Truyện ngắn

Con chim quý

Chiếc ô tô sang trọng đưa vợ chồng ông Thìn từ thành phố về thăm người anh trai. Mấy hôm trước, đọc báo Cựu binh, biết ông Thuần nuôi chim cút lấy trứng, ông Thìn vừa mừng lại vừa thương anh. Mừng vì thấy anh chị đã có thêm nguồn thu nhập, còn thương vì anh tuổi đã cao, sức đã yếu, mà vẫn còn phải loay hoay lo việc kiếm tiền.

Với ông Thuần, thì cái nghề nuôi chim lại là nguồn vui. Vì thế, khách đến chơi, ông thường mang việc nuôi chim ra kể. Hôm nay ông dẫn vợ chồng ông Thìn đi xem nơi nuôi chim, để khoe rằng anh chị đã có một nghề mới và có nguồn thu ổn định.

Vợ chồng ông Thìn theo chân ông Thuần vào căn nhà thấp nhỏ. Ở đó, ông Thuần làm mấy dãy chuồng bằng tre để nhốt chim. Những con chim cút to chừng vốc tay, màu lông sẻ, vừa ăn vừa kêu chin chít. Mùi hôi từ phân chim tỏa ra ngột ngạt. Ông Thuần như đã quen với mùi đó, vẫn vui vẻ chuyện trò:

- Nuôi chim vất vả, nhưng bù lại, vốn ít mà lãi khá. Nếu cho chim ăn tốt, tỉ lệ đẻ tới trên 80%. Tiền bán trứng, một nửa dùng mua cám cho chim, nửa còn lại để chi tiêu cho gia đình…

Bà Thìn nghe thì biết vậy, chứ bà chẳng mấy quan tâm đến chuyện cám với chim. Bà muốn nhanh chóng ra khỏi cái nơi nặng mùi khăm khẳm đến nhức óc này. Ông Thuần vẫn cởi mở:

- Nếu có thêm 5 triệu, tôi tăng số chim nuôi lên gấp đôi, thì không còn phải lo gì chi tiêu cho các cháu ăn học nữa…

Ông Thìn tay bịt mũi, nói câu gì đó không ai nghe rõ. Bất chợt như phát hiện ra điều gì, ông cúi sát người xuống, rồi chỉ một con có túm lông hoe vàng trước vùng ức, nói với ông Thuần:

- Anh để cho em con này, còn số vốn 5 triệu anh cần, em sẽ giúp anh chị, coi là khoản “viện trợ không hoàn lại”…

Nghe mấy tiếng “viện trợ không hoàn lại”, bà Thìn trừng mắt nhìn chồng. Cái nhìn của bà đầy uy lực, mà chỉ ông Thìn hiểu được bà muốn nói rằng: “Tiền của tôi không phải lá cây rụng, mà ông mang 5 triệu đổi lấy một con chim cút nhá!”. Ông Thìn nghĩ bụng: Vợ ông là thế. Khi bỏ tiền ra thì bà ấy chặt chẽ, nhưng nếu có lợi, thì bà ấy sẽ là người vui nhất trên đời. Ông Thuần thì không thấy cái tín hiệu từ bà Thìn phát ra, nên vẫn vui vẻ bảo:

- Chú thím lấy mấy con thì lấy, con nào cũng được. Còn số tiền tôi cần, nếu chú thím có thì cho tôi vay, sau này tôi sẽ trả.

Ông Thìn nói để ông Thuần yên lòng:

- Anh đừng ngại. Em được như ngày nay cũng là nhờ bố mẹ và anh.

Bây giờ anh chị khó khăn, lẽ nào em không giúp đỡ?

Ra khỏi nhà chuồng, vợ chồng ông Thìn mới nhận ra đã có mấy phút mải chuyện, mà quên đi cái mùi khăm khẳm. Bây giờ lại thấy cái mùi ấy ở đâu đó, như ở quần áo, đầu tóc hay trong người họ.

Suốt dọc đường về, bà Thìn im lặng, mặt nặng như chì. Về đến nhà, bà hỏi chồng:

- Anh nghĩ sao mà bỏ ra cả đống tiền để đổi lấy con chim ranh này? Anh em ai có phận nấy, sao anh lại tự tiện mang tiền nhà đi lo việc của anh mình, hả?

