Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Con người bình thường chiến công phi thường

Kỷ Niệm 60 Năm Bộ Đội Trường Sơn (1959 – 2019)

 

Nhà văn quân đội Phạm Hoa nguyên là lính lái xe Trường Sơn những năm 1970-1975, bằng bút pháp văn học muốn nhận diện lại những con người bình thường đã làm nên những chiến công phi thường qua tiểu thuyết “Nhốt con chim Bắt Cô ” – NXB Lao động. H.2018.

Mắc Namara, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, một trong những nhân vật hàng đầu chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh Việt Nam, đã phải thừa nhận họ chưa hiểu được con người Việt Nam, lịch sử Việt Nam, văn hóa Việt Nam nên đã thất bại. Đương kim Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đến Việt Nam đã đi thăm bãi cọc Bạch Đằng. Gần đây, một Đô đốc Hải quân Mỹ đã đến thăm đền Hai Bà Trưng… Người Mỹ đang phải tìm hiểu lại con người Việt Nam. Còn người Việt Nam chúng ta, chưa phải ai cũng hiểu được bằng cách nào mà những con người bình thường lại làm được những việc phi thường, chiến thắng được những phương tiện chiến tranh hiện đại nhất của Mỹ như pháo đài bay B.52, máy bay C.130 bay trong mọi thời tiết và ban đêm thì nó bắn đúng mục tiêu như chỉ vạch. Bạn đọc sẽ gặp những con người đó, như anh lính lái xe Toàn Tồ.

So-531--Duong-Truong-Son---Bui-Tan-Hung
Đường Trường Sơn – sơn mài – Bùi Tấn Hưng.

Toàn Tồ – một anh lính gốc Hà Nội, trình độ văn hóa bình thường, trung cấp thôi, là giáo viên cấp II thời đó. Gọi là Toàn Tồ vì anh rất vô tư thẳng thắn. Thấy sao nói vậy. Vào chiến trường ác liệt Toàn Tồ rất dũng cảm, mưu trí, anh đã tìm ra cái gót Asin của C.130. Ban đêm, nó bắt mục tiêu mà trúng như ban ngày. Xe vận tải của bộ đội Trường Sơn chạy ban đêm – và chỉ chạy được vào ban đêm – nếu bị C.130 phát hiện thì không thoát được. Thường bị bắn trúng đầu xe. Do máy bay C.130 có bộ ngắm hồng ngoại. Mục tiêu tỏa nhiệt thì bị phát hiện. Toàn Tồ nhận ra điều đó và anh đã đối phó lại bằng cách chạy xe một quãng độ mấy kilômét thì dừng lại, tắt máy, lắng nghe. Nếu không có tiếng C.130 thì chạy tiếp. Hoặc khi bị C.130 phát hiện thì lập tức cho xe nép vào ta-luy dương, tắt máy. Kinh nghiệm đó được phổ biến rộng và các đoàn vận tải đã chuyển được hàng vào cho chiến trường kịp thời. Đêm trên đường Trường Sơn ngày ấy ở mỗi cung đoạn mỗi chặng, trạm đều có thanh niên xung phong ngoài bảo đảm mặt đường còn cảnh báo mục tiêu giúp cho bộ đội lái xe xử lý kịp thời. Binh chủng Phòng không của Đoàn 559 cũng góp phần hỗ trợ… Mưu trí, dũng cảm, kết hợp các binh chủng, lực lượng đã tạo thành sức mạnh tổng hợp, chiến thắng được kẻ địch. Con người Việt Nam bình thường mà phi thường là như thế. Nhờ dũng cảm, quyết tâm mới có được phát hiện có giá trị lớn lao như vậy.

