Truyện ngắn

Con ngựa đá

Ghềnh Hoàng Mã uy nghi như một bức tường thành nằm chếch ngang phía hữu ngạn sông Lô. Đó là niềm tự hào, là biểu tượng và là ân nhân của làng tôi. Nó vươn mình ngăn dòng nước hung dữ của sông Lô mùa lũ, giữ cho những soi bãi màu mỡ ven sông của làng không bị xói lở. Con ghềnh là tượng trưng của sức mạnh Sơn Tinh thắng Thủy Tinh trong truyền thuyết. Những người làng tôi khi đi xa luôn nhớ về Hoàng Mã với biết bao kỷ niệm vui buồn.

Ghềnh Hoàng Mã được hình thành bởi những lớp đá vôi phân lớp lớn, màu xanh xám. Nổi bật giữa ghềnh là hòn đá có hình con ngựa. Mỗi sáng khi mặt trời vừa nhô lên khỏi đỉnh núi, những tia nắng sớm chiếu xuống mặt sông, rồi phản ngược lên hòn “Ngựa Đá”, tạo thành một mảng màu vàng long lanh sóng nước.

Có lẽ vì thế mà con ghềnh có tên là Hoàng Mã.

*
Kể đến ông Trâm là đời thứ 6 làm cái nghề đục chạm đá. Sản phẩm của ông có nhiều loại hình, như đá tảng, đá lăn, cối giã, cối xay, bia mộ đá… Tay nghề thì khỏi nói – từ xuôi đến ngược đều biết tiếng. Có lần Bộ Văn hóa đã cử cán bộ đến tận nhà, đặt ông phục chế một số cột đá của đình chùa, là những di tích đã được xếp hạng, do thời gian và chiến tranh làm hư hại. Sau khi ông phục chế những cột đá này, người tinh nhất cũng không biết đó là những cột đá mới. Nghe đâu ông cán bộ văn hóa ấy mãn nguyện đã thưởng cho ông Trâm cả một con trâu mộng.

Biết bao thuyền buôn từ xuôi lên, từ ngược về nhận cối đá, đá tảng, bia đá và các sản phẩm độc đáo khác của ông chở đi mọi miền để bán. Tính ông lại dễ dãi, tin người. Nhiều khi thuyền buôn cứ lấy hàng của ông mang đi bán, chuyến sau trở lại mới trả tiền. Cũng vì vậy ông đã gặp phải sự phản trắc của người đời. Nhiều thuyền buôn sau khi thanh toán sòng phẳng các chuyến hàng trước lấy được lòng tin, làm một chuyến hàng đặc biệt, cực lớn rồi ra đi mãi mãi không trở lại trả tiền cho ông nữa. Có người hỏi việc này, ông chỉ nói: “Chắc ế hàng họ không bán được. Bây giờ có nhiều máy xẻ, máy mài đá, vừa nhanh vừa rẻ lại đẹp chắc ăn khách hơn. Hàng của tôi thủ công chắc là cạnh tranh không nổi!”.

Ông Trâm là người lạc quan, sống đơn giản, khắc khổ và cần cù. Suốt ngày ông miệt mài bên ghềnh Hoàng Mã với đôi kính gãy gọng, cái mũ bê rê từ thời Pháp, chiếc vồ gỗ, vài ba cái choòng cùng mấy chiếc đục thép tôi già. Ông gọi nghề đục đá của mình là nghề mạt hạng!

Tôi hỏi:

- Biết là mạt hạng sao bác vẫn làm?

Ông cười buồn:

- Đây là nghề gia truyền, bố truyền cho con, con truyền cho cháu, cứ thế. Nó ngấm vào máu dòng họ, gia tộc nhà tôi rồi. Nó giống như con vua thì lại làm vua, con sãi nhà chùa lại quét lá đa.

- Cũng như bây giờ bố ngành nào con ngành ấy, ông nhỉ! – Tôi nói.

Ông bảo:

- Nó cũng na ná như vậy. Nhưng bây giờ người ta chỉ cho con theo nghiệp của bố ở những ngành nghề béo bở thôi. Chứ còn tôi, cái nghề này biết truyền cho ai ngoài con mình? Cái nghề cổ truyền dân tộc này bây giờ có mấy ai học, bởi khó kiếm tiền. Riêng tôi, tôi vẫn truyền cho con vì chẳng biết nghề gì hơn nữa.

- Liệu con bác có nối nghiệp bác không?

- Chả biết. Đứa nào thích thì tôi dạy. Giống như trước đây bố tôi truyền cho tôi. Cụ bảo: “Đây là nghề mạt hạng nhưng độc đáo, ít có, là vốn quý của dòng tộc mình. Nó đòi hỏi sự kiên trì, đôi tay khéo léo và lòng say mê”.

Nhà tôi ở gần nên tôi thường đến ghềnh Hoàng Mã xem ông Trâm đục chạm đá. Tôi thấy cái nghề này quả lắm công phu. Có khi cả ngày ông mới nạy được một phiến đá đẹp đủ làm thớt cối. Khi chạm, phải vừa đủ mạnh để bạt được đá, nhưng lại phải nhẹ nhàng để không bị vỡ. Ông Trâm tâm sự: Có lần đục cái thớt cối gần xong thì bất ngờ bị vỡ. Thế là công toi!

