Tản văn

Con chữ nhọc nhằn ngược dốc

Là dân viết lách, nên cái “thú xê dịch” đã ngấm vào máu thịt của tôi. Nhưng trước khi là dân viết lách, tôi đã có những tháng năm làm cô giáo, cho nên hễ đi đến đâu, như thể “bệnh nghề nghiệp”, tôi đều ngó nghiêng vào các trường học xem sao. Lần lên Bát Xát (Lào Cai) vừa rồi cũng vậy. Xe ngược không biết bao nhiêu con dốc để đến được xã cao nhất, xa nhất và nghèo nhất của huyện Bát Xát là Y Tý, tôi cũng đã ngắm đủ những trường học dọc đường xe chạy của mình. Để rồi, như một mối duyên, sau đó một tháng, tôi cùng đoàn công tác quay trở lại Bát Xát trong một chương trình từ thiện: tặng áo ấm cho trẻ em nghèo tại điểm trường Mầm non và Tiểu học thôn Ngải Chồ, xã A Mú Sung.

Câu chuyện bắt đầu từ một mối quen biết rất tình cờ. Nghỉ qua đêm tại Y Tý, chúng tôi phải qua Đồn Biên phòng Y Tý để “trình báo”, vì đây là khu vực vành đai biên giới, rất gần cột mốc phân chia chủ quyền quốc gia Việt Nam – Trung Quốc. Người lạ đến, qui định phải báo cáo bộ đội biên phòng. Trong câu chuyện ngoài lề với trung úy Lê Tùng đang trực ban, tôi có ngậm ngùi kể về điểm trường mình vừa đi qua, thấy các cháu hồn nhiên nhìn khách lạ, cháu nào cũng đáng yêu và cũng thật tội nghiệp khi gió lạnh đầu mùa đã về mà chỉ khoác trên mình một chút áo mỏng manh. Nói là chút áo, bởi với nhiều cháu, áo rách vai, sờn tay, ngắn vạt… Trung úy Lê Tùng trầm giọng, nói điểm trường chị vừa qua còn chưa điển hình cho cái sự thiếu thốn khó khăn đâu. Ở nhiều nơi khác, học trò và cô giáo còn khổ lắm! Khổ đến nỗi các chị không thể nào tưởng tượng nổi! Tôi về xuôi, mang theo chút ngậm ngùi, thương cảm ấy!

Em-nao-cung-duoc-hoc---bot-mau---Nguyen-Sy-Tot
Em nào cũng được học – Bột màu – Nguyễn Sỹ Tốt.

Thế rồi, chính trung úy Lê Tùng liên lạc lại, giọng vẫn day dứt thế, bảo: Bây giờ, dưới xuôi mới chớm mùa đông, nhưng trên này đã lạnh lắm rồi. Có một điểm trường ở thôn Ngải Chồ, xã A Mú Sung khó khăn quá! Trời lạnh dưới 10 độ mà các cháu đến lớp hầu như chỉ phong phanh quần áo mùa hè. Thậm chí, ở lớp mẫu giáo, nhiều cháu có áo thì chẳng có quần. Ở dưới ấy, nếu có thể quyên góp được quần áo cũ, xin các chị gom giúp gửi lên cho các cháu. Mới chỉ nghe thôi mà đã thấy cay cay mắt! Tôi nhớ mỗi khi giao mùa, chỉ riêng chuyện lọc quần áo mùa cũ của con mang đi cho mà đã tốn hết khối thời gian. Lắm khi không tìm được chỗ mà cho. Vứt đi thì áy náy, bởi toàn quần áo còn mới quá. Con lớn nhanh là một nhẽ, thứ nữa là cả mẹ lẫn con đều không thích mặc lại quần áo của năm trước vào năm sau. Quần áo mới dầu sao vẫn thích hơn!

