Truyện ngắn

Cô tôi

-A cú(1) về! A cú về!

Ngày còn nhỏ tôi thường reo vui chạy ra cổng đón cô tôi, mỗi khi cô đến thăm gia đình. Cô bế bổng tôi lên và thơm lên má, lên trán tôi, sau đó bao giờ cô cũng cho tôi nắm kẹo thơm nức mùi dầu chuối. Cô tôi tên là A Kéo. Cô không gọi ông bà nội tôi là bố mẹ như bố mẹ tôi và chú tôi mà gọi ông tôi là pá(2) và gọi bà tôi là mế(3). Cô thường bảo tôi gọi cô là cú. Cô hay mặc áo hoa cài khuy chéo bên sườn và mặc quần mầu xanh. Mái tóc cô cắt ngắn ngang vai và được buộc hai bên rất gọn, đôi mắt to, đôi môi đỏ, khuôn mặt trái xoan lúc nào cũng đượm buồn.

Theo tháng ngày tôi cứ lớn lên và quen dần với sự có mặt của cô A Kéo trong gia đình. Lâu lâu không thấy cô đến thăm là tôi lại nhớ. Mỗi khi Tết hoặc ngày giỗ, cô không đến là ông bà tôi lại nhắc: “Con A Kéo sao không về nhỉ?”. Một hôm, tôi tò mò hỏi bà tôi: “Nhà cô A Kéo ở đâu?” thì bà tôi bảo nhà cô ở bên Trung Quốc. Tôi thấy lạ quá, cô ở Trung Quốc sao lại có họ hàng với nhà mình? Tôi hỏi. Trả lời câu hỏi của tôi, bà nội tôi kể…

Ngày trước, ông bà tôi nghèo lắm. Ông bà cụ đẻ ra ông nội tôi mất sớm, ông tôi phải đi ở từ nhỏ. Nhờ làm việc chăm chỉ nên nhà chủ thương cưới vợ cho. Họ ngoại, ông bà cụ sinh ra bà tôi không đến nỗi nghèo nhưng lại không có con trai, chỉ sinh được mỗi bà tôi. Bà tôi nói, hồi ấy nhà nào không có con trai, người ta khinh lắm. Chính vì vậy mà ông cụ thân sinh của bà tôi mới buồn chán, rượu chè rồi nghiện thuốc phiện, cho nên nhà cửa, ruộng vườn, cây ăn quả cụ đều bán đi để lấy tiền mua thuốc phiện. Khi ông tôi về ở rể bà tôi thì cụ tôi đã già yếu. Ông bà tôi phải bán củi mua gạo và mua cả thuốc phiện cho cụ, cụ ân hận lắm nhưng trót nghiện mất rồi.

di-cho-vung-cao---nguyen-xuan-hong
Đi chợ vùng cao – thạch cao – Nguyễn Xuân Hồng.

Một buổi sớm như nhiều buổi sớm khác, bà gánh củi sang chợ bên Trung Quốc (nhà tôi ở xã giáp biên giới Việt – Trung) bán. Khi sắp bước chân vào chợ, bà trông thấy một bé gái người Hoa ngồi trên manh chiếu rách trải trước cửa một ngôi nhà lụp xụp, nghèo nàn. Đứa bé khóc ngằn ngặt, nó khóc tím cả mặt, nước mắt nước mũi giàn giụa, hai chân cứ giãy đành đạch trên manh chiếu rách đã ướt đẫm nước tiểu. Trông thấy cảnh thương tình bà tôi bèn đặt gánh củi xuống và bế em bé lên. Lạ thay, cô bé nín ngay. Hai tay nó lần lên ngực áo, đầu rúc vào ngực bà tôi. Lúc đó, lá màn nâu xỉn buông ở chiếc giường kê cạnh cửa ra vào động đậy. Một khuôn mặt đàn bà vàng bủng ló ra. Người ấy nói với bà tôi bằng một giọng đau khổ, đứt quãng:

- Khổ quá bà ơi!… Con bé nó khát sữa… tôi ốm đau, không ai chăm sóc nó…

Rồi với cái giọng ngắt quãng ấy, bà ta kể cho bà tôi nghe về gia cảnh của mình: Gần một năm nay bà bị bệnh nằm liệt giường, cả nhà 6 miệng ăn trông cả vào một tay ông chồng. Chồng bà làm thuê cho một nhà chuyên nấu rượu. Cậu con cả của bà mới 13 tuổi đầu cũng trở thành người giúp việc cho nhà chủ…

Hình như trời đã phú cho những người nghèo khổ một đức tính chung: khi gặp nhau họ dễ cảm thông với hoàn cảnh của nhau và sẵn sàng chia sẻ với nhau mọi nỗi khổ. Bà tôi nhận lời với bà Pồ sẽ lui tới chăm sóc cô bé A Kéo, trong thời gian bà Pồ còn dưỡng bệnh. Từ đó, mỗi buổi sáng gánh củi ra chợ bán, bà tôi đều dừng bước trước cửa nhà bà Pồ để vào thăm. Lâu dần thành lệ, sáng nào cô bé A Kéo cũng ngồi sẵn trên bậc cửa chờ bà tôi. Khi bà đến, cô bé giang hai tay ra đón, mừng rỡ, rối rít.

Thời gian quả có phép nhiệm mầu, cô bé A Kéo đã đỏ da thắm thịt, lớn lên trong tình yêu thương và dòng sữa của bà tôi, một bà mẹ người Việt nghèo khổ nhưng giàu lòng nhân ái. Hôm nào bà không đi chợ là A Kéo buồn rầu, ủ rũ. Sự quấn quýt giữa một già, một trẻ là sợi dây gắn kết hai gia đình. A Kéo gọi bà tôi là mế. Gia đình bà Pồ xin phép cho cô đi lại, nhận ông bà tôi là bố mẹ nuôi. Tôi lớn lên, ngoài người chú ruột, tôi còn có cô A Kéo dịu hiền.

Rồi cô A Kéo lấy chồng, chú rể làm nghề chở hàng thuê từ huyện về thị trấn vùng biên. Cô A Kéo bán hàng tạp hóa ở ngoài chợ, cuộc sống cũng tạm đủ. Cô tôi khéo tay lắm. Vừa bán hàng cô vừa khâu giày. Những đôi giày nhung đế bện bằng cỏ, đi vừa mềm vừa ấm. Mùa đông đến, cô biếu cả nhà mỗi người một đôi. Riêng đôi giày của tôi, trên nền nhung đen mềm mại, cô còn thêu hình các con thú ngộ nghĩnh và cài bằng cái nơ thật đẹp. Tôi rất hãnh diện với bạn bè vì điều đó.

Với ông bà tôi, cô là người con gