Một góc làng quê

Con cúi

“… Đừng thấy diêm quẹt mà phụ niềm con cúi
Diêm quẹt ướt nhèm, con cúi cháy riu riu…”

Cứ mỗi lần lúa mùa gặt xong, lúa hột đã đội về nhà là cha tôi bó rơm vác ngoài đồng về sửa soạn vấn con cúi. Con cúi được vấn thành bím ba tao, to bằng đầu gối, chiều dài theo vòng tròn tấn quanh dưới chân cái me bồ để ví lúa.

Con cúi ấy lắm tiện ích: giữ thóc dưới chân bồ không rơi vãi, ngăn chuột, bọ khoét hang cắn phá. Nó rất bền và dẻo chắc. Một con cúi xài được mấy mùa mà không mục nát, không sạt đứt bể bồ.

Anh-minh-hoa---Mot-goc-lang-que

Ngoài lợi ích ví lúa ra, con cúi còn dùng để duy trì ngọn lửa trong bếp. Con cúi bếp cũng được quấn bằng rơm, nhưng chỉ nhỏ gọn bằng cườm tay. Người ta đốt một đầu cúi cho cháy riu riu rồi khoanh tròn nó lại như con rắn, để trong gian bếp nó âm ỉ cháy cả ngày lẫn đêm. Mỗi khi nấu nướng chỉ cần cầm một nắm lá dừa, kê miệng thổi phù vài cái là con cúi cháy rực lên, tha hồ mồi và đốt.

Ở nông thôn thời trước, nhà thưa thớt. Dầu hôi thì hiếm, đắt nên nhiều nhà không đốt đèn duy trì được ngọn lửa suốt cả ngày. Gặp những đêm hôm mưa gió, nhất là mùa mưa, mùa nước nổi đi được đến nhà lối xóm để xin lửa trần ai lắm. Cho nên cứ có sẵn con cúi trong bếp mà thổi lên sinh hoạt.

Những ngày mưa dầm gió lạnh, bó chân mọi người không thể bước ra đồng. Lúc ấy, nhìn và nghe mùi khói rơm con cúi đã cho ta ngọn lửa ấm, làm chín nồi khoai, bắp luộc bốc khói, cho mọi người có đầy bữa ăn trưa no bụng. Để mẹ ngồi may vá đồ rách, các anh thì vót nan đan rổ, đan lọp.

Thời trước, mấy anh tôi đi ra đồng bứng lúa đêm, phát cỏ… không ai có được cái hộp quẹt trong túi, chỉ mang theo cục đá và con dao cùn. Dao cùn để khỏ vào cục đá cho xẹt lửa bắc vào ống đựng bông gòn, rồi thổi lên cho ngọn lửa bắt cháy. Nhưng để dự phòng và cho chắc ăn hơn, từng tốp vài ba người đều mang theo con cúi để giữa đêm hôm soi đuốc dẫn đường ra đồng, mồi thuốc hút cho ấm và xua đuổi bọ mắc bu chích.

Nhớ nhất là bọn trẻ chúng tôi theo chân người lớn đi đốt đồng. Cha tôi chỉ mang theo con cúi nhỏ vừa bằng cườm tay, đứng dưới gió châm lửa đốt. Bọn trẻ lận lưng vài củ khoai, trái chuối… tìm đống rơm lùi vào để nướng chín. Khi lửa tàn, cời tro bốc khoai, luộc chuối, ai cũng xí phần xuýt xoa thổi phù phù. Ăn xong miệng đứa nào cũng dính đầy tro than rơm rạ, vậy mà tiếng cười vui vang dậy cánh đồng chiều.

Bây giờ, những con cúi ấy không còn ai sử dụng nữa, mọi việc cần tới lửa người ta có sẵn hộp quẹt ga bán rẻ rề…

Cuộc sống đi lên, nếp sống thay đổi. Nhưng tôi cứ nhớ hoài con cúi của tuổi nhỏ. Được kê miệng thổi phù, được mẹ khen giỏi và dành cho củ khoai, trái bắp… ấm no miền ký ức!

Kym Phủ
(Cái Bè, Tiền Giang)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 408

Ý Kiến bạn đọc