Tản văn

Cô và trò

Trước ngày khai giảng năm học 1984-1985, ngôi trường huyện ở một tỉnh miền Tây xa xôi đón cô giáo trẻ vừa mới tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm của một tỉnh miền Trung.

Tóc cô dài lắm, thơm mùi chanh, bồ kết, mượt mà như dòng sông Hương quê cô vậy. Từ cổng trường, trò thấy cô tha thướt trong tà áo dài màu thiên thanh. Miền Tây tháng 10 gió chướng cứ vấn vít đôi tà áo. Cô khép nép giữ chặt mà chúng cứ chực chờ phần phật tung bay.

Ngày đầu tiên lên lớp có đôi chút hồi hộp. Cô cố giấu kín những lo âu trong nụ cười tươi. Nụ cười là ưu điểm lớn nhất của cô. Trước khi nói gì, cô nở nụ cười, vừa để trấn tĩnh, vừa để có thời gian suy nghĩ, lựa chọn câu trả lời tối ưu nhất, hoặc để trì hoãn những câu hỏi hóc búa, khó trả lời của các trò. Đám học trò trố mắt lạ lùng nhìn cô. Sau phần giới thiệu có trò hỏi cô có phải là người Việt không? Cô ngẩn người trả lời mình là người Việt và nhận lại những ánh mắt hoài nghi. Không lẽ mình dạy tiếng Anh thì nhất thiết không phải là người Việt? Mãi đến sau này cô mới biết có vài trò cứ mặc định ai không nói giọng miền Tây thì được xem là không phải người Việt! Cô phải cất công giải thích, vẽ cả bản đồ Việt Nam, phân tích giọng nói của từng vùng miền, lúc đó trò mới tin rằng cô không nói dối.

So-514--Anh-minh-hoa---Co-va-tro---Anh-1

Cô được phân công chủ nhiệm lớp 10. Lần đầu tiên làm công tác chủ nhiệm thật gian nan, mà lại là đám trò nhỏ không ra nhỏ, lớn cũng chẳng ra lớn. Trò loi nhoi như lũ vịt hãng, đứa nào cũng muốn thể hiện mình là trung tâm của vũ trụ, cố tình phát ngôn tếu táo để gây cười, nói chuyện riêng trong lớp, đi trễ, không thuộc bài, không làm bài tập ở nhà… Cuối tuần sinh hoạt lớp đủ thứ chuyện để chấn chỉnh, rầy la.

Lúc đầu cô hăng hái trong việc ra hình phạt. Nào là quét lớp, lau bảng, khóa cửa lúc ra về, cất giữ phấn, bông lau bảng, nặng hơn thì quét sân trường… riết cũng nhờn. Trò có đủ chiêu để chạy tội. Cô càng ngày càng nghiêm, mặt lạnh như tiền trong giờ dạy cũng như giờ sinh hoạt lớp. Sau một thời gian cô thấy mệt mỏi mỗi khi đi dạy về, soi mình vào gương mới giật mình thấy mặt mình càng ngày càng đăm đăm, già nua, khó gần. Nụ cười, ưu điểm của cô, tự dưng biến mất. Cô thấy đời mình như thiếu mùa xuân. Cô quyết định đổi chiêu.

Tuần sinh hoạt đầu tiên của chiến thuật chiến lược mới tỏ ra có hiệu quả. Cô không lật sổ đầu bài truy tìm tội đồ như mọi khi. Cô chỉ hỏi lớp mình tuần qua học hành thế nào. Cả lớp im re. Ai mà ngu khai thiệt… lạy cô trò ở bụi này chứ! Thế là cô, bằng giọng điệu của một giáo viên Văn và Giáo dục công dân, có một bài giảng kéo dài đến 60 phút trong êm đềm mà thâm trầm, câu nào câu nấy nhoi nhói đến tận tim gan. Một vài cái đầu thường xuyên nghịch ngợm bỗng gục xuống, vài đôi mắt đỏ hoe. Lớp trưởng tự động đứng lên đại diện xin lỗi. Mắt cô cũng ươn ướt theo trò. Trống trường điểm đã lâu, các lớp bên về hết. Cô trò lẳng lặng về sau…

Những tuần sau đó công việc của cô nhẹ nhàng hơn. Cô còn dành chút thời gian để kể chuyện, hát hò. Trò khoái chí tham gia. Khoảng cách cô trò càng ngày càng ngắn lại.

Có trò mời cô và cả lớp về nhà chơi. Nhà ở ruộng xa, cách trường 10 cây số. Cô trò lội bộ, băng qua không biết bao nhiêu con mương, cầu khỉ, những cánh đồng vừa mới gặt xong còn trơ gốc rạ. Có trò ở chợ, không quen đi cầu khỉ, lọt tỏm xuống mương (trò này bây giờ đang định cư ở nước ngoài). Cả nhóm cười như vỡ chợ.

