Tản văn

Còn bao nhiêu Mẹ Liệt sỹ như thế

Nhớ câu thơ của Xuân Quỳnh

Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi.

Mẹ già lắm rồi. Không biết có bao nhiêu lần ông mặt trời soi qua khe cửa, bao nhiêu buổi hoàng hôn tím ngắt để rồi mẹ ngồi bên bậu cửa ngóng đứa con trai của mẹ trở về.

Tôi và Phùng Văn Kế (Thụy Vân, Việt Trì, Phú Thọ) cùng nhập ngũ tháng 12-1970, cùng vào chiến trường, cùng học lớp y tá tại bệnh xá của trung đoàn 66-Sư đoàn 10 mặt trận Tây Nguyên.

Tháng 10-1972, chúng tôi theo đội phẫu tiền phương phục vụ chiến dịch giải phóng Plây Cần (Bến Hét). Tháng 11-1972, lại phục vụ chiến dịch Đăk Xiêng. Đêm hôm ấy hai chúng tôi cùng đội phẫu đi xuống chốt, lạc vào trận địa DKZ của ta và bị B52 vùi suýt chết.

Cuối năm 1972, tôi được điều về làm y tá của đơn vị bộ binh, Phùng Văn Kế về đơn vị pháo phòng không 12 ly 7.

Tháng 1-1973, đơn vị tôi đánh chiếm điểm cao 601- Đăk Hà (cách thành phố Kon Tum khoảng 8 km về phía bắc). Đại đội 7 cùng khẩu đội 12 ly 7 ở lại giữ chốt, hàng ngày đội bom, đội pháo của địch và đánh lui hàng chục đợt phản kích của bộ binh Ngụy.

Để giảm bớt quân số trên cao điểm, giảm thương vong và mở rộng tầm bao quát chi viện cho chúng tôi đánh bộ binh và bắn máy bay của địch. Kế cùng khẩu đội chuyển ra ngoài khu vực hàng rào kẽm gai đào hầm.

Hôm ấy khoảng hơn 3 giờ chiều, bom im, pháo địch vừa ngừng bắn. Bỗng có tiếng nổ làm rung chuyển cả điểm chốt. Tôi chui ra khỏi hầm, một cột khói đen sì bao trùm phía ngoài hàng rào, cây cối, đất đá bay tơi tả. Có ai đấy nói vội vàng: – Bom nổ chậm rồi!

Phía khẩu đội 12 ly 7 thấy bộ đội chạy xô đến vị trí vừa nổ. Tôi đang phân vân: Có ai việc gì hay không, thì điện thoại của đơn vị Kế gọi y tá bộ binh sang ứng cứu.

Tôi xách túi cứu thương cùng mấy chiến sỹ len qua hàng rào kẽm gai chạy sang. Trước mắt tôi cảnh vật thật thê thảm: Khói đen, cát bụi nát bét cây cối xung quanh, người ta đang nhặt những mảnh còn sót lại của liệt sỹ. Một thương binh máu đỏ lòm đầy mặt chỉ còn hai con mắt chớp chớp.

Tôi được biết: Đào gần xong công sự chiến đấu, Kế và một chiến sỹ liên lạc đại đội vào rừng chặt gỗ về làm hầm. Người đại đội phó đứng dưới hầm sửa sang và hoàn thiện nốt công việc còn lại. Kế vác bó gỗ về, vừa nặng lại vừa mệt, Kế lao bó gỗ xuống cạnh hầm không ngờ trúng quả mìn chống tăng của địch gài còn sót lại. Cả người và bó gỗ bay lên trời.

Khu-Di-tich-Lich-su-Cach-mang-Diem-cao-601
Khu Di tích Lịch sử Cách mạng Điểm cao 601 – Ảnh: doanhnhansaigon.vn

Người đại đội phó đang lom khom xúc đất dưới hầm, mảnh mìn cắt ngang qua mặt, sống mũi bị chia làm hai, nửa khuôn mặt và môi trên sệ xuống không nhìn thấy mồm miệng đâu cả, máu phì phì tuôn ra từ cái miệng vết thương toang hoác ấy.

Ở trong trường, chúng tôi được học cách xử lý các vết thương phức tạp như vết thương đứt động mạch cổ, vết thương sọ não và vết thương ổ bụng. Đứng trước người thương binh này tôi thật lúng túng: Băng bó cầm máu làm sao đây khi sống mũi thì gồ ghề, nếu băng thật chặt thì thương binh thở bằng cách nào trong khi mồm và mũi đều tịt cả. Máu cũng có thể chạy ngược vào xoang mũi và tràn dịch trong phổi. Dù sao thì cũng phải băng vết thương lại, trước tiên tôi tiêm cho anh hai ống thuốc cầm máu.

Người đại đội phó ấy ra hiệu cho tôi dừng tay. Anh cúi xuống, nhổ cục máu đông trong miệng, hai tay đẩy hai cánh mũi lên cho miệng hở ra, máu chảy qua lỗ mũi thành dòng, anh nói:

- Lần này có thể tôi phải nằm viện rất là lâu. Ngày mai là ngày chuyển Đảng chính thức của tôi, các đồng chí ở lại làm thủ tục cho tôi được chuyển Đảng đúng hạn định. Còn thằng Kế, các đồng chí cố gắng tìm kiếm, thu gom và an táng cho nó chu đáo.

Nói xong anh để cho tôi băng bó. Tôi đặt một lượt băng dưới lỗ mũi, vắt qua hai bên tai, kéo ngược về sau gáy cho miệng vết thương liền với nhau, mồm rộng ra để thở, sau đó dùng băng cuốn chặt ngang qua mặt. Tôi bảo: – Anh cứ cúi xuống và cố gắng thở bằng miệng, không được cáng nằm ngửa vì máu dễ tràn vào phổi lắm đấy! Sau đó người ta dìu anh về đội phẫu tiền phương. Từ ngày ấy đến nay tôi cũng không rõ quê quán người đại phó ấy ở đâu và số phận sau này ra sao nữa.

Sau chiến tranh, những người lính còn sót lại họ tìm đến nhau mừng mừng, tủi tủi. Cho dù cuộc sống còn nhiều vất vả gian nan nhưng họ thật tự hào về quãng đời đầy oanh liệt của mình.

Tìm đến các gia đình liệt sỹ. Trước gương mặt nhăn nheo khắc khổ và dòng nước mắt của mẹ. Chúng tôi như những đứa trẻ đầy tội lỗi: Con của mẹ đâu? Tại sao nó không cùng về? Nó nằm ở chỗ nào? Sao con không quay lại cứu nó cho mẹ?

Không một câu ca thán, không một lời trách nhưng chúng tôi giống như một kẻ hèn nhát, bỏ đồng đội để chạy thoát thân một mình.

Chính vì vậy mà sau hơn 20 năm tôi mới tìm đến gia đình Liệt sỹ Phùng Văn Kế. Hỏi thăm loanh quanh thì có một cháu gái dẫn đến tận nơi. Ngôi nhà lá hai gian nhỏ bé, vách nứa, cửa phên vắng lặng. Nghe tin có đồng đội của liệt sỹ đến thăm, anh em họ mạc, bà con lối xóm cận kề chạy đến. Người ta bảo nhau đi tìm mẹ về.

Dai-tuong-niem-Di-tich-Diem-cao-601---Anh
Đài tưởng niệm Di tích điểm cao 601 – Ảnh: trip-suggest.com

Bố Kế mất sớm, một mình mẹ tần tảo nuôi 3 đứa con ăn học, trên Kế là ông anh trai, sau Kế là cô em út. Chiến tranh kết thúc cả anh và em đều yên bề gia thất nhưng mẹ không ở cùng với ai cả. Một mình mẹ với căn nhà lá đơn sơ như ngày nào Kế đi nhập ngũ.

Người ta dìu mẹ về, một cụ già gầy gò, nhỏ thó chừng 80 tuổi với bước chân vội vàng tất tả. Mẹ nhận ngay ra gương mặt lạ hoắc của tôi giữa đàn con cháu quen thuộc của mình. Ánh mắt ngời sáng chợt lóe lên rồi vụt tắt: Nó không phải là thằng Kế! Mẹ lầm lũi bước lên thềm.

Ngôi nhà lá hai gian một chái, phía bên kê chiếc giường tre của mẹ, gian giữa kê bộ bàn ghế cũng bằng tre cũ kỹ, dọ dẹo. Bên kia, một bàn thờ khói hương nghi ngút ở đó có tấm ảnh liệt sỹ phóng to bằng sơn mài.

Kế ở đó trẻ trung và tươi tắn như ngày nhập ngũ. Tôi chợt nhận ra rằng: Đối với mẹ, Kế không bao giờ chết, nó vẫn ngây thơ như ngày nào và rất cần bàn tay chăm sóc của mẹ. Đã xa lắm rồi, lâu lắm rồi nó không về thăm mẹ nhưng rồi nó sẽ trở về và ôm chầm lấy mẹ, nó nhận ra hơi ấm của người mẹ đã dưỡng dục và sinh thành ra nó. Cứ chiều chiều khi đặt nồi cơm lên bếp mẹ lại ngóng ra đường, mẹ cứ chờ, cứ đợi trong hoài niệm chập chờn nhận ra bóng thằng Kế chạy về.

Chính vì thế mẹ cứ một mình ở trong ngôi nhà xưa ấy không cho ai sửa chữa lại. Mẹ sợ khi thằng Kế trở về nó sẽ không nhận ra ngôi nhà, mảnh sân và con đường thân thuộc của mình. Nếu như nó thật sự không bao giờ trở lại thì hàng đêm hình ảnh nó vẫn mãi mãi bên mẹ, ở trong ngôi nhà ấy và hai mẹ con sưởi ấm cho nhau.

Tôi xin phép gia đình thắp cho liệt sỹ nén hương, mẹ nhìn tôi lặng đi trong nước mắt. Khi mùi hương lan tỏa, đôi vai gầy của mẹ run lên, những tiếng nấc xót xa và thương con sâu thẳm.

Tôi lúng túng khi thấy người ta đặt mẹ nằm xuống giường và thay nhau xoa lên ngực cho mẹ. Người anh trai của Kế bảo: – Năm nào cúng giỗ cho chú ấy mẹ đều nấc lên như vậy đấy! Thôi chú sang bên nhà tôi uống nước!

Thế đấy! Ngày xưa chúng tôi ra đi tuổi xuân phơi phới có bao giờ hiểu thấu nỗi lòng người mẹ mong nhớ những đứa con của mình sống trong lửa đạn như thế nào. Chúng tôi từng giờ, từng phút đối mặt với cái chết và cũng sẵn sàng chấp nhận sự hy sinh của mình vì danh dự gia đình và vì Tổ quốc. Người ở nhà, một nỗi chờ đợi mỏi mòn, dai dẳng và sợ hãi đến nhường nào.

Tôi gặp mẹ của Liệt sỹ Nguyễn Đức Kiến, xã Tiên Kiên – Lâm Thao – Phú Thọ, có một con là liệt sỹ. Gặp mẹ Hà Thị Đào, xã Tứ Xã – Lâm Thao – Phú Thọ có hai con là liệt sỹ hy sinh trong cùng một tháng. Đời sống của các mẹ và gia đình chính sách còn nhiều khó khăn lắm. Nhưng các mẹ dành dụm, chắt chiu từng đồng tiền trợ cấp ít ỏi của mình, năm này sang năm khác để mong tìm thấy các con và đón chúng nó trở về.

Các mẹ liệt sỹ đã vào cái tuổi xưa nay hiếm, trái chuối chín cây không biết ngày nào rụng. Con của mẹ đâu?! Cuộc đời còn lại của mẹ chỉ mong ước một điều: Tìm thấy các con và đưa chúng nó trở về bên mẹ. Một việc tưởng như giản đơn thế mà có khi không bao giờ thực hiện được. Con của mẹ đang ở một vùng xa xôi lắm, cũng có đồng có ruộng, có xóm có đồi, có đồng đội bên cạnh và cũng có những người mẹ yêu thương các con như chính con đẻ của mình vậy. Các con đã hóa thân vào non sông đất nước, là hình tượng mà dân tộc ta thờ phụng.