Sáng kiến của Toàn Tồ làm chúng ta nhớ đến sáng kiến của các nhà khoa học ở Hà Nội đã tìm ra cách phá bom từ trường. Khi Ních-xơn cho rải thủy lôi phong tỏa cảng Hải Phòng và nhiều trọng điểm đường thủy của ta thì GS.TSKH Vũ Đình Cự đã tìm ra cách vô hiệu hóa nó. Ông đã nghiên cứu cơ chế hẹn nổ của thủy lôi Mỹ và đã tạo ra khí tài kích nổ thủy lôi. Cảng Hải Phòng đã được giải tỏa. Nhưng đấy là công việc của một nhà khoa học. Có phòng thí nghiệm và vật liệu cần thiết. Còn cách của Toàn Tồ thật là đơn giản. Đơn giản như quả trứng của Cô-lông (*). Vấn đề là có nghĩ đến hay không. Đó là sự sáng tạo. Thông thường ta vẫn khen ngợi những con người và việc làm như của Toàn Tồ là sáng ý. Đúng là như thế. Nhưng nó có liên quan chặt chẽ đến nhiều lý thuyết, nhiều chủ nghĩa về con người và văn học – nghệ thuật. Sự sáng tạo của con người trong cuộc sống vô cùng phong phú. Có những sáng tạo đòi hỏi nền tảng tri thức rất lớn như với GS. Ngô Bảo Châu về toán học hay thiết bị tạo từ trường để phá thủy lôi Mỹ của GS. Vũ Đình Cự. Nhưng có vô vàn sáng tạo trong cuộc sống như của Toàn Tồ. Không biết ai là người đã nghĩ ra cái đèn gầm cho xe ô tô thời chiến tranh được vận dụng ở cả hậu phương và chiến trường. Giảm được tổn thất không kể hết được. Một bóng đèn màu da cam công suất nhỏ lắp ở gầm xe đủ để người lái xe nhận ra đường, tránh được máy bay trinh sát của địch…

Tất cả những sáng tạo đó chỉ có được đối với con người tự chủ. Người xưa nói cùng tắc biến biến tắc thông. Trong thế cùng mà biến được chỉ có ở người gan dạ, làm chủ được cảnh ngộ. Những con người hiểu rõ mục đích công việc mình làm. Một sự nghiệp chính nghĩa là cơ sở tư tưởng và tình cảm của mọi hành động sáng tạo, gan dạ, dũng cảm đến mức chấp nhận hy sinh cả tính mạng. Con người Việt Nam trong cuộc chống Pháp và chống Mỹ, chiến thắng được kẻ thù chính là sự nghiệp chính nghĩa đã tạo ra sức chiến đấu, sức mạnh vô tận. Đây là điều bạn đọc có thể liên tưởng đến các thứ triết thuyết và rút ra kết luận thú vị. Bởi trên Tạp chí Thơ số 9 & 10-2018, nhà lý luận văn học Trần Hoài Anh rất ca ngợi chủ nghĩa hiện sinh, cho rằng Chế Lan Viên, Văn Cao, Lưu Quang Vũ, nói chung là những nghệ sĩ đích thực bao giờ cũng lựa chọn cảm thức hiện sinh… Chủ nghĩa hiện sinh chỉ nhìn con người và cuộc sống ở tính phi lý, cô đơn, hư vô, buồn đến buồn nôn… Nếu Toàn Tồ và tất cả chiến sĩ quân đội ta, chiến sĩ quân Giải phóng và dân quân du kích đều thấm chủ nghĩa hiện sinh, đều mang tâm trạng buồn nôn, cô đơn, hư vô… thì chắc chắn cuộc chiến tranh chống Mỹ đã thất bại. Những con người luôn cảm thấy cuộc sống là phi lý, là vô vọng, cuối cùng là cái chết, điểm cùng của hư vô, làm sao chống lại được B.52, C.130, thủy lôi hẹn nổ, bom từ trường…