Trò dọn cơm đãi khách. Toàn những thứ nhà nuôi trồng. Canh chua cá lóc bông so đũa, bông súng. Có món thịt khìa nước dừa rất ngon. Trò bảo thịt chim. Cô ăn khen ngon tấm tắc. Có đứa bẻ chĩa, thịt chuột đó cô ơi! Cô rùng mình hoảng sợ nhưng cố ghìm lại, mỉm cười trong đau khổ vì có phụ huynh cùng ăn. Sau bữa ăn, trò dẫn cô ra sau nhà, kéo miếng bao tải đậy chiếc lồng thép ra. Ôi thôi lúc nhúc chuột đồng, con nào con nấy béo núc ních! Cô nhắm mắt. Trò cười, thu nhập để cho em đi học đó cô ơi!

Cô trò tổ chức đi dã ngoại. Chùa dơi là điểm đến tuyệt vời. Trò đem theo mấy can nước mưa, nồi to nồi nhỏ, gạo, hột vịt muối, hột vịt tươi, gia vị lủ khủ. Có tiền đâu mà mua thức ăn nhanh, nước uống. Đứa có xe đạp thì đi xe đạp, còn lại cả đám chất lên chiếc xe lôi. Miếng đất trống mé bờ rào của chùa mát rượi, không sợ dơi trên cây… tè xuống. Cô có dịp hồn nhiên trở về với thời trẻ con cùng trò phấn khích chơi bịt mắt bắt dê, chọi lon, hát nối. Trưa hè mát rượi, cô trò ăn xong lăn ra bãi cỏ ngủ ngon lành. Một trời bình yên xanh thẳm!

Cô được Công đoàn trường cất cho cái… chòi lá bên bờ kênh để ở. Bốn bề lộng gió. Muốn đi vệ sinh phải vòng lên trường cách đó khoảng 30 mét. Trò bí mật bàn tính với nhau. Trưa chủ nhật, cô tá hỏa khi thấy trò kéo đến một xe đẩy nào là cây so đũa, lá dừa nước… Nghe nói trò đốn cây, lá dừa từ nhà bạn cho ăn thịt chuột, thả bè trôi sông ra chợ, mượn xe đẩy đem tới. Trò hè nhau làm cho cô cái sàn bằng cây de ra mặt kênh để cô tắm giặt. Cô rớt nước mắt giả bộ ngó lơ chẳng biết nói gì.

Thoáng chốc mà trò đã lên lớp 12. Người ta sắp làm người lớn nên chững chạc hẳn, học hành chăm chỉ hơn nhưng không quá căng thẳng như bây giờ. Có trò cặp bồ ngay trong lớp nhưng cố giấu cô. Cô biết hết nhưng không can thiệp, chỉ gần xa nhắc nhở động viên nhau học hành. Mùa thi cũng là mùa chia tay. Cô trò bịn rịn. Trong ánh mắt mỗi đứa cô thấy cả tuổi trẻ của mình, đầy say mê, hoài bão nhưng cũng đầy luyến lưu, hoài niệm những tháng ngày vui tươi đã qua.

Có kết quả thi tốt nghiệp. Nhiều trò đậu nhưng vẫn có trò rớt. Thi cử thời đó rất căng, chất lượng thực, chẳng thể gian lận. Có trò đậu được ba má quay heo cúng mừng. Cô nặng nề trong lần có em bé đầu tiên. Sáng tinh mơ trò gõ cửa… chòi của cô. Hàng xóm nói thầy mới chở cô đi bệnh viện sanh em bé bằng xe đạp. Trò hết tốc lực đạp theo. Ở khoảng cách 100 mét, trò í ới:

- Đợi em chút cô ơi! Về ăn thịt heo quay cô ơi!!!

Thầy quýnh quáng la lớn:

- Đem về đi, cô đi sanh em bé rồi…

Thế là trò quày xe lui. Sau này cô mới thấy buồn cười, trách thầy. Có 100 mét mà không đợi lấy cho tui ăn, có đẻ rớt đâu mà sợ. Trò cũng cười nói mình sao khờ quá, không ráng đạp thêm chút để cô có thịt heo quay ăn cho có sức sinh em bé!

Ra trường, mỗi trò một hướng. Có trò thành đạt, có trò vẫn còn vất vả áo cơm nhưng đứa nào cũng sống tốt, tình cảm chan hòa. Lâu lâu có trò gả con, cưới dâu, cô trò sum họp đêm nhóm họ kể chuyện xưa vui buồn. Có những lần nghịch ngợm tội tày đình mà lúc đó trò giấu biệt, cô giật mình nghe kể lại mới thấy thấm câu nhất quỷ nhì ma thứ ba là… chúng nó! Cô nghỉ hưu lâu rồi thế mà Tết nhất, ngày Nhà giáo trò vẫn nhớ cô, đứa đòn bánh tét, đứa giò lan, chậu cúc.

Bây giờ nhớ những chuyện này thấy tình thầy trò sao đáng quý, đáng trân trọng biết bao! Kỷ niệm như chiếc gối êm ả cho cô trò gối đầu khi mái tóc cả hai đều đã hoa râm. Có trò nào tình cờ đọc qua bài viết này, dù đang còn ngồi trên ghế nhà trường hay đã thành danh, thì vẫn cứ trân trọng một thời áo trắng bên bạn bè, cô thầy mến thương của mình nhé!

Nguyễn Thị Thu
(Huyện Mỹ Xuyên – tỉnh Sóc Trăng)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 514

Ý Kiến bạn đọc