Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Con người trong văn học – Chuyện nên bàn

Vấn đề con người trong văn học là bài viết thứ ba trong Tuyển tập lý luận phê bình văn học của ông Lê Ngọc Trà trong mấy năm đầu đổi mới (1989).

Với 14 trang (từ trang 40 tới 53), với kiến thức hàn lâm, với sức đọc bao quát, ông nói nhiều điều khá sâu rộng liên quan. Nhưng tựu trung quan điểm của ông qui lại ở mấy luận điểm sau:

+ Văn học là sự thật. Mà sự thật chủ yếu của văn học là sự thật về con người (tr.50) – Vấn đề con người phải trở thành một vấn đề trung tâm của văn học (tr.49).

+ Con người phải được nhìn một cách toàn diện. Văn học ta chỉ quan tâm chủ yếu đến cái chung chứ chưa phải cái riêng và do đó vấn đề số phận con người chưa có được vị trí xứng đáng của nó.

+ Các nhà văn phải trả món nợ cuộc đời về sự thật về con người trong xã hội ta (tr.50).

Ông hùng hồn kêu gọi:

Đấu tranh cho xã hội tốt hơn, cho dân chủ và công khai, cho đổi mới cũng là một cuộc cách mạng nhân danh con người và vì con người. Bởi vậy đứng ở đâu trong cuộc đấu tranh này – đó là một thử thách đau đớn, là thước đo cách hiểu về văn chương, quan niệm về con người và chính ngay nhân cách của những ai đang cầm bút hôm nay (tr.53).

Nhiệt tình đó là rất đáng quí. Tuy nhiên, dường như khái niệm con người của ông có phần “bao quát” quá mà lại có thể gây ngộ nhận. Dù không thể chia tách “con người” theo thành phần giai cấp thì văn học vì con người là vì những con người có những nhu cầu chính đáng bị tước đoạt và thường nghiêng về phía bộ phận người khốn khổ vì cường quyền, bất công và cả chịu rủi ro vì “số phận” hơn. Và quan niệm của ông về cái “toàn diện” của vấn đề con người xem ra còn đơn sơ quá.

Ông viết:

Trong hoàn cảnh ấy (VH phục vụ chính trị) các nhà văn chỉ mới có điều kiện quan tâm chủ yếu đến cái chung chứ chưa phải cái riêng và do đó vấn đề số phận con người chưa có được vị trí xứng đáng của nó trong văn học. Chúng ta vẫn gặp phần lớn đó là con người – tập thể, con người – quần chúng, con người – nhân dân chứ chưa phải là những cá nhân, những số phận (…) Phương châm “Văn học phản ánh hiện thực” chủ yếu vẫn hướng nhà văn vào việc phản ánh cuộc sống mới, con người mới chứ không phải toàn bộ cuộc sống và con người hiện thực (tr.41).

Đã đến lúc chấm dứt quan niệm cho rằng những gì viết về cái xấu và sự yếu kém của con người, nỗi đau và sự mất mát, bi kịch và hạnh phúc cá nhân, những buồn vui phi lý, những xung đột tưởng như không đâu trong khuôn khổ gia đình đều là tạp nhạp, nhỏ bé thua kém các đề tài lớn về sản xuất chiến đấu thậm chí không có lợi, không xứng đáng với sự nghiệp cách mạng. Đúng, đó không phải là tất cả văn học. Nhưng đồng thời đó cũng là văn học, bởi vì đó cũng là con người.

Có lẽ vì thời gian học hành xa rời cuộc sống chiến đấu chống kẻ thù lớn mạnh hung hãn quá lâu, ông không hiểu được, rất nhiều cái nhu cầu chính đáng cá nhân phải hi sinh chịu đựng để “tất cả cho tiền tuyến”.

Mặt khác về học thuật, cần phải hiểu vấn đề con người và sự phản ánh nó trong văn học “toàn diện” hơn.

Con người là một thực thể cần được nhìn theo đúng cái bản chất của nó trên nhiều mặt. Có mặt tự nhiên, có mặt xã hội.