So-531--Bia-sach-Ngot-con-chim-bat-co---Anh-1

Không biết các đời lính Mỹ sang Việt Nam họ có được tiếp thu, chuẩn bị bằng chủ nghĩa hiện sinh hay không, nhưng rõ ràng lính Mỹ đến chiến trường Việt Nam là những con người thụ động, bị bắt buộc, không hiểu mục đích của cuộc chiến về phía họ, họ chỉ dựa vào vũ khí. Và khi vũ khí của họ, tối tân hiện đại như B.52 bị đối phương bắt bài đáp trả thì họ phải chấp nhận thất bại. Đó là một tất yếu. Cảm ơn nhà văn Phạm Hoa đã thâu tóm và diễn đạt các thứ chủ nghĩa, học thuyết hàn lâm kinh viện, mũ cao áo dài, xa cách với thực tế cuộc sống, trong một hình tượng nghệ thuật, một nhân vật văn học sinh động.

Tính chủ động sáng tạo, gan dạ, dũng cảm, mưu trí của bộ đội Trường Sơn nói riêng và quân đội ta nói chung là như thế, như anh lính lái xe Toàn Tồ. Nhưng thực tế đâu chỉ có một màu hồng. Bao nhiêu tổn thất, bao nhiêu hy sinh, không sao kể hết. Có những cái chết khủng khiếp.

Một chiến sĩ bị hơi bom ép vào gốc cây như dán keo vào. Thoạt nhìn tưởng như người chiến sĩ đang ngồi tựa gốc cây, nhưng lại gần thì anh đã chết. Bom trên chiến trường, trên Trường Sơn… gieo những cái chết khủng khiếp như thế. Chiến sĩ ta chết vì mảnh bom, và sức ép bom… Không sao nói hết. Trong những tình huống đau thương ác liệt như thế, càng chứng tỏ chiến sĩ của chúng ta vượt qua được là nhờ tư tưởng, nhờ tinh thần quyết tâm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Người trước ngã người sau tiếp bước xông lên. Chiến tranh đã qua nhưng bạn đọc ngày nay cùng sống lại cuộc sống thời chiến với những trang sách sâu sắc và chân thực thì sẽ hiểu, cảm nhận và càng yêu kính, biết ơn các thế hệ đã chiến đấu, hy sinh để có được Tổ quốc hôm nay.

Người chỉ huy trong chiến tranh là vấn đề đáng suy ngẫm trong tiểu thuyết này của Phạm Hoa. Tướng lĩnh chỉ huy ở đây tài giỏi đã đành, mà thương quý chiến sĩ như người thân, xử lý mọi việc một cách đầy tình nhân ái. Bao giờ cũng chọn cách giải quyết nhằm nâng đỡ khuyến khích mở đường cho chiến sĩ nếu không may họ vướng vào sai phạm. Đó là cách chỉ huy của Nhân – Chính ủy sư đoàn. Khi nữ chiến sĩ Huệ, một cô gái xinh đẹp nhưng hơi lẳng, là văn thư của Sư bộ, có bầu với một tiểu đoàn trưởng; ông đã tìm cách giải quyết thật sự có tình người, cứu vớt chứ không phải vùi dập chiến sĩ. Cứ theo quân phong quân kỷ thì ông có thể phạt nặng cả hai. Nhưng vị chính ủy sư đoàn hiểu thân phận một người con gái. Bởi ông cũng có con gái ngang tuổi Huệ. Ông không nỡ thẳng tay với Huệ. Nếu thật sự yêu nhau, ông sẽ cho họ cưới nhau. Nhưng ngặt vì anh chàng kia đã có vợ con. Ông đã tìm một chiến sĩ tin cậy đưa Huệ về hậu phương và cho ra quân một cách gọn ghẽ êm thấm nhất, để Huệ còn có thể làm lại cuộc đời. Với viên tiểu đoàn trưởng kia, là người có năng lực, nên ông phạt giáng cấp chuyển đơn vị, cho lập công chuộc tội. Đây cũng là đặc điểm của người chỉ huy trong quân đội ta. Họ trưởng thành từ người lính, họ hiểu và thương yêu người lính, và chỉ có như vậy mới có được quan hệ tướng – sĩ một lòng, tạo nên sức mạnh của quân đội. Rất khác với chỉ huy của quân đội thực dân hay Ngụy quân. Họ khinh bỉ người lính, hách dịch, tự xem là một đẳng cấp riêng. Binh lính dưới quyền bị sai phái, quát mắng như ông chủ đối với kẻ làm thuê. Đấy cũng là yếu tố làm cho quân lực Ngụy, hay Pháp và Mỹ, bị yếu đi.