Lại một lần ngược dốc nữa để lên với vùng cao Bát Xát! Điểm trường Mầm non và Tiểu học Ngải Chồ nằm cheo leo tận trên đỉnh dốc. Từ đường lớn, chúng tôi phải bỏ ô tô nằm lại, lễ mễ mang những thùng quà vượt con dốc dựng, xuyên qua thôn Ngải Chồ để đến được trường. Đầu tiên cứ tưởng đó là hai điểm trường riêng biệt, một là mầm non, một là tiểu học. Nhưng đến nơi rồi mới biết đó là điểm trường “2 trong 1”. Một dãy phòng học gồm 3 gian, trong đó một gian còn bỏ trống, một gian dành cho lớp mầm non tất cả các độ tuổi và một gian dành cho tiểu học gồm hai lớp 1 và 2. Phụ trách điểm trường này là hai cô giáo, cô Hằng phụ trách mầm non và cô Hương phụ trách tiểu học. Cả hai cô giáo còn trẻ, nhưng hỏi ra, cô Hằng đã gắn bó với vùng cao trọn vẹn 11 năm, còn cô Hương thì… đã gần 20 năm. Đi các điểm trường vùng cao nhiều, tôi không mấy lạ lùng bởi các lớp ghép, nhưng nhiều người trong đoàn công tác cứ cười khi nhìn hai đầu lớp học là hai bảng đen. Các cháu nhóm lớp 1 thì quay về phía đầu này lớp, các cháu lớp 2 ngồi quay lại phía kia. Cô giáo như con thoi chạy hai đầu lớp. Buông sách lớp 1 là chạy ngay sang phía lớp 2. Một buổi học, không biết cô đã chạy bao nhiêu vòng quanh lớp.

Đến bây giờ, theo chương trình dự án của Bộ Giáo dục – Đào tạo, các trường học vùng cao về cơ bản đã được xây dựng kiên cố với tường xây, mái ngói, nền gạch men sạch sẽ. Tuy nhiên, học sinh vẫn còn thiếu thốn vô cùng. Trong số 28 học sinh của điểm trường Ngải Chồ, hầu như cháu nào cũng con của hộ nghèo, nghèo đúng nghĩa nghèo chứ không cần chiếu theo bất cứ tiêu chuẩn cũ mới nào. Hỏi Phó bí thư Đảng ủy xã A Mú Sung về thu nhập bình quân đầu người trong xã, anh chỉ lắc đầu cười. Tôi hiểu cái nụ cười mà không vui ấy. Thu nhập chính của người dân là làm ruộng bậc thang, chăn nuôi nhỏ lẻ. Mà ruộng bậc thang thì phụ thuộc “nước trời”, một năm làm một vụ. Cây lúa bén rễ rồi cứ “tự thân vận động”, lớn lên và kết hạt. Cho nên, nhìn từ xa ruộng bậc thang lúa chín vàng óng đầy mê hoặc, nhưng có lên tận ruộng, nhìn tận nơi mới thấy 10 bông lúa thì đến 3, 4 bông lép hoàn toàn. Những bông còn lại hạt mẩy hạt lép lộn xộn chen nhau. Cỏ lồng vực cao hơn cả lúa, cứ ngạo nghễ đứng giữa ruộng phất phơ. Lúa gặt về không đủ để nuôi sống những con người làm ra lúa. Những con lợn, gà, ngan vịt thả quanh nhà cũng đều phải tự tìm lấy thức ăn mà lớn…

Lop-hoc-mien-nui---khac-go--Nguyen-Trong-Hop
Lớp học miền núi – Khắc gỗ – Nguyễn Trọng Hợp.

Nghèo, nên các cháu đến trường lắm gieo neo. Trời mùa đông vùng cao không hiếm ngày mưa rả rích, nhưng học trò chân trần đến lớp là chuyện thường ngày. Với cái lạnh thường xuyên dưới 10 độ C, không thể áp dụng quy định cứ ở thời tiết ấy là các cháu được nghỉ học. Như thế, sẽ là nghỉ gần như suốt cả mùa đông. Cho nên, học trò từ mầm non tới tiểu học đều phải dầm mưa, đội rét đến trường. Lắm em đến được lớp học, môi má tím ngắt đi vì lạnh. Cả mùa đông dài dằng dặc trên núi cao A Mú Sung, nhưng nhiều em không có được một manh áo ấm đúng nghĩa. Cô Hương kể: nhìn các em lắm khi buốt lòng hơn cả gió núi thốc vào ngày rét nhất, nhưng biết làm sao được. Các cô cũng chỉ giúp trò được một phần bé nhỏ nào thôi. Cô Hương có gia đình ở Bát Xát còn cô Hằng ở tận TP. Lào Cai. Cứ cuối tuần, chia tay học trò vào chiều thứ sáu, các cô lên xe máy, vượt hàng chục kilomet đèo dốc về thành phố với gia đình. Sáng thứ hai, lại cặm cụi dậy từ rất sớm, để 5 giờ đã lên đường đến với các em cho kịp buổi học đầu tuần. Con nhỏ gửi lại ông bà. Chỉ có hai ngày nghỉ cuối tuần để bên con, lo việc gia đình, nấu cho chồng bữa cơm có bàn tay phụ nữ. Các cô cũng tích cực đi xin lại quần áo cũ để cho các em, nhưng cũng chỉ như muối bỏ bể mà thôi!

Học trò điểm trường Ngải Chồ học bán trú nên bữa trưa ăn ngay tại lớp. Hai cô giáo buông phấn bảng, sách bút lại hối hả vào bếp nấu cơm. Hai mươi tám trò, với hai cô là 30. Bữa ăn đạm bạc đến rơi nước mắt. Với cái lạnh ghê người của vùng núi cao vào mùa đông, hầu như không có bất cứ loại rau nào sống nổi. Rất nhiều bữa trưa cô trò phải ăn cơm chan nước mì tôm. Mấy gói mì tôm bẻ vụn, cho vào một nồi nước to, thế là thành món canh để đưa cơm. Nhìn học trò ăn ngon lành mà không ít lần cô nghẹn ngào không nuốt được. Thế nên, khi nhận những túi quà là quần áo ấm cho học trò, cả cô Hằng lẫn cô Hương đều không kìm được nước mắt. Những giọt nước mắt lặng lẽ mà nói được bao điều. Lòng ai cũng nghẹn thắt lại!

Giờ ra chơi, cả 28 cháu túa ra mảnh sân đất con con trước lớp. Thứ đồ chơi duy nhất có được ở đây là một cái bập bênh được đóng sơ sài bằng thân gỗ mộc. Các cháu vây quanh, thay nhau chơi. Những ánh mắt hồn nhiên. Những nụ cười nắc nẻ hồn nhiên. Hồn nhiên như bất cứ thiên thần thơ trẻ nào trên trái đất này. Xa xa là những dãy núi điệp trùng xanh ngắt. Mây trắng trôi như mơ qua những tán rừng. Tiếng học trò tập hát, tập đọc vang xa theo gió, làm ấm một góc núi Ngải Chồ.

Trung úy Lê Tùng của Đồn Biên phòng Y Tý kể, có lần em xuống Ngải Chồ mua lương thực, thực phẩm cho đơn vị, tổng cộng hết 900 ngàn – là em cứ theo giá mà nhân tiền lên, chứ người dân đâu có biết tính bao nhiêu tiền (Ngải Chồ là bản người Hà Nhì). Em đưa tiền trả, hôm đó chỉ mang toàn tiền mệnh giá 50 ngàn. Chín trăm ngàn, là đúng 18 tờ tiền. Thế nhưng, hết người vợ đến người chồng ngồi đếm, mà đếm mãi, đếm mãi cả tiếng đồng hồ vẫn cứ nhầm lẫn lung tung, không thể nào ra đúng số tiền vừa tính. Cuối cùng, em phải mang tiền 50 ngàn đi đổi lấy tiền mệnh giá 500 ngàn và 200 ngàn để trả, họ tính thêm một thôi nữa mới gật đầu. Đồng bào dân tộc thiểu số thật thà nhưng trình độ dân trí còn thấp quá! Để phát triển hơn trong tương lai, đương nhiên phải trông chờ vào lớp trẻ, là những mầm non đang ríu rít trong lớp học kia! Cho nên, tôi nói với hai cô giáo, nhiệm vụ của các cô thật nặng nề mà cũng thật vinh quang!