*
Điểm cao 601 nằm án ngữ cạnh con đường huyết mạch nối thị xã Kon Tum – Võ Định – Diên Bình đến quận lỵ Đak Tô – Tân Cảnh và phía bắc Tây Nguyên. Sau 40 năm trở lại, cao điểm 601 giống như một con gấu bị trọng thương nằm phủ phục ven QL 14 (Đường Hồ Chí Minh). Trên thân hình nó đã gánh chịu biết bao nhiêu bom đạn của cả hai phía, bao nhiêu trận kịch chiến đã xảy ra tại đây. Không còn nhận ra hình hài của các lớp rào kẽm gai, không còn dấu tích của chiến hào công sự. Thế nhưng, hình ảnh trận đánh và giữ 601 vẫn sống động như ngày nào. Nhận bàn giao trận địa của đơn vị bạn, C7-D8-E66-f10 ở lại giữ chốt. Từ sáng đến tối từng căn hầm, từng con người phải hứng chịu biết bao nhiêu bom đạn của kẻ thù. Trận chiến giằng co căng thẳng từ ngày này sang ngày khác, hết pháo lại bom, có nghĩa là bom đạn Mỹ không thiếu, chúng thoải mái đổ xuống cái đỉnh đồi mà chỉ có khoảng gần 20 người chốt giữ. Ai đã từng cắt đường giữ chốt, ai đã từng ngồi nhìn những quả bom lừng lững lao xuống đầu mình và chỉ còn một cách là bịt tai chờ chết. Lính cũ bảo: – Này! Khi nào mà còn nghe thấy tiếng nổ của pháo và bom có nghĩa là mình chưa chết! Thằng địch cứ nghĩ rằng: Với sức tàn phá của bom đạn như thế kia thì con kiến cũng táng đởm, kinh hồn bạt vía. Vậy chúng tôi thì sao: Không thể bỏ đồng đội ở lại để chạy thoát thân một mình. Đảo ngũ ư! Danh dự Tổ quốc, gia đình và bản thân. Chết thì chết! Cứ hai đến ba người một hầm sẵn sàng hi sinh. Mày đánh trúng hầm thì “Bọ” chết, nếu chưa chết thì bộ binh mày cứ mò lên đi! Hết đợt bom dội xuống, pháo bắn tràn lên điểm chốt là bộ binh địch mò lên. Nguyễn Văn Khoản (Sơn Dương – Lâm Thao – Phú Thọ) khi vừa nhô lên quan sát thì thấy tên lính Ngụy đi đầu đội hình chỉ còn cách cửa hầm khoảng 6 mét. Bốn con mắt nhìn nhau, Khoản vội vàng nổ súng, tên Ngụy lăn nhanh xuống dốc và lọt xuống lòng một hố bom. Khoản tung trái US xuống hố bom, 3 tên Ngụy chạy tóe lên lăn xuống chân đồi. Có hôm bom đánh ngay bên cạnh làm sập một góc hầm chiến đấu, cả 3 người bị sức ép hộc máu mồm, máu mũi, chưa chết! Họ vẫn không rời trận địa. Xác lính Ngụy nằm rải rác trong chiến hào, có người lính bị thương còn thoi thóp, sau trận bom chiến hào sập xuống chỉ còn hai cẳng chân cứng ngắc thò ra. Đúng 5 giờ sáng ngày 28-1-1973, gần đến phút cuối cùng của Hiệp định Paris được ký kết, một trận bom B52 rải thảm trút xuống cao điểm. Rất may toàn bộ số bom lại rơi phía sau trận địa. Chiến sỹ nuôi quân Lý Sài Quẩy (Sa Pa – Lào Cai) vừa đưa cơm lên chốt về đến hầm thì bom đánh trúng đoạn đường vừa đi qua, thoát chết. Thế đấy, chiến tranh vô cùng tàn khốc mà không sách bút nào tả hết được. Sau mỗi trận mưa, thỉnh thoảng người ta vẫn bắt gặp những chiếc đầu lâu vô thừa nhận từ trên chốt lăn xuống ven đường. Con dốc đi qua điểm cao 601 dân gian còn gọi là dốc Đầu lâu!

Cao điểm 601 được nhà nước công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Đài tưởng niệm uy nghi ghi lại chiến công và chiến tích mà nó đã từng chứng kiến. Biết bao nhiêu người con đất Việt đã ngã xuống nơi đây. Phía bên kia đường, một tháp chuông với bức tượng Phật Quan Thế Âm Bồ Tát đang được xây dựng, cầu mong cho dân yên, phúc thái. Bên cạnh đường lên đỉnh chốt, người ta dựng lên một chiếc miếu thờ cho những anh linh còn nằm lại vảng vất nơi đây lúc nào cũng đầy ắp thẻ hương và khói nhang nghi ngút.

Đứng bên đài tưởng niệm, tôi thắp những nén hương cầu mong anh linh đồng đội của mình hy sinh tại đây được thảnh thơi, siêu thoát về cõi vĩnh hằng. Nắng tràn trên đường 14, xung quanh vắng lặng đến nao lòng. Một nỗi buồn thật khó tả.

Ngày 12-4-2015

Hoàng Kim Hậu
(Huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 470

Ý Kiến bạn đọc