Văn học nước ngoài

Con báo đen

Wong Koi Tet Là Giảng Viên Trường Đại Học Công Nghệ Nanyang Kiêm Nhà Văn, Phóng Viên Tự Do. Anh Tham Gia Nhiều Tạp Chí Singapore, Đã Xuất Bản 4 Cuốn Sách, Bao Gồm 1 Tập Thơ, 1 Tập Tiểu Luận, 2 Tập Văn Xuôi Và Truyện Ngắn.

 

Sau hơn 3 tiếng đồng hồ ngồi phục kích với đám cây cành đan chéo che kín người, Ong Par như muốn chết cứng. Trong tâm trí anh chỉ tồn tại một ý nghĩ, nếu không vượt qua thì đừng mong có được thằng con trai. Mồ hôi túa ra, quyện với cái nóng ẩm của rừng trũng xứ nhiệt đới và âm thanh rền rĩ của đám côn trùng khiến đầu Ong Par nhẹ đi. Trong cái lâng lâng, anh như thể thấy được tương lai 20 năm nữa, thậm chí cả đám tang của chính mình.

Ở đám tang ấy, người vợ mà Ong Par đã cưới trước khi tròn 20 tuổi già nhăn nheo vì tháng năm trôi. Bà khóc thút thít, lê từng bước theo đám đông bạn bè và hàng xóm, cả những người mà anh không biết mặt. Nhìn tổng thể, họ như đoàn quân lỏng lẻo, rệu rã bước dưới bầu trời u ám, rền rĩ. Nếu giữa cái cảnh đưa tang thê lương này mà không có thằng con trai thương tiếc bố, Ong Par nghĩ mà rùng mình. Anh hít một hơi sâu. Không khí nhuốm màu lân tinh trong đầm lầy sắc lạnh, lập tức nhắc cho Ong Par biết đang ở trong khu rừng hoang vắng phía tây bắc chứ không phải đám tang bản thân. Anh nhìn chằm chằm vào Or Soh, con lợn nái đang nằm bẹp cách mình chừng 30 thước rồi đảo mắt quan sát xung quanh, hy vọng thấy tia sáng phản chiếu ra từ đôi mắt của một con báo đen.

Or Soh to ngang ngửa con hà mã, một chân bị buộc dây nylon và sợi dây này cột vào cây cọc đóng trên nền đất khô nứt nẻ. Ban đầu, nó giãy giụa, kêu rống dữ dội nhưng dần dà, dưới cái nắng như thiêu như đốt, nó kiệt sức, ngồi bệt và nằm phịch xuống một búi cỏ. Phải hết lời năn nỉ ỉ ôi và tốn cả một thùng bia, Ong Par mới mượn được con lợn này của nhà chị vợ. Anh giải thích với chị rằng, thầy bói bảo lợn nái mang năng lượng tích cực, hữu ích cho vợ mình. Thế nhưng, đó chỉ là lời nói khoác. Ong Par đánh hơi được tin, một con báo đen đã trốn khỏi sở thú. Anh cần Or Soh làm mồi, nhử săn con báo này.

Trước khi mượn Or Soh, Ong Par hóng mọi tin tức liên quan đến con báo đen xổng chuồng khắp làng trên xóm dưới, hỏi thăm cả những người làm việc ở bến tàu. Anh chắp nối từng mẩu chuyện, phác họa ra đường trốn chạy của nó. Ai cũng hứng thú với chuyện con báo đen, thi nhau thêm mắm dặm muối. Không ít lần, Ong Par cũng bị cuốn theo giả tưởng nhưng nhanh chóng ghìm tâm trí lại, cẩn thận ghi nhớ những chi tiết quan trọng nhất.

Đầu năm, Ong Par đến tạp hóa của Lau Mok mua đồ đạc chuẩn bị Tết Nguyên đán. Cái cửa tiệm rõ nhỏ và lụp xụp, nhưng bên trong thì gần như thứ gì cũng có, đáp ứng tất tần tật nhu cầu đồ gia dụng dân làng cần. Chính tại đây, Ong Par nghe phong thanh chuyện chính phủ phát quang khu rừng rậm gần làng, xây dựng một vườn thú rộng những 10 mẫu Anh. Ở phía bắc và nam của vườn thú có hai hồ chứa nước, còn ở phía đông thì có một khu nhà thuộc địa và một câu lạc bộ chỉ tiếp đón người Anh và các doanh nhân địa phương giàu có.

tapchi29--Anh-minh-hoa---Con-bao-den---Anh-1

“Những con vật bị nhốt trong lồng… có người đến thăm phải không nhỉ? Tôi nghe nói ở nước ngoài hay làm như thế, rất nhiều động vật, lắm du khách”, Lau Mok nói, hào hứng đến lộ cả đường gân xanh trên cổ.

“Chúng ta có đầy động vật ở đây, ai lại đi vào đó chỉ để nhìn mấy con chẳng lạ lẫm gì?”.

“Động vật của bọn mình chỉ có chó, mèo, gà, vịt và mấy con lợn bẩn nhem bẩn nhuốc. Còn động vật của họ là hổ, gấu xám, voi và sư tử cơ! Anh đã bao giờ nhìn thấy chúng chưa?”.

Ong Par định trả lời đã thấy con cá sấu dài mấy mét bơi trên con sông gần lối vào làng, nhưng lại thôi. So với hổ, gấu, voi và sư tử, con cá sấu chẳng có gì ghê gớm. Vết sẹo trên mắt cá chân trái do bị chó hoang cắn chợt nhói lên, khiến anh nghĩ đến cảnh nguyên bầy thú rừng thoát ra khỏi lồng.

“Nếu chúng xổ lồng cả lũ thì thế nào?”.

“Bộ anh tưởng chính phủ lại không biết mình đang nuôi nhốt thứ gì chắc? Họ đã thuê rất nhiều chuyên gia nước ngoài. Lồng nhốt thú đều là thép chất lượng nhất, chiều cao gấp mấy lần người trưởng thành. Đám thú hoang dù có nhảy cao đến mấy đi chăng nữa cũng không vọt ra ngoài được”, Lau Mok cười nhạo và được thể huênh hoang về ngày xưa, thuở làm công trên đồn điền cao su ở Malaysia. Các khu rừng ở đấy đầy hổ, nhưng chẳng ai sợ chúng. Một vài người cạo mủ cao su còn dám săn hổ, lột da rồi mở tiệc thịt ông Ba mươi tưng bừng.

Dân làng đã nghe Lau Mok kể chuyện ăn thịt hổ đến phát nhàm. Ong Par rời tạp hóa, vừa đi vừa kiễng chân, nghểnh cổ nhìn về phía vườn thú sắp khai trương. Anh tự hỏi, liệu sự xuất hiện của nó có lợi lộc gì cho làng mình không? Có thể nào, nhờ nó, ngôi làng cũng thay đổi hoàn toàn.

Phải đến tháng 6 oi bức, vườn thú mới chính thức mở cửa, nhưng dự cảm không lành của Ong Par thì ứng nghiệm ngay sau Tết Nguyên đán. Một con heo vòi và một con hươu đốm đã trốn thoát, khiến cả chính quyền lẫn công chúng nháo nhào. Và bây giờ, một con báo đen mới lớn, vừa bị bắt về từ khu vực hoang dã của Thái Lan xổng chuồng.

Thời điểm con báo đen xổng chuồng trùng với khi các nhà chức trách công bố danh sách 10 tội phạm truy nã nguy hiểm nhất. Khi phát hiện cái lồng nhốt con báo đã trống không, chính quyền hành xử y như đối mặt với tội phạm đáng gờm. Vài trăm cảnh sát được triển khai, vây kín vườn thú và các khu rừng xung quanh. Vô số bẫy được đặt. Ban ngày, họ dựng các trụ đuốc, đến tối thì thắp sáng bừng. Cảnh sát có vũ trang đi tuần khắp các rặng đá, đồi thấp, rừng rậm.

Ai nấy xôn xao bàn tán về con báo đen. Người thì bảo, nó tuyệt đẹp và hoang dã, có thể ngửi thấy mùi con người từ rất xa mà chạy trốn. Người lại nói, nó nhanh như cắt, vừa thấy vào hang động đã chót vót trên ngọn cây cao, đến đi không dấu vết. Họ thậm chí đồn rằng, nó di chuyển khẽ khàng như gió trong màn đêm, lướt qua ngay sau lưng các cảnh sát mà không ai phát hiện. Mỗi ngày, đám tụ tập buôn chuyện con báo càng nhiều. Người nghi ngờ, nó đã bị kẻ nào đó bắt được, giấu đi. Người suy đoán, nó đã rời khỏi rừng, gây họa ở nơi khác.

Cứ vài ngày lại có báo cáo về việc nhìn thấy và theo dõi con báo đen. Nhờ thằng Ah Kun – cháu trai, con chị gái, Ong Par cập nhật tin tức liên tục. Chỉ một ngày sau khi có tin tức mới, Ong Par đã chất đủ đồ nghề bao gồm dây dợ nhiều kích thước, màu sắc, dao, ghế đẩu tự chế, cọc, Or Soh và cả Ah Kun lên xe ba gác. Anh cần Ah Kun chỉ đường. Thằng bé rất nhanh nhẩu, thành thạo lập bản đồ tuyến đường chạy trốn của con báo đen dựa trên các tin tức. Con báo đen cứ như bóng ma, thoắt ẩn thoắt hiện khắp nơi. Có lúc, hai cậu cháu rình mò quanh lưu vực phía đông của đầm lầy. Có lúc, họ mạo hiểm đi về phía nam, tìm kiếm ở các đồn điền rìa thị trấn hoặc đi sâu vào khu rừng dương xỉ bên hồ.

Một hôm, Ong Par mua hẳn 7, 8 quả sầu riêng nặng 3, 4 cân, định bụng sẽ lấy ném con báo đen nếu gặp. Sau cả buổi chiều chờ đợi trong vô vọng, hai cậu cháu chén hết đống sầu riêng, vứt hạt cho Or Soh ăn.

Từ chỗ ngồi rình, Ong Par thấy rõ con lợn nái và cả bóng dáng Ah Kun đang nấp giữa các tảng đá. Trời dần tối, đám chim chóc tìm chỗ ngủ lượn sát rạt ngọn cây. Anh đứng dậy, ra hiệu cho Ah Kun thu dọn, chuẩn bị ra về. Hai cậu cháu kéo Or Soh lên thùng xe. Bực bội vì mất thêm một ngày, Ong Par mắng Ah Kun xa xả. “Chắc mày lại đọc nhầm tin tức nữa chứ gì? Làm gì có con báo nào ở đây, đến cả con ma còn chả thấy! Ăn học cho lắm vào mà chả được cái tích sự gì”.

Mệt mỏi và đã quen với việc bị cậu mắng mỏ, Ah Kun chẳng buồn cãi cự. Xem ra, tìm bắt một con báo còn khó hơn tìm bắt một con ma. Kể từ khi bắt đầu giúp Ong Par truy lùng nó, Ah Kun chưa một lần thấy cậu cười. Lúc đầu, Ah Kun cứ tưởng cậu chỉ thích thú đi săn thôi. Sau này, khi nhiều lần thấy sự tuyệt vọng trong mắt cậu, Ah Kun nhận ra sự việc không đơn giản như thế.

Trên đường đạp xe ba gác về nhà, Ong Par quyết định từ bỏ tìm bắt con báo đen, kẻo bị vợ và dân làng bắt gặp. Anh đã cố gắng suốt nhiều tuần rồi và dường như cũng đã khiến một số người nghi ngờ.

Ong Par rất tự ti về việc ngoài hán tự tên mình thì không biết thêm bất cứ chữ nào khác. Anh là con trai duy nhất trong nhà. Cha mẹ Ong Par phải trải qua chiến tranh và nghèo khổ, nên hiểu rõ tầm quan trọng của giáo dục. Họ hy vọng, chí ít thì Ong Par cũng tốt nghiệp tiểu học.

Ngày đầu tiên đến trường, Ong Par đeo cặp sách và ngoan ngoãn ngồi vào chỗ. Tuy nhiên, ngay khi thầy giáo đeo cặp kính cận dày cộp không để ý đến, Ong Par đã lén cởi đôi giày trắng tinh đặt lên ghế, lỉnh ra ngoài và biến mất. Với đôi chân trần, Ong Par chạy một mạch về nhà, lao vào trong, thở hổn hển và òa khóc.

Mẹ Ong Par rút cây roi mây trên tường, quất tới tấp. Cha Ong Par đang ngủ trưa bị đánh thức, bình tĩnh đoán biết sự việc và giật lấy cây roi trên tay vợ. Ông đưa mắt nhìn Ong Par đang trốn dưới gầm bàn uống nước, nói với vợ: “Nếu nó không thích đi học thì thôi. Có trở thành gánh nặng hay thằng đàn ông cũng đều là cái số của nó”.