Ông Thìn cười khì khì:

- Em cứ bình tĩnh. Đây là con chim quý. Mình không thiệt đâu mà lo…

Bà Thìn nổi khùng:

- Quý, quý cái con khỉ! Một con chim cút bán ở chợ chỉ năm bảy nghìn đồng là cùng. Vậy mà…

Ông Thìn cười lớn:

- Em chỉ biết một, mà cuộc sống thì có cả triệu điều cần biết. Em nghe đây: Năm triệu của mình, chưa đáng một cái lông của con chim này đâu…

Đoạn ông kể về điều bí mật của con chim.

So-503--Ba-gia-Mong-Bich---Anh-1
Bà già – tranh lụa – Mộng Bích.

*
Cách đây chưa lâu, một lần ra nước ngoài, ông đã gặp một bà già kì lạ. Bà ta ngồi trên chiếc ghế ở công viên. Thấy ông đi qua, bà ấy gật đầu chào. Ông đáp lễ rồi làm quen:

- Thưa cụ, cụ tới đây ngắm cảnh ạ?

- Vâng – Bà già đáp – Những hôm đẹp trời như thế này, tôi vẫn tới đây ngắm cảnh công viên. Còn ông, hình như là người nước ngoài?

- Vâng ạ – Ông Thìn nói – Tôi từ phía Nam, mới tới đây mấy ngày. Thưa cụ, nhà cụ cách đây bao xa, mà cụ đi một mình, không có ai giúp ạ?

Cụ già chậm rãi:

- Nhà tôi ở cách đây cũng hơi xa, nhưng tôi còn tự đi được. Vả lại, con cháu gần của tôi thì đã qua đời cách đây hơn 2 nghìn năm rồi, còn những đời sau thì họ với tôi đều là người xa lạ…

Ông Thìn im lặng, nghĩ là mình nghe nhầm. Cụ già cười hồn nhiên:

- Kìa, sao ông lại im lặng thế? Có phải ông thắc mắc rằng, tôi bao nhiêu tuổi mà con cháu gần của tôi đã qua đời cách đây hơn 2 nghìn năm không? Ôi, đây là câu chuyện dài! Nếu ông muốn nghe, thì tôi sẵn sàng kể…

Trí tò mò của ông Thìn bị đánh thức. Ông bảo:

- Dạ, tôi rất vui nếu được cụ cho nghe chuyện ạ.

Cụ già dọn giọng, rồi nói:

- Vậy thì tôi bắt đầu nhé! Nhưng trước hết, ông xem cái này đã…

Nói rồi bà già lục túi lấy ra tờ giấy đặt vào tay ông Thìn:

- Ông đọc đi, sẽ rõ…

Ông Thìn sửng sốt. Sao lại có người sinh vào năm này, mà còn sống đến bây giờ? Ông nghĩ, có thể đây là giấy tờ của người xưa, chứ bà ta không thể là chủ nhân của chúng. Hình như đoán được ý nghĩ của ông Thìn, bà già đưa tờ giấy khác:

- Ông xem tiếp đi. Đây là giấy chứng nhận của cơ quan khoa học đương thời của nước chúng tôi. Ông biết rồi đó, khoa học ngày nay có thể xác định chính xác tuổi của một cái cây, một động vật hay một vật thể bất kỳ nào đó…

Ông Thìn càng kinh ngạc hơn khi đọc tờ giấy này. Bà già vẫn chậm rãi:

- Ngoài những giấy tờ trên, còn một cách nữa là ông kiểm tra tôi về bất cứ điều gì ông muốn. Ví như một sự việc, một con người nào đó ở cái thời xa xôi ấy. Cốt là để tôi chứng minh với ông rằng, tôi đã sống vào thời đó. Nào, mời ông!

Ông Thìn nghĩ bụng: Bà ta có thể nói theo sử sách hoặc truyền thuyết… Nhưng không sao, ta cứ thử xem. Ông quyết định hỏi về một số nhân vật nổi tiếng và tai tiếng thời ấy:

- Thưa cụ, cụ có biết ông Quý Cao, làm quan Sĩ sư nước Vệ không ạ?

Bà già cười:

- Có! Quý Cao là em họ bên ngoại tôi. Ông ấy làm quan coi xét về hình ngục. Có nhiều chuyện về ông ấy, nhưng tôi kể ông nghe một chuyện mà tôi rất nhớ. Lần ấy nước Vệ có loạn, Quý Cao phải chạy trốn. Ra đến cổng thành, Quý Cao gặp người coi giữ cổng lại chính là người mà mình đã làm án chặt chân ông ta. Quý Cao đinh ninh, người này sẽ trả thù mình. Nhưng không. Ông ta đã chỉ cho Quý Cao chỗ trốn, nên thoát nạn. Trước khi ra khỏi thành, Quý Cao hỏi người gác cổng: “Ta đã làm án chặt chân ngươi, nay có dịp, sao ngươi không trả thù, lại còn cứu ta?”. Người gác cổng bảo: “Tôi có tội thì phải chịu án, nhưng tôi biết, khi luận tội, ông đã tìm lý lẽ để giảm tội cho tôi. Khi mang tôi ra hành hình, mặt ông đã lộ vẻ buồn. Ông như thế chẳng phải vị nể gì tôi, mà vì cái đức của người quân tử trong ông. Vì thế mà tôi phục ông, muốn cứu ông”.

Bà già ngừng giây lát rồi nói tiếp:

- Sau chuyện này, tôi hỏi Quý Cao: Cậu làm pháp luật, chặt chân người ta, mà người ta vẫn ơn cậu, là sao? Ông ấy bảo: Người làm pháp luật mà có cái tâm trong sáng, thì sẽ công minh. Khi mình đã công minh, thì người bị án dù có phải chịu mức án thế nào, người ta vẫn nể phục mình. Ngược lại, nếu vì vụ lợi cá nhân, mà làm sai lệch vụ án, ví như việc bé xé ra to, hoặc việc to vo thành bé, làm thay đổi bản chất vụ án, thì chẳng những không lợi gì cho trị quốc, an dân, mà người đời sẽ coi thường mình, tiếng xấu sẽ lưu truyền hậu thế…

Ông Thìn hỏi tiếp:

- Thưa cụ! Cụ có biết ông Đặng Tích, làm quan Đại Phu nước Trịnh không ạ?

Bà già gật nhẹ đầu:

- Tôi biết. Ông ấy là anh họ bên nội tôi và là nhà luật pháp giỏi của nước Trịnh. So với Quý Cao, thì Đặng Tích là chỗ họ mạc gần hơn. Nhưng tôi lại không thích Đặng Tích, vì ông ta làm quan mà không liêm. Có chuyện thế này: Năm ấy nước sông Vĩ lên to. Nhà giàu nọ chẳng may có người chết đuối. Một người làm nghề sông nước đã vớt được xác người nhà giầu. Người nhà giàu và người vớt xác trao đổi mãi mà không thỏa thuận được giá cả của việc vớt xác, nên cả hai người đã lần lượt gặp Đặng Tích để nhờ phân xử. Đặng Tích bảo người nhà giàu rằng: “Cứ để yên. Nó còn bán cái xác ấy cho ai được mà sợ”. Đến lượt người vớt xác hỏi, Đặng Tích lại bảo: “Cứ để yên. Nó còn mua được cái xác ấy của ai mà sợ”. Do không thỏa thuận được giá cả, mà cái xác bị kéo dài việc chôn cất.

Bà già thở dài:

- Lần ấy tôi hỏi Đặng Tích: Sao anh không khuyên người nhà giầu trả thêm cho người vớt xác một ít tiền nữa rồi lấy xác về mà chôn? Mặt khác, sao anh không khuyên người vớt xác làm phúc mà bớt tiền rồi trao xác cho người ta? Đặng Tích đã lạnh lùng hỏi lại tôi: “Làm như cô nói, thì anh được gì? Phải để cho họ kiện nhau, thì tôi mới có lợi chứ! Cô không nghe người ta nói: “Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ” à? Sau chuyện này, tôi không còn thân thiết với Đặng Tích nữa.

Đến đây thì phần nào ông Thìn đã bị bà già thuyết phục, nhưng ông vẫn chưa tin hẳn, nên nói:

- Tôi muốn hỏi cụ thêm điều nữa…

Bà già vui vẻ:

- Ông cứ hỏi.

- Thưa cụ! Cụ đã sống qua hàng nghìn năm, cụ thấy con người xưa và nay có gì khác nhau không ạ?

Cụ già bất chợt hỏi lại:

- Ông là nhà báo à?

Ông Thìn bảo:

- Dạ, không! Tôi là doanh nhân. Việc của tôi là ở thị trường. Nếu điều tôi vừa hỏi có gì không thuận, thì bà cho qua ạ.

Bà già vội vã:

- Ấy không! Chỉ là do tôi học hành không nhiều. Vốn sống mà tôi có, chủ yếu qua trải nghiệm. Vì thế tôi không muốn cuộc trò chuyện này đưa lên báo chí. Nhưng không sao.

Tôi sẽ trả lời câu ông hỏi.

Bà già nhìn vào nơi xa xăm nào đó, rồi nói:

- Điều tôi thấy rõ nhất, là con người ngày càng giỏi giang và xã hội loài người ngày càng nhân văn. Nhưng, cũng nói thật, có hai điều, là lòng tham và sự độc ác, thì tôi thấy người xưa và người nay vẫn thế. Vì lòng tham, mà người ta giành giật, gian dối, lừa lọc… lẫn nhau, để vơ vét cho mình. Nhưng đáng nói hơn, là lòng tham ở tầm quốc gia. Nó thể hiện ở những cuộc xâm lăng nước khác dưới nhiều hình thức. Ông biết không, ở vùng này vào thời xa xưa, là lãnh thổ của hàng trăm quốc gia và bộ tộc độc lập. Vì lòng tham, mà các quốc gia và các bộ tộc mạnh đã đi thôn tính những quốc gia và bộ tộc yếu. Đến bây giờ như ông đã thấy, cả vùng này chỉ còn có mấy nước. Vậy là hàng trăm chủ thể đã bị xóa tên và đồng hóa. Chính tôi cũng là người không còn quốc gia gốc gác của mình. Quá trình đi thôn tính lãnh thổ khác, người ta đã dùng đến binh đao. Cả nghìn, cả vạn con người đã từng bị chết trong một cuộc thôn tính, để lại vô vàn đau thương cho nhân thế. Đó chính là sự độc ác của con người. Ngày nay, tôi thấy cả lòng tham và sự độc ác vẫn đang hiện hữu ở đâu đó. Bằng những vũ khí hiện đại, con người ngày nay có thể chỉ trong giây phút mà sát hại cả ngàn, cả vạn đồng loại, để đạt lòng tham của mình, thì theo tôi nghĩ, cái sự độc ác thời nay còn khủng khiếp hơn cả thời trước.

Bà già trầm ngâm giây lát rồi nói tiếp:

- Cái sự tham lam và độc ác ấy, tuy là của một số người cầm quyền, nhưng nó là hiện tượng trong xã hội loài người, nên tôi coi là của con người. Tôi cũng đã nghiệm thấy rằng, khi kẻ tham lam mà lại có quyền, có lực, thì chúng có thể làm đảo lộn cả thế giới vì lòng tham đó…

Bà già nhìn ông Thìn:

- Để ông tin, ông có thể hỏi tôi nhiều hơn, về bất cứ điều gì. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên dành thời gian cho phần chính của câu chuyện, ấy là vì sao tôi lại sống lâu như vậy.

Tuy chưa hết nghi ngờ, nhưng ông Thìn muốn biết cái “phần chính” của câu chuyện là thế nào, nên chấp thuận:

- Dạ, vâng ạ!

Bà già chậm rãi kể:

- Ngày ấy, khi tôi vào tuổi 70, thì gặp một trận ốm thập tử nhất sinh. Nhà tôi nghèo lắm, cơm chẳng đủ ăn, áo không đủ mặc. Con trai tôi thì đi lính, bị điều đi xâm chiếm nước người, không nhờ cậy được gì ở nó. Cũng may, trời cho tôi được người con dâu hiếu thuận. Nó chăm sóc tôi rất chu đáo. Nhưng vì nhà nghèo, cố lắm cũng chỉ có rau, có cháo, không có miếng thịt hay quả trứng bao giờ. Bỗng một hôm, trời xui đất khiến thế nào, có một con chim to bằng vốc tay, lông tựa chim sẻ, trước vùng ức có một túm lông hoe vàng, đến làm tổ ở mái nhà, đẻ được một quả trứng. Con dâu tôi phân vân, nửa muốn lấy quả trứng kia cho mẹ ăn, nửa lại ngại. Nó nghĩ, lấy trứng chim thì phải tội, mà không lấy thì lo cho sức khỏe mẹ. Cuối cùng nó đã quyết định lấy quả trứng ấy nấu cháo cho tôi. Tội đâu nó chịu, miễn sao cứu được mẹ. Lạ thay, ăn xong bát cháo trứng chim ấy, người tôi khỏe rất nhanh. Khỏe hơn cả trước khi ốm. Lúc ấy tôi chỉ nghĩ do ăn trứng chim mà khỏe, chứ đâu có nghĩ đến chuyện tăng tuổi thọ. Rồi các con tôi lần lượt đến tuổi về già. Tiếp đến các cháu, các chắt tôi cũng lần lượt đến tuổi về già… Cứ như thế, các thế hệ sau của dòng tộc sinh ra rồi mất đi, mà tôi thì vẫn còn sống. Các danh y nước tôi hồi ấy bảo, do tôi ăn trứng chim quý mà trường thọ…

Bà Thìn nuốt từng lời chồng kể. Thấy vợ chú ý nghe, ông Thìn hứng thú kể tiếp:

- Anh mang câu chuyện của bà già ấy nói với một số người có danh tiếng ở nước này. Họ xác nhận bà cụ ấy đã nói đúng. Họ còn nói, loài chim ấy chính là chim cút, nhưng qua quá trình biến dị, những phẩm chất quý của loài chim này không còn như trước. Họa hoằn lắm, với một xác suất cực nhỏ, nghĩa là phải hàng triệu triệu con mới có một con “lại giống”. Con chim “lại giống” này, cả đời chỉ đẻ một lứa từ một đến hai trứng. Giá một quả trứng ấy trên thị trường hiện nay phải tính bằng vàng. Nhiều người giàu có trên thế giới đã sẵn sàng bỏ ra hàng tấn vàng mua một quả trứng này để được trường thọ…

Nghe xong chuyện, các cơ trên mặt bà Thìn dãn hẳn ra. Vẻ căng thẳng khi nãy biến mất. Thay vào là nét vui tươi, thanh thản. Ông Thìn nhìn vợ:

- Đây chính là con chim quý đó. Thế là chuyến về thăm anh chị Thuần, mình đã gặp may. Bỏ ra mấy triệu cho anh chị, vừa được tiếng thơm, lại vừa có lợi lớn. Vậy mà em lại phản đối anh kịch liệt là sao?

Bà Thìn ấp úng như kẻ biết lỗi:

- Em không biết con chim quý đến vậy, nên mới phản đối. Bây giờ biết rồi, thì em có phản đối nữa đâu?

Ông Thìn làm hòa:

- Thôi, bây giờ ta bàn xem nên để con chim ở đâu? Theo anh thì vợ chồng mình chuyển lên tầng trên, để phòng này cho chim ở.

Bà Thìn không đồng ý:

- Em thấy nên chuyển mẹ lên tầng trên. Chuyển một người đơn giản hơn chuyển hai người.

- Thế cũng được – Ông Thìn trả lời.

Ngay buổi chiều hôm ấy, vợ chồng ông Thìn đã chuyển xong chỗ cho mẹ và đưa con chim vào phòng để nuôi. Ông Thìn còn làm thêm hai cái khóa cửa, ông và bà, mỗi người giữ chìa của một khóa. Khi mở cửa, bắt buộc phải có mặt cả hai người. Từ đấy con chim được chăm sóc và quản lý theo một chế độ đặc biệt.

Một hôm bà Thìn hỏi chồng:

- Khi chim đẻ trứng, mình để dùng hay bán?

Ông Thìn bảo:

- Anh nhường em quyết định. Nhớ là, mỗi quả trứng chỉ một người dùng mới có tác dụng. Nếu nhiều người cùng ăn một quả, thì nó cũng chỉ như trứng chim thường mà thôi.

Bà Thìn nói ngay:

- Vậy nếu nó đẻ hai quả thì ta để ăn. Em một quả, anh một quả. Còn nếu nó chỉ đẻ một quả, thì…

Ông Thìn giục:

- Thì sao? Em nói đi!

Bà Thìn dè dặt:

- Thì để một người ăn. Bán, em tiếc lắm.

Ông Thìn lại hỏi:

- Vậy nếu để ăn thì ai sẽ ăn?

Bà Thìn lúng túng, bảo:

- Anh cứ hỏi khó thế, em không biết trả lời đâu! Vậy theo anh, thì nên thế nào?

Ông Thìn chậm rãi:

- Để anh nghĩ đã. Anh thấy, nếu chim đẻ hai trứng, vợ chồng mình cùng dùng thì chúng mình trường thọ, còn con cháu, chắt, chút, chít… sẽ chết trước, giống như bà già anh đã kể thì cũng chẳng sung sướng gì… Mà bán, thì mình sẽ có rất nhiều tiền. Nhưng, nhiều tiền quá thì cũng chẳng biết tiêu gì? Còn nếu nó đẻ một quả, anh muốn em dùng. Em có ưng không?

Trong khi vợ chồng ông Thìn chưa bàn ngã ngũ việc dùng trứng chim quý, thì một hôm con chim có tiếng kêu lạ. Bà Thìn mừng lắm, chắc là nó sắp đẻ. Bà suy từ con gà, lần đầu lên ổ thường cục ta cục tác mãi rồi mới đẻ. Bà muốn vào xem nó thế nào, nhưng ông không có nhà để cùng mở cửa. Bà gọi điện thoại cho ông về. Khi cửa phòng được mở, họ nhìn sàn chuồng tìm trứng, nhưng không thấy gì. Họ nhìn nhau, rồi lại nhìn chim, hồi hộp.

Con chim quý vẫn thản nhiên ăn, rồi đột ngột vươn cổ, phát ra tiếng kêu ban nãy. Bất chợt ông Thìn vã mồ hôi, người lảo đảo như say nắng, bà Thìn thì mặt tái đi, ngồi bệt xuống nền nhà. Họ cùng lúc nhận ra, đó là con chim đực, bắt đầu biết gáy. Ngay lập tức, ông Thìn lôi con chim ra khỏi chuồng, cằm hai chân nó, đập mạnh vào tường. Con chim rũ xuống, bất động.

Buổi chiều ấy, ông Thìn lại chuyển mẹ về phòng cũ. Bà cụ không hiểu mà cũng không hỏi vì sao lại chuyển đi chuyển lại chỗ ở của bà. Nhưng bà đã hỏi rằng, sao trong phòng có mùi gì khó chịu?

Câu chuyện về con chim quý đến đây đã khép lại, nhưng bài ca “Tiền của tôi không phải lá cây rụng”, thì lại bắt đầu. Phải đến một ngày mấy tháng sau đó, bài ca ấy mới dừng. Đó là hôm ông Thuần lên thăm mẹ và mang tiền hoàn trả vợ chồng ông Thìn. Bà Thìn nhìn anh chồng, nói:

- Nhà em bảo đây là khoản viện trợ không hoàn lại, mà bác vẫn cứ trả, thì em đành phải nhận…

Ông Thuần bảo:

- Tôi vẫn nói là vay và sẽ trả chú thím mà. Anh em với nhau mà nói lời cảm ơn thì khách sáo. Nhưng đúng là chú thím đã giúp đỡ tôi rất có hiệu quả…

Từ nãy đến giờ ông Thìn vẫn im lặng nghe anh ruột và vợ mình đối thoại. Bất giác ông nhớ lại lời bà già kì lạ nói về lòng tham, mà thấy chạnh lòng. Thì ra lòng tham là thứ vô hình, nhưng có trong máu người ta, khi có dịp là nó xuất hiện. Việc ông muốn nẫng tay trên con chim quý từ anh mình, chẳng phải lòng tham đó sao?

Đến tận bây giờ, câu chuyện về con chim quý vẫn được giữ kín. Ngoài vợ chồng ông Thìn ra, không ai biết chuyện này. Đôi lúc ông Thìn muốn phơi bày câu chuyện con chim quý ra trước thanh thiên bạch nhật để được nhẹ lòng. Nhưng ông đã không dám làm vậy…

Nguyễn Văn
(TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 503

Ý Kiến bạn đọc