Về bản chất tự nhiên của cá thể, con người cũng có hai phần. Phần bản năng (thể xác) và phần ý thức (linh hồn), cũng có thể gọi một cách bỗ bã là phần “Con” và phần “Người”. Người ta thường rẻ rúng phần “Con” chỉ coi trọng phần “Người”. Nhưng người ta quên rằng hai phần có mối quan hệ qua lại và phần “Con” có vai trò và giá trị của nó.

Phần “Con” có những nhu cầu chính đáng, nếu không được đáp ứng ở mức cần thiết thì sẽ tác động đến phần “Người”. Mạc Ngôn đã miêu tả cuộc sống nơi “cải tạo lao động” của tầng lớp thanh niên trí thức. Có trường hợp một thanh nữ trong cảnh sống đọa đầy, cơn đói khủng khiếp đã dẫn cô tới chỗ bán rẻ nhân phẩm vì một miếng cơm khốn khổ! Và chuyện kẻ cầm tù đã tác động tàn bạo phần “Con” ở người tù để buộc họ đầu hàng diễn ra phổ biến trên thế giới và bọn chúng đã “thành công” trong việc đánh bại phần “Người” của không ít người. Mặt khác, đây là hai mặt mâu thuẫn trong con người và là cơ sở của cuộc đấu tranh giữa Thiện và Ác ở mỗi con người. Tất nhiên mâu thuẫn đó phát triển theo hướng nào cũng có thể gây ra những hệ quả xã hội nhất định. Sự can thiệp bằng đạo đức hay pháp luật kiềm chế sự thỏa mãn các nhu cầu bản năng phương hại đến cộng đồng là giải pháp khác nhau giữa các nhà tư tưởng như Mạnh Tử và Tuân Tử. Từ đó đã tạo ra hai khuynh hướng trong triết học cổ Trung Hoa. Trường phái nhấn mạnh bản chất “Con” của con người và kiềm chế các hoạt động xấu của nó bằng các chế tài mang tính quyền lực xã hội phát triển thành trường phái “pháp trị” với đại biểu xuất sắc là Hàn Phi với bộ Hàn Phi Tử. Điều cần nói nữa là tác dụng tích cực xã hội của phần “Con”, của tính Ác mà nhiều người không quan tâm. Sau đây là những lời của Hêghen và lời giải thích của Enghen:

Hêghen viết: Người ta tưởng nêu được một chân lý vĩ đại khi nói con người bẩm sinh là thiện, song người ta quên rằng người ta còn nêu được một chân lý vĩ đại hơn nữa với lời nói này: “Con người bẩm sinh là ác”.

Enghen giải thích: Theo Hêghen, ác là hình thức, trong đó biểu hiện động lực của lịch sử. Thật ra câu đó bao hàm hai ý nghĩa: một mặt, mỗi bước tiến mới là một tội ác chống lại trật tự cũ đang suy đồi, nhưng được tập quán thần thánh hóa. Mặt khác, từ khi sự đối lập giai cấp xuất hiện thì chính những dục vọng xấu xa của con người – lòng tham và sự thèm muốn quyền thế – đã trở thành đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế.

Xa xưa hơn tới 2.000 năm, Hàn Phi cũng khẳng định tính ác ở con người bằng câu: Người ta ai cũng mưu lợi riêng. Hàn Phi yêu cầu quản lý xã hội hướng cái lợi riêng đó vào lợi chung. Tuy nhiên, theo tôi hiểu, khi nói đến mặt tích cực của bản năng, của cái ác người ta nói đến cái nhu cầu chính đáng của nó. Có ai lại khuyến khích cái nhu cầu bản năng và cách thỏa mãn nó bằng biện pháp như để bố chồng bắc ghế nhòm trộm con dâu tắm! Nhà văn phải đứng về phía các nhu cầu chính đáng trong hai mặt mâu thuẫn nào đó, ngay cả với những mâu thuẫn giai cấp.

Phần “Người” với ý nghĩa là phần ý thức dường như vẫn được quan tâm thể hiện trong việc miêu tả tâm lý tính cách. Xây dựng chăm sóc phần “hồn” như là thiên chức của người “kỹ sư tâm hồn”. Nhưng dường như cũng rơi vào tình trạng đơn giản hóa khi đối lập Thiện Ác như trắng đen đối lập. Và đúng như ông Lê Ngọc Trà dẫn lời của Lep Tolstoi: Một trong những lầm lẫn vĩ đại khi xét đoán về con người là chúng ta hay gọi và xác định người này thông minh, người kia ngu xuẩn, người này tốt, người kia ác, người thì mạnh mẽ, người thì yếu đuối trong khi con người là tất cả khả năng đó. Là cái gì luôn biến đổi.

Về bản chất xã hội của con người, đúng như ông Lê Ngọc Trà nói là ta quá nhấn mạnh mặt này, không chú ý đến mặt đời sống cá nhân. Con người là con người – tập thể, con người – quần chúng, con người – nhân dân. Thực ra – phải nói đến cái gốc rễ hơn. Đó là sự hiểu và áp dụng sai câu của Marx Bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội. Marx chỉ nói đến con người – xã hội, và nói như thế là đúng và sâu sắc tuy chưa đủ. Cần phải nói đến cái năng động của ý thức cá nhân khi hình thành những cá thể như chính Marx và Enghen thường nhấn mạnh và những người như Enghen và hầu hết lãnh tụ Cộng sản thời trước của ta là những minh chứng. Ta áp dụng điều đó vô điều kiện vào việc đánh giá con người, tất cả chỉ là “điều kiện xã hội” với cái lý lịch với những mối quan hệ xã hội (thành phần giai cấp gia đình, “ảnh hưởng” của các ông chú bà cô giầu có, của bạn bè bên ta hay bên nó). Cùng với tư duy đó là lối nghĩ kiểu “diễn dịch”, anh A đã như thế, thì anh B với hoàn cảnh như vậy cũng phải như thế! Chủ nghĩa thành phần không phải là bệnh “tả khuynh” nhất thời của ai! Những sự năng động của ý thức cá nhân tạo nên những phẩm chất xã hội quí giá bị bỏ qua. Đó là chưa kể những hệ quả của những ứng xử của các bậc quyền uy vì nhiều thứ động cơ thấp hèn chèn ép vô hiệu hóa người tài trong một cơ chế tổ chức thiếu công khai minh bạch.

Những thứ đó vì hoàn cảnh tất cả vì sự nghiệp đấu tranh với kẻ thù dân tộc trong hai cuộc kháng chiến, văn học ta không thể phản ánh đầy đủ là lẽ đương nhiên. Phải đặt tất cả vấn đề vào thời điểm lịch sử của nó. Tất nhiên như ông Lê Ngọc Trà viết: Song hiểu được sự ràng buộc của hoàn cảnh không có nghĩa là không có quyền đánh giá lại lịch sử (tr.43). Nhưng vấn đề là phải tôn trọng thực tế lịch sử để lời “đánh giá lại” có sức thuyết phục!

Lại phải nói đến số phận cá nhân khi đề cập đến con người với tư cách xã hội. Cần phân biệt những số phận cá nhân bi thương có hai loại. Loại do xã hội với hoàn cảnh sống trong một thể chế bất công, bất bình đẳng và do những kẻ nắm quyền thế lộng hành… Và loại do những điều kiện cá nhân (thiên tai, những tai họa tự nhiên giáng xuống những thứ do chính tính cách và hành động sai lầm của chủ thể tạo ra). Loại thứ hai, tất nhiên có phần lỗi của quản lý xã hội để các tệ nạn và bọn lừa đảo hoành hành nhưng không thể qui trách nhiệm cho xã hội tất cả, vẫn là trách nhiệm cá nhân và vai trò bất khả kháng của lực lượng siêu nhiên. Thái độ của xã hội chỉ có thể là cảm thông với những tấm lòng từ thiện, với những chính sách cứu trợ từ phía nhà nước… Loại thứ nhất mới cần sự lên án của cộng đồng thông qua các hình thức văn học, nghệ thuật. Với loại thứ hai, văn học cũng có vai trò của nó. Đó là tiếng nói xót thương, thông cảm, khơi gợi tình đồng loại…

Đôi điều mạo muội “đánh trống qua cửa nhà sấm” với những kiến thức chắp vá chuyên ngành. Mong góp được điều gì đó có ý nghĩa.

Lê Xuân Mậu
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 402

Ý Kiến bạn đọc