Ong Par không bao giờ quên câu nói này của cha. Anh cũng nhớ lần cha cầm tay, dạy viết tên và giải thích tại sao lại có ký tự “par” trong tên mình cũng như ký tự “haw” trong tên chị gái. Hai ký tự này có trong tên anh em nhà Aw thành đạt và siêu giàu. Cha Ong Par kỳ vọng, các con của mình sẽ lẫy lừng ngang với họ.

Một lần, Ong Par bắt quả tang cha ngồi trong góc tối bên giếng với góa phụ Chen. Thấy Ong Par, ông vội vàng bỏ tay ra khỏi lòng Chen và cấm Ong Par kể cho mẹ biết. Vài ngày sau, góa phụ Chen ngượng ngùng nhét một nắm kẹo vào túi Ong Par, xoa đầu khen ngoan. Ong Par nhìn chằm chằm vào nốt ruồi ở khóe miệng góa phụ Chen, thấy kích động khủng khiếp.

Cha mẹ Ong Par qua đời trước khi anh kết hôn. Sau khi lập gia đình, Ong Par xin việc ở bến cảng thành phố, làm phu bốc vác. Khi chị gái giao cháu trai, nhờ xin việc hộ, hai cậu cháu trở thành đồng nghiệp. Tuy đồng lương ít ỏi, Ong Par vẫn khao khát có một đứa con. Thế nhưng, sau cả 10 năm chung sống, vợ anh vẫn chưa một lần thụ thai. Chị gái Ong Par nhìn thân hình em dâu, dự đoán chẳng bao giờ có con nổi.

Ong Par từng đến ngôi đền được cho là cầu tự linh nghiệm nhất, xin “nước thánh” 3 ngày, nhưng không ích gì. Anh dành hẳn một nửa tiền tiết kiệm, cùng vợ đi khám sức khỏe tại bệnh viện trong thị trấn. Sau khi khám, bác sĩ kết luận cả hai đều khỏe mạnh, chưa thụ thai chắc là do căng thẳng. Ong Par tức tối lao ra ngoài, nhổ xuống đất. “Đúng là đồ lang băm! Sao mày dám nói tao có vấn đề về thần kinh chứ? Có mày mới bị thần kinh ấy”.

Sâu trong thâm tâm, Ong Par tin sẽ tìm ra giải pháp. Bất cứ nghe đồn được mẹo nào, anh đều thử nghiệm. Nhiều “công thức cổ truyền” đã được Ong Par thực hành, trong đó có ăn trứng rùa biển, uống mai rùa, nuốt ếch sống, uống máu trăn tươi, nước rễ cây, vỏ cây… Hầu hết các phương thuốc mê tín này đều chỉ khiến Ong Par bị tiêu chảy và chẳng cái nào khiến nỗi bất an lắng xuống.

Có vẻ như, Ong Par bị ảnh hưởng bởi chẩn đoán của bác sĩ hơn những gì biểu hiện. Lâu dần, anh sợ hãi khi nghĩ đến nghĩa vụ hôn nhân. Thỉnh thoảng, khi ham muốn trỗi dậy và quấy rầy trong đêm, Ong Par chỉ uống nước lạnh rồi ngủ tiếp. Vợ Ong Par nhận ra có điều bất thường, đôi lần không giữ được bình tĩnh. Ong Par nhào lên như thể “tấn công” chị ngay nhưng lại xìu xuống, oán thán “Đằng nào cũng không thể có con thì cố để làm gì?”.

Ong Par cũng nghĩ hay là bắt chước cha, ngoại tình. Có điều, nếu ngoại tình là một cách để có con thì rõ ràng anh vẫn còn được. Đúng lúc Ong Par nhen nhóm lại hy vọng, một đồng nghiệp bốc vác xui hãy kiếm dương vật của động vật. Càng là dương vật của động vật dữ dằn thì càng hiệu quả mạnh. Mẹo mới này khiến Ong Par mất ngủ mấy đêm liền. Có hôm, anh lang thang ngõ xóm lúc tinh mơ, nhìn đăm đăm vào bầy chó hoang đang bới rác. Những con chó này đã sống gần con người, bị thuần hóa nên chắc là không còn bản chất hoang dã. Chỉ khi tin tức con báo đen trốn khỏi vườn thú bay đến, Ong Par mới thấy thần linh đã đáp ứng lời thỉnh nguyện của mình. Lần đầu tiên dắt Ah Kun vào rừng săn tìm con báo, Ong Par còn mổ một con gà, thắp hương tạ ơn tại một ngôi đền. Anh cầu xin các vị thần hãy bảo vệ và giúp mình bắt sống con quái vật hung hãn ấy, cắt lấy thứ mọc dưới làn bụng nó. Ong Par cũng thuộc nằm lòng cách sơ chế và ngâm từ một thầy bói. Vào ngày tốt tháng đẹp, anh sẽ uống rồi cuồng nhiệt giao hoan với vợ, gieo vào bụng chị hạt giống nhà họ Ong. Sau đấy, anh sẽ có con nối dõi, không phải sợ hãi chết không hậu duệ đưa tang.

Không lâu sau khi Ong Par quyết định từ bỏ săn con báo, vườn thú mở cửa. Ah Kun xin được công việc bán hàng còn Or Soh đẻ 10 con lợn con. Ong Par thề không vào vườn thú, kiên quyết không chạm vào vợ. Trong lòng anh tràn ngập nỗi chua xót và sự hối tiếc không bắt được con báo đen.

Lâu ngày, mọi người dần quên con báo và nỗi sợ nó. Vài người cho rằng, nó đã chết trong rừng hoặc bơi qua eo biển, sang đảo khác.

Bỗng một đêm, người làng nghe thấy tiếng báo rống. Gần một năm sau khi xổng chuồng, nó bị cảnh sát phát hiện đang lẩn trốn trong một con kênh gần trường đua. Người ta giăng lưới một đầu kênh và đốt lửa đầu còn lại, bắn súng, xua con báo chạy vào bẫy. Dù cố gắng ẩn nấp, con báo không lặp lại kỳ tích biến mất trong màn đêm.

Con báo thà chết còn hơn là đầu hàng. Vài giờ sau cuộc vây bắt, nó lao vào lửa và bị thiêu chết.

Tối hôm sau, mọi người tập trung tại tạp hóa của Lau Mok đọc báo. Câu chuyện về con quái vật đáng sợ chết trong cuộc phục kích được đăng tải trên nhiều trang. Trang nào cũng in ảnh con báo đen nằm ngửa trên kênh, cái xác cứng đơ bị vớt lên bởi cần cầu. Lau Mok thương tiếc con báo, trách cứ các nhà chức trách. Những người khác bàn ra tán vào, như thể đang đứng trước biến động lớn, đánh dấu sự kết thúc của một kỷ nguyên. Chỉ riêng Ong Par là chăm chú săm soi ảnh chụp của con báo đen trên mọi tờ báo.

“Tại sao lại không có?” .

“Không có cái gì cơ?”.

“Cái đó đâu, sao lại không có ở đó?”.

Ong Par lật tung các trang báo một cách kích động, làn da dần chuyển sang màu xám ngoét. Ai nấy ngơ ngác, không hiểu anh muốn tìm cái gì. Lau Mok phì cười: “Nó là báo cái, làm sao mà có cái đó được”.

Ong Par chết trân. Mọi người tiếp tục thảo luận sôi nổi. Đột ngột, những âm thanh quen thuộc của khu rừng như trỗi lên, vang vọng xung quanh Ong Par. Anh cảm thấy như thể biến thành sinh vật nào đó hoàn toàn khác lạ.

Đêm đó, sau khi uống say, Ong Par lên giường và đánh thức vợ. Trước khi vợ Ong Par hiểu ra chuyện gì, anh đã nhào lên người chị. Vợ Ong Par ngửi thấy mùi rượu bốc ra từ anh và rên lên một tiếng khàn khàn. Lần này, chị thấy được bản chất hoang dã từ chồng.

Một năm sau ngày tử vong của con báo đen, vợ chồng Ong Par bế con trai 2 tháng tuổi ghé thăm vườn thú lần đầu tiên.

(Theo Wordswithoutborders)

Wong Koi Tet (Singapore)
Ninh Thị Thơ (dịch)
Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 29

Ý Kiến bạn đọc