Nói là nặng nề với vinh quang là cách nói văn vẻ, xa xôi cho nó “quan trọng hóa vấn đề”, chứ thực tâm cô giáo nào cũng gắn bó với vùng cao bằng tình yêu vô điều kiện với lũ học trò nhiều thiệt thòi nơi đây. Đầu tháng 11 rồi, tôi hỏi vui: Có năm nào các cô nhận được quà 20/11 hay không? Các cô đều lắc đầu cười. Ở đây, nào ai biết khái niệm ngày 20/11 là ngày gì, ngoại trừ chính các cô. Tôi lại nhớ đến chuyến công tác Hà Giang ba năm trước, cũng đúng dịp 20/11. Hỏi một cô giáo cắm bản ở Sủng Là (Đồng Văn), món quà gì mà cô ao ước nhất trong ngày 20/11, nếu được ước? Cô trả lời: Một can nước! Nước gì? Đơn giản là nước sông thôi. Hà Giang vào cuối năm là mùa khô, thiếu nước quay quắt. Thiếu đến độ lá cây cứ úa lả đi trên triền đá xám mốc lô nhô. Các cô giáo cũng chịu cảnh thiếu nước triền miên. Nước uống đã thiếu, nước sinh hoạt còn ngặt nghèo hơn. Cho nên, món quà được ao ước nhất chỉ là một can nước nhỏ nhoi thôi! Nói về lương bổng, cô Hằng bảo tiền lương của các cô ngoài thang bậc chung của nhà nước, còn được hưởng thêm 70% phụ cấp vùng biên giới và 50% phụ cấp vùng núi cao. Tổng cộng, mỗi tháng các cô được lĩnh 220% lương. Hơn hẳn các đồng nghiệp miền xuôi, thành phố những 120%. Nhưng nói đến số tiền thì tưởng là nhiều, chứ tận mắt chứng kiến những thiếu thốn, khó khăn của các cô, chắc chẳng ai mơ đến đây làm cô giáo cắm bản để được hưởng 220% lương ấy. Nguyên tiền xăng xe mỗi tuần hai lần vượt dốc để đến với học trò thế này cũng chiếm một phần không nhỏ trong số 20% phụ cấp ấy. Rồi những lần nhìn học trò khổ quá, các cô tự bỏ tiền túi ra, mua đồ ăn thức uống, mua quần áo cho các em… Cho nên cứ hết tháng thì cũng hết tiền. Con cái, việc nhà trông cả vào bố mẹ và chồng. Căn phòng nhỏ của hai cô giáo điểm trường Ngải Chồ được dựng ngay bên cạnh lớp học, bên trong vỏn vẹn có chiếc giường được tạo từ 4 chiếc ghế băng học trò và 2 tấm phản gỗ cũ. Nghĩa là nó không phải cái giường! Thứ đáng giá nhất có lẽ là chiếc ti-vi cổ lỗ sĩ để các cô tiếp cận với thông tin thời sự hàng ngày và để cho căn phòng có thêm tiếng người trong những buổi tối hun hút lạnh buồn…

Me-con---khac-go---Vu-Giang-Huong
Mẹ con – Khắc gỗ – Vũ Giáng Hương.

