe nói người mua trả giá cao lắm. Má tôi tiếc hùi hụi. Vì lúc cả nhà dọn lên phố ở, cái bàn ủi cũ kỹ không được mang theo, hình như đã bị bỏ lại đâu đó ngoài vườn cũ, rồi cỏ hoang mọc lút đầu người…

Bếp quê thì không thành cổ vật. Hay ba viên gạch xếp giữa rừng hoặc đâu đó trên những cung đường du lịch bụi cũng không thể trở thành dáng hình quê hương. Cũng vậy, kỷ niệm góp nhặt trong những chuyến lữ hành không thể sâu đậm bằng ký ức bên bếp lửa của bà, của mẹ. Những đứa trẻ thành phố sau này, có lẽ cũng không biết “lịch sử bếp quê” đã thay đổi qua thời đại như thế nào. Thậm chí đô thị đã xuất hiện quá nhiều nhà hàng, quán ăn, thức ăn nhanh. Thời gian quây quần bên góc bếp – bữa cơm gia đình cũng không còn nhiều nữa, nói gì đến thẩn thơ hoài cổ.

Hồi đó, ngoài “bếp quốc dân” xếp bằng ba viên gạch, nhà tôi còn dùng bếp trấu – dùng vỏ trấu làm chất đốt. Bếp trấu không có lửa ngọn, chỉ hồng rực mà nấu chín thức ăn rất nhanh. Người nông dân không bỏ sót gì từ cây lúa, tất cả đều có thể được sử dụng làm nhiên-nguyên vật liệu. Loại bếp này được chế tạo ra cũng là để tận dụng chức năng của trấu. Mỗi lần má gánh gạo đi ra nhà máy xay xát, thì mấy chị em tôi cũng lút cút mang bao đi theo. Gạo được xay trắng tinh đựng một bao riêng, còn lại cám, trấu, tấm cho vào những bao khác, mang về. Trấu lúc nào cũng chiếm số lượng bao nhiều nhất, nhưng lại nhẹ. Một mình tôi cũng có thể vác nổi một bao trấu to ú – chỉ bao nhiêu đó thôi cũng có thể nấu cơm không biết bao nhiêu ngày. Sau đó, má còn mua thêm về cái bếp làm bằng đất nung – đẹp hơn ba viên gạch xếp và cũng nấu bằng củi. Nhưng tôi vẫn thích nấu bằng bếp trấu nhất. Không quá nóng và cũng không quá nhanh tàn. Tôi cứ thủng thẳng ngồi châm trấu, chờ thức ăn chín mà vẫn có thể nhẩn nha đọc sách, hoặc chơi cờ tướng, cờ vua với chị gái. Lâu rồi tôi không còn nhìn thấy loại bếp này. Nhiều vùng quê miền Tây tôi đi qua, người ta cũng đã dùng bếp gas hết cả.

Những Giao thừa của năm tháng sau này, tôi hay… canh me facebook xem có ai chia sẻ hình ảnh nồi bánh chưng nhà nấu hay không. Mỗi hình ảnh được bạn bè đăng tải là thêm một niềm vui, bếp lửa hồng trong bức ảnh của người khác cũng khiến lòng mình thấy sao ấm áp. Giao thừa trước, một người bạn của tôi lúc nào vào bếp cũng chụp ảnh bếp lửa gửi cho tôi xem. Lúc là nồi cháo gà, khi là ấm nước nấu pha trà lúc hừng đông. Có khi chỉ vì lạnh quá mà nhóm bếp huơ tay, vùi vào than hồng mấy củ khoai lang vừa đào được ngoài vườn… Bạn nói bố mẹ bao năm vẫn không bỏ những đồ dùng cũ, nhà có bếp gas ấm điện vẫn cứ có thói quen nấu bếp củi. Rồi cối xay bột, thúng, nia, sàng, xịa (dụng cụ được đan bằng tre thường dùng để đựng thóc gạo ở nông thôn) chất trong nhà kho, nói “Để dành sau này con cháu có đứa nào cần thì xài”. Mà để hoài có con cháu nào dùng đâu, thậm chí có đứa cháu thành phố về còn không gọi được tên những món đồ lỉnh kỉnh dân dã ấy.

Không biết tự bao giờ, tôi cứ hay dõi mắt tìm góc bếp những khi có dịp về chơi những miền quê xa. Như để dõi tìm đâu đó trong nỗi nhớ của mình một hình ảnh thân thương, quen thuộc ở nhà người. Người ta vẫn nói rằng, góc bếp tính người, bếp ấm thì nhà mới ấm. Với tôi, góc bếp còn là chiếc cầu nối thế hệ. Bếp xưa bà dạy mẹ nấu ăn ngon để làm dâu, bếp nay mẹ vẫn nhắn nhủ con gái phải biết nấu ăn để giữ lửa gia đình. Góc bếp muôn đời vẫn là nơi trao gửi yêu thương, leng keng thanh âm của hạnh phúc sum vầy. Má tôi vẫn nhắc hoài năm tháng còn bà ngoại, quyện vào góc bếp là mùi thơm của gạo dẻo, của thức ăn, của tiếng chày đâm tiêu giã ớt, của lanh canh bát đũa, của xôn xao nói cười… Tôi có rất nhiều ngày tháng một mình trong góc bếp, tự nấu cho mình, thấm thía nỗi nhớ của má. Rời khỏi khung bếp quê để chọn một con đường tươi sáng hơn, nhưng cũng là rời khỏi một giấc mơ yên ấm đoàn viên của gia đình. Sống giữa lòng thành phố, có những lúc tôi thèm cảm giác được ngồi bên bếp nhà nấu nướng cùng nhau. Có những thương nhớ làm mình trào nước mắt.

Bây giờ là mùa Xuân. Những bếp lửa hồng ấm áp đang chờ chúng ta ở quê nhà…

Tiểu Quyên
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2018

Ý Kiến bạn đọc