So-522--Anh-minh-hoa---Con-ngua-da---Anh-1

Nghề chạm đá của ông Trâm xem ra rất khiêm tốn, nhỏ nhoi, lặng lẽ, vậy mà không hiểu sao ông bị người ta quăng lên, quật xuống rất nhiều lần. Hết chi bộ kiểm điểm, ông lại bị đưa ra cuộc họp thôn. Tại cuộc họp thôn, ông Trâm bàng hoàng khi nghe những lời kết tội đầy ác ý, rằng: Ông đục đá ở ghềnh là phá hoại cảnh quan môi trường, là vi phạm pháp luật… Ông run run đứng lên, dáng lọm khọm như muốn chúi xuống đất, cất tiếng khò khè:

- Tôi cũng chẳng còn bao lăm sức nữa mà làm. Cũng chỉ vì một số bà con cần mấy hòn đá lăn để quạn lúa, đặt tôi làm. Tôi nghĩ mấy cái cối, mấy hòn đá lăn, vài chục cái bia đá thì làm sao mà phá hỏng được con ghềnh sừng sững kia!

Rồi ông khóc. Đôi mắt đã vốn nhoèn ra vì bụi đá, đọng mấy giọt lệ đục ngầu…

Sau cuộc họp thôn hôm ấy, ông Trâm ra ghềnh Hoàng Mã, thắp mấy nén nhang lên hòn “Con Ngựa” khấn vái điều gì đó, rồi lặng lẽ mang hết đồ nghề chạm đá thả từng chiếc xuống sông Lô. Riêng chiếc vồ gỗ chẳng hiểu sao cứ nhấp nhô như một người chết đuối, dập dềnh quẩn ngược quẩn xuôi không muốn rời chủ cũ.

Sau khi ném chiếc choòng cuối cùng xuống sông, ông Trâm nằm vật lên hòn đá lăn đang chạm dở, tay ôm tấm bia đá chưa khắc tên người. Ông trừng trừng con mắt. Một thoáng ân hận nhói lên trong lòng. Ông chưa kịp chạm tên mình lên bia đá!

*
… Hòn “Con Ngựa” – một biểu tượng đặc trưng của ghềnh Hoàng Mã – đã từng bao lần chứng kiến những cuộc chém giết khủng khiếp của bọn thủy tặc ẩn náu trong ghềnh cướp giật thuyền buôn những năm xa xưa. Nó cũng từng là nơi hò hẹn ái ân của bao cặp uyên ương trong những đêm trăng thanh gió mát. Nghe đồn có lần Ngựa Đá đã toát mồ hôi khi bắt gặp đôi tình nhân không giữ nổi mình, liều lĩnh thoát y, quấn lấy nhau sàm sỡ.

Những năm 40 của thế kỷ trước, tên con ghềnh từng là nỗi hãi hùng, khiếp đảm của thủy quân Pháp bởi những trận phục kích của du kích làng tôi… Và hôm nay, nó chứng kiến cảnh tượng một ông già khốn khổ, gần trọn đời gắn bó với đá, vứt bỏ đồ nghề, giã từ cái nghiệp truyền thống của gia đình, nằm vật vã khóc than, ai oán!…

*
Đùng… Đùng… Đoàng!

Tiếng mìn phá đá ở ghềnh Hoàng Mã mỗi ngày một rền rã nhiều hơn. Ai? Ai phá đá nổ mìn? Ông Trâm khật khưỡng chống gậy ra ghềnh. Trời ơi! Hóa ra là những kẻ sống quanh làng rỗi việc, nhận đánh đá cho ông Mạng – một chức sắc ở làng, người trước đây từng phản đối ông Trâm đục đá quyết liệt nhất! Ông Mạng lấy đá để đổ móng xây nhà. Biết chuyện, ông Trâm như phát sốt, khuỵu xuống…

Lũ thanh niên nổ mìn thuê thấy ông ngồi bên hòn Ngựa Đá, quát: “Bố già khốn khổ! Biến khỏi đây để chúng con nổ mìn! Hay bố thích mìn hất bố xuống sông?”. Ông già rền rĩ: “Ngựa Đá ơi! Mày thấy không? Lòng dạ con người là thế đấy!”. “Ái chà! Bố già còn tâm sự với Ngựa Đá nữa chứ! Chúng con ấy à, không chừng còn đặt mìn nổ tan Ngựa Đá của bố đấy!”. “Ấy đừng các anh ơi! Tôi trăm lạy các anh. Nghìn lạy các anh! Con Ngựa Đá này là biểu tượng thiêng liêng trời phú cho làng mình, cần gìn giữ muôn đời!”. “Ối giời! Chẳng có gì thiêng liêng bằng tiền đâu bố ạ, tiền là trên hết. Mà cả bố thì cũng thế. Tiền. Tiền… Hớ… hớ… hớ”. “Trời ơi! Thật thế sao? Lẽ nào!…”.