Chuyện dạy và chuyện học của cô trò vùng cao có lắm thứ lạ lùng. Tôi ngồi giữa đám học trò, hỏi chuyện. Con tên gì? Bé gái có đôi mắt xoe tròn cười thèn thẹn: Con là Mẩy! Hỏi bé gái bên cạnh: Còn con tên gì? Con tên Mẩy? Cũng Mẩy à? Thế bạn này? Con tên là Mẩy. Ô, sao nhiều Mẩy thế? Cô Hương cười ngất bảo tất cả con gái trong lớp đều tên Mẩy. Cách đặt tên của người Dao là thế. Hễ con gái là Mẩy tất. Chỉ khác nhau họ, còn tên đệm lắm khi cũng trùng, vì tên đệm chính là số thứ tự của chính người con ấy trong gia đình. Tất cả các bé trai trong lớp đều chung một cái tên là Tả. Riêng chuyện ban đầu lên đây dạy học, phân biệt được từng học trò trong lớp đã là chuyện nan giải đối với các cô. Rồi làm thế nào mà cô nói được tiếng Dao và học trò nói được tiếng Kinh cũng là cả một câu chuyện rất dài và lắm nhọc nhằn. Không chỉ tiếng Dao, Bát Xát là huyện tập trung nhiều dân tộc thiểu số: Mông, Dao, Hà Nhì… Mỗi bản là một dân tộc sinh sống. Cho nên, trong quá trình “chu du” khắp các điểm trường của huyện, các cô giáo phải thông thạo rất nhiều “ngoại ngữ”. Biết tiếng của đồng bào dân tộc thiểu số mới vận động được họ cho con đến trường. Biết tiếng mới có thể dạy các em tiếng phổ thông nhanh nhất. Dạy học trò làm toán, nhiều khi đề bài trong sách nói về cái kẹo, cái bánh, các cô phải nhanh trí đổi sang bắp ngô, quả bí (kiểu như: em có hai bắp ngô, em cho bạn một bắp hỏi em còn mấy bắp ngô), con gà, con ngựa… thì học sinh mới có thể làm bài. Bởi vì, có những học sinh chưa từng được nếm vị kẹo bao giờ…

Chia tay Ngải Chồ, chúng tôi tiếp tục ngược dốc lên Y Tý. Chiều thứ sáu, đi ngược chiều chúng tôi là những chiếc xe máy chở lỉnh kỉnh túi bọc và người ngồi trên xe nai nịt kỹ càng với mũ bảo hiểm (đồng bào dân tộc thiểu số ở đây đi xe máy chẳng ai đội mũ bảo hiểm bao giờ), khẩu trang, khăn ấm, găng tay. “Các cô giáo cắm bản về nhà đấy!”, thiếu tá Bùi Văn Nguyên, Đồn Biên phòng A Mú Sung bảo vậy. Đúng là toàn cô giáo cắm bản, chiều thứ sáu mới được về với gia đình. Họ ở thị trấn, ở thành phố, ở những vùng thấp hơn. Ai lập gia đình xong cũng phải gửi con ở lại. Họ không mang theo con được, kể cả các cô giáo nên duyên với bộ đội biên phòng ở những đồn gần nhất thì con cũng phải về với ông bà, còn bố mẹ lên với núi. Bởi lẽ, ở nơi tận cùng heo hút thế này, điều kiện để học hành và phát triển của trẻ em quá đỗi ít ỏi. Nếu từ Y Tý ngược ra thị trấn Bát Xát vào sáng sớm thứ hai, chắc chắn sẽ gặp lại rất nhiều cô giáo cắm bản đang lầm lũi bám từng con dốc lên với miền mây trắng rừng xanh này để gieo chữ trên trập trùng đồi núi.

Mới đầu tháng 11 dương lịch, nhưng lạ lùng là những cây đào từ thị trấn Bát Xát lên đến A Mú Sung rồi Y Tý đều đồng loạt xòe hoa. Mà điểm trường nào chúng tôi qua, từ Lũng Pô, đến Ngải Chồ, qua A Lù, Y Tý, Lao Chải, Sim San… đều có những cây đào vươn cành khỏe khoắn. Sắc đào làm khung cảnh bừng lên rạng rỡ. Tôi cứ lan man nghĩ về ngày 20/11 của các cô giáo vùng cao. Chỉ có những cây đào dường như thấu hiểu, cố gắng xòe hoa sớm, để tặng các cô lời chúc mừng và tri ân thầm lặng…

3/11/2015

Việt Nga
(Hội VHNT Hải Dương)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 380

 

Ý Kiến bạn đọc