Chiến tranh đã trôi qua gần nửa thế kỷ nhưng tìm hiểu người chiến sĩ đã chiến đấu hy sinh trên chiến trường vẫn là nhiệm vụ lớn của văn học.

Không chỉ hiểu để yêu quý, biết ơn chiến sĩ quân đội ta, mà phải tiếp tục tinh thần chiến đấu hy sinh quên mình của họ, chuyển được tinh thần anh hùng trong thời chiến vào công cuộc xây dựng trong hòa bình. Trước hết phải khẳng định lại tính chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh vệ quốc. Khẳng định lý tưởng cao cả của cuộc kháng chiến chống Pháp chống Mỹ, cứu nước đã thấm vào máu thịt người chiến sĩ nhờ đó họ mới có tính chủ động, mưu trí, anh dũng và sự hy sinh quên mình. Đây đang là vấn đề thời sự của văn học. Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, nếu văn chương đơn thuần, kỹ thuật hay hình thức nghệ thuật là xuất sắc, nhưng nội dung mô tả sai lệch bản chất người chiến sĩ và cả quân đội. Chỉ thấy đau khổ, mất mát, tàn bạo, phi lý, vô lý tưởng… Sau cuộc chiến là tan nát cả tâm hồn và thể xác… Lập tức được những lực lượng, khuynh hướng thù địch với Việt Nam hết lời khen ngợi. Vừa rồi, việc dựng lại chủ nghĩa hiện sinh, đánh đồng tâm trạng của người cầm bút ở cả hai phía, đều chỉ thấy cuộc chiến này là ngu ngốc, phi lý, tàn bạo… lại thêm một lời đồng vọng nữa cho khuynh hướng phủ nhận tính tất yếu và chính nghĩa của cuộc chiến tranh cách mạng và sự hy sinh, nỗi đau khổ to lớn đến vô tận của nhân dân ta. Chiến tranh thì đúng là tàn bạo. Nhưng phi lý, ngu ngốc là ở phía cướp nước và bán nước. Và chính họ đã thừa nhận. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời Kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1946, Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước vào năm 1966 và cuối cùng trong Di chúc, Người khẳng định lại tính chất của cuộc chiến và tin tưởng nhất định thắng lợi. Phải chăng đó là phi lý? Và lịch sử đã chứng tỏ như thế nào! Chúng tôi đã nói quá nhiều về Nguyên Ngọc, Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh và Giải thưởng Phan Châu Trinh. Vẫn thấy cần phải nhắc lại với TS. Nguyễn Bá Thành tác giả Toàn cảnh thơ Việt Nam 1945-1975; nhà văn Trần Hoài Anh và Ban biên tập Tạp chí Thơ (số 9 & 10-2018) rằng mọi lý thuyết văn chương đều không thể là những đám mây lơ lửng không liên hệ gì với cuộc sống đã qua và cuộc sống hôm nay. Trên tinh thần đó, tiểu thuyết Nhốt con chim Bắt Cô của nhà văn quân đội Phạm Hoa là một đóng góp quý.

Hà Nội, tháng 11-2018

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 531

—————-
(*) Quả trứng của Cô-lông (Crixtop Cô-lông: Nhà hàng hải đã tìm ra châu Mỹ): Có mấy người thách Cô-lông dựng được quả trứng trên mặt đĩa sứ. Ông đập quả trứng xuống, dựng đứng quả trứng. Mấy người kia bảo: Tưởng gì, làm thế thì ai chẳng làm được. Cô-lông nói: Vấn đề là có nghĩ đến hay không.

Ý Kiến bạn đọc