Về nhà, ông Trâm trằn trọc suốt đêm không sao ngủ được. Sáng ra, ông quyết định đi gặp ông Mạng để hỏi. Ông Mạng giọng kẻ cả, quyền uy:

- Chắc ông lo cho con Ngựa Đá của ông chứ gì?

- Ngựa Đá đâu phải của riêng tôi. Đó là của cả làng. Của cả anh đấy!

- Hơ hơ hơ… Ngựa Đá! Ông già hoài cổ ơi! Tôi xin nói với ông rằng, tôi chẳng cần biết con Ngựa Đá nào cả. Tôi chỉ cần đá để xây nhà. Đá gần, đá đẹp, thế thôi.

- Trước đây chính anh là người cấm tôi phá đá ở ghềnh cơ mà?

- Đúng thế! Nhưng đó là những năm về trước. Bây giờ mọi cái khác rồi ông ạ. Ông không biết cả thế giới này đang đảo lộn hay sao?

Rời nhà ông Mạng, tâm trạng ông Trâm vừa buồn vừa bực. Ông Trâm tiếp tục chống gậy đi nhiều nơi, gặp nhiều người có chức có quyền kiến nghị. Đi đến đâu ông cũng được nghe người ta nói đề nghị của ông là “rất tốt”, “rất cần thiết” và “sẽ sớm nghiên cứu, giải quyết…”. Thế nhưng, mọi chuyện vẫn rơi vào “im lặng đáng sợ” và có nguy cơ “chìm xuồng”! Con ghềnh vẫn bị nổ mìn phá đá mỗi ngày! Biết hỏi ai bây giờ? Ông Trâm lại ra ghềnh hỏi con Ngựa Đá. Ngựa Đá lặng câm. Nhưng nó run lên. Hay là ông run? Chẳng biết.

Tối rồi chẳng thấy ông Trâm về, cả nhà ông đổ đi tìm. Vợ ông bảo các con: “Bố con chắc chắn ở ngoài ghềnh Hoàng Mã. Mấy chục năm rồi mẹ biết”. Các con ông chạy vội ra ghềnh thì thấy ông nằm co quắp ở chân hòn Ngựa Đá. Chúng vội vã đón bố về thì ông không còn nói được nữa. Ông chỉ ú ớ, ngọ ngoạy. Con cái vội cáng ông đi viện. Bệnh viện kết luận ông bị biến chứng não, liệt nửa người.

Đêm đêm ông thường rú lên: “Mìn… Trời ơi! Nổ…”. Mà ở bệnh viện có tiếng nổ gì đâu ?! Một tháng ở bệnh viện ông chỉ kêu được có bấy nhiêu lời.

Bệnh viện trả về. Căn bệnh ông ngày càng trầm trọng. Cứ mỗi lần ở ngoài ghềnh có tiếng mìn nổ, ông Trâm lại quằn quại rú lên: “Mìn… Trời ơi! Nổ…”.

Người ông kiệt dần… Rồi việc gì đến cũng đến, phút lâm chung, ông bất ngờ bật lên câu nói: “Cho bố… ra… ghềnh”. Các con không nghe. Ông gầm lên, khóc. Thương bố, các con dìu ông ra chỗ Ngựa Đá. Ôm lấy chân Ngựa Đá, ông xoa, ông vỗ, ông hôn hít, rồi ông cười, ông khóc. Tiếng ông khóc như tiếng ngựa kêu. Hình như con ngựa cũng động lòng, hí lên ằng ặc!

Đêm ấy ông Trâm trút hơi thở cuối cùng. Hôm sau mọi người đưa tiễn ông về nơi chín suối. Có cả ông Mạng và một số cán bộ, chức sắc của làng, xã. Khi ông Mạng bỏ ba nắm đất xuống huyệt mộ ông Trâm cũng là lúc những kẻ ngang tàng, vô lương tâm châm ngòi nổ quả mìn phá hòn Ngựa Đá! Tiếng mìn âm vang hòa lẫn cùng tiếng khóc than ai oán của gia quyến ông. Nhiều bà con cũng bất ngờ bật khóc…

Sau lễ tang ông Trâm, ông Mạng lật đật trở về ghềnh Hoàng Mã. Toàn thân ông ta run lên, mắt bỗng tối lại khi thấy giữa thân con Ngựa Đá – nơi đặt trái mìn – hõm sâu một cái hốc và hai vết nứt chéo bên dưới! Sẵn mấy nén nhang mang ở mộ ông Trâm về, ông Mạng thắp lên hòn Ngựa Đá, mồm lẩm bẩm điều gì…

Hình như ông cảm phục sự vững bền của con “Ngựa Đá”, bất chấp những bàn tay phá hoại thô bạo vì tiền, nó vẫn sừng sững uy nghi, mặc dù trên thân hình đầy những vết thương loang lổ? Hay là ông cầu nguyện cho sự tồn tại vĩnh hằng của ghềnh Hoàng Mã?!

Nguyễn Trần Bé
(TP. Hà Giang – tỉnh Hà Giang)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 522

Ý Kiến bạn đọc