Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Coi trọng quyền phụ nữ thời nhà Lê

Thời nhà Lê, quyền lợi của phụ nữ đã được pháp luật bảo vệ. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú có nhận định: “… Hình luật Hồng Đức thật là cái mẫu mực để trị nước, cái khuôn phép để trị dân…”. Là công cụ để xây dựng và củng cố chế độ phong kiến, mặc dầu có những hạn chế lịch sử, nhưng Bộ luật Hồng Đức đã có nhiều điểm tiến bộ so với sự phát triển của hình luật nhiều nước trên thế giới cùng thời điểm và ngay cả đối với bộ Hoàng Việt luật lệ do Gia Long ban hành năm 1812. Giáo sư Oliver Oldman (1920-2008) – cựu Giám đốc Chương trình Luật học Đông Nam Á của Đại học Harvard (Mỹ), đã xác nhận: “… Chúng ta đã thấy trong nhiều thế kỉ qua sự cố gắng của nước Việt Nam thời Lê, một nỗ lực thường xuyên với việc xây dựng một nhà nước dân tộc mạnh và bảo hộ cho những quyền tư hữu hợp pháp bởi hệ thống luật pháp tiến bộ với nhiều sự tương đương về chức năng so với những quan điểm pháp luật phương Tây cận đại”. Những tiến bộ đó có thể kể trước hết ở chỗ nó bảo vệ quyền lợi đối với những hạng người thấp bé nhất trong xã hội thời xưa như trẻ em mồ côi, người tàn tật, người già cả không nơi nương tựa và đặc biệt đối với phụ nữ.

COI TRỌNG QUYỀN HÔN NHÂN

Trong xã hội phong kiến trước đây, quan niệm trọng nam, khinh nữ ăn sâu: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (Sinh một nam coi là có, sinh 10 nữ cũng coi như không); quan niệm “tam tòng” chi phối mọi xử sự của phụ nữ: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (Phụ nữ lúc còn trẻ ở nhà phải theo cha, khi đã lấy chồng phải theo chồng, khi chồng chết phải theo con) nhưng trong Bộ luật Hồng Đức đã có nhiều điều bảo vệ quyền lợi của phụ nữ. Quyền lợi đó được bảo vệ trước hết trong quan hệ hôn nhân. Điều 322 trong luật Hồng Đức ghi: “Con gái hứa gả chồng mà chưa thành hôn, nếu biết người con trai bị ác tật hay phạm tội hoặc phá tán tài sản thì cho phép người con gái được trình quan mà trả đồ lễ, trái luật thì xử phạt 80 trượng”. Điều 322 đã làm cho người phụ nữ hứa hôn không bị trói buộc vào người con trai khi không đảm bảo hạnh phúc cho người vợ sắp cưới. Cũng nên lưu ý là điều luật này cũng bênh vực phụ nữ ở chỗ: “Nếu người con gái bị ác tật hay phạm tội thì không phải trả đồ lễ”.

Khi đã thành hôn, tuy trong xã hội cũ nam giới được quyền lấy năm thê bảy thiếp, nhưng quyền lợi chăn gối của người vợ đã được pháp luật đảm bảo trong điều luật 308: “Phàm chồng đã bỏ lửng vợ trong 5 tháng, không đi lại, vợ được trình với quan sở tại và xã quan làm chứng thì người chồng đó bị mất vợ. Nếu vợ đã có con thì cho hạn một năm. Nếu đã bị mất vợ lại ngăn cản người khác lấy vợ cũ của mình thì phải tội Biếm”. Luật cho người vợ được kiện chồng khi không quan tâm đến hạnh phúc của mình và được phép lấy chồng mới, là một điều rất hiếm thấy trong hình luật của nhiều nước thời xưa và thậm chí ngay cả nhiều bộ luật ngày nay. “Người ta sinh ra ở đời, ai cũng có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Lời tuyên bố bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn Dân quyền và nhân quyền của nước Pháp vào năm 1789 khi Bộ luật Hồng Đức đã có những điều luật đảm bảo quyền mưu cầu hạnh phúc của phụ nữ từ thế kỉ XV.

COI TRỌNG QUYỀN THỪA KẾ

Trong việc thừa kế tài sản, quyền lợi của phụ nữ cũng được bảo vệ chu đáo: Điều 376 ghi “Vợ chồng đã có con, nếu một người chết trước, sau đó con cũng lại chết thì điền sản thuộc về chồng hay vợ còn sống. Nếu người trưởng họ không làm đúng phép thì xử phạt 50 roi, biếm một tư và mất phần chia (Đúng phép nghĩa là nếu vợ chết trước thì điền sản của vợ chia làm ba phần, chồng hai phần, thân thuộc của vợ một phần, cha mẹ vợ và chồng mỗi bên một phần… Chồng chết trước vợ cũng theo lệ ấy”. Trong việc chia tài sản do cha mẹ để lại thì luật quy định gái cũng như trai. Điều 388 ghi: “Cha mẹ mất cả, chưa kịp để lại chúc thư chia ruộng đất, thì lấy 1/20 số ruộng đất làm hương hỏa, giao cho con trai trưởng giữ, còn thì chia nhau. Phần con của vợ lẽ nàng hầu thì phải kém” (gái cũng như trai). Xã hội phong kiến theo chế độ phụ quyền, việc thờ cúng, giữ ruộng hương hỏa thuộc về con trai nhưng trong luật Hồng Đức được bổ sung năm 1517 ghi: “Người giữ hương hỏa có con trai trưởng thì dùng con trai trưởng, không có con trai trưởng thì dùng con gái trưởng, ruộng đất hương hỏa thì cho lấy 1/20”. Thiết nghĩ quyền bình đẳng của phụ nữ đối với nam giới, quyền được chia cơ sở vật chất, có tài sản để sinh sống đã được đảm bảo không khác gì nam giới và ngay cả quyền lợi tinh thần được thờ cúng tổ tiên cha mẹ cũng vẫn được tôn trọng, đã nói lên trình độ văn minh của nước ta từ thế kỉ XV.

COI TRỌNG QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM THÂN THỂ

Một điều đặc biệt đáng chú ý là luật Hồng Đức đã bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về thân thể của phụ nữ, xử tội rất nặng những kẻ gian dâm với vợ người khác. Điều 401 ghi: “Gian dâm với vợ người khác thì xử tội Lưu hay tội chết… (lưu là đánh bằng trượng và đầy đi nơi xa). Kẻ quyến rũ gái chưa chồng thì cũng xử như tội gian dâm. Kẻ bắt mối bị xử tội Đồ hay Lưu (Đồ là đánh trượng và bắt làm việc công ích trong một thời gian). Luật trừng phạt rất nghiêm đối với tội hiếp dâm phụ nữ, điều 403 ghi: “Hiếp dâm thì xử tội Lưu hay chết và phải nộp tiền tạ hơn tiền tạ về tội gian dâm thường một bậc, nếu làm người đàn bà bị thương thì xử tội hơn tội đánh người bị thương một bậc. Nếu làm người đàn bà bị chết thì điền sản kẻ phạm tội phải trả cho người nhà bị chết”. Bảo vệ thân thể cho các em gái nhỏ, luật cũng xử tội rất nặng, điều 404 ghi: “Gian dâm với em gái nhỏ từ 12 tuổi trở xuống, dù người con gái đó thuận tình, cũng xử tội như tội hiếp dâm” (nghĩa là bị lưu hay chết).

COI TRONG VIÊC SINH CON

Trong thủ tục tố tụng, luật Hồng Đức cũng chú ý bảo vệ quyền thai sản của người mẹ và trẻ sơ sinh, điều 680 ghi: “Đàn bà phải tội tử hình trở xuống, nếu đang có thai thì phải để sinh đẻ sau 100 ngày mới đem hành hình… Nếu khi chưa sinh mà thi hành tội xuy (đánh roi) thì ngục quan bị phạt tiền 20 quan, ngục lại bị tội 80 trượng…”.

Qua vài điều luật dẫn trên đây, chúng ta thấy rõ những nét tiến bộ, trình độ phát triển của luật Hồng Đức được áp dụng ở nước ta từ thế kỉ XV, có nhiều điều chỉ có ở một số nước sau khi cách mạng tư sản thành công. Việc áp dụng bộ luật thời Gia Long với nhiều sao chép luật Mãn Thanh (Trung Quốc xưa) đã kéo lùi nước ta trong khuôn khổ chuyên chế, coi thường, chà đạp lên phụ nữ và phải đợi đến sau Cách mạng tháng Tám (1945), quyền bình đẳng của phụ nữ mới dần được khôi phục. Ngày nay cũng còn nhiều điều mà luật pháp của chúng ta phải kế thừa, học tập để bảo vệ quyền con người cho phụ nữ trong mưu cầu hạnh phúc và bất khả xâm phạm về thân thể. 

Duy Hoàng
(Quận 5, TP.HCM)
Tuần Báo Văn Nghệ Tp.HCM số 382

Ý Kiến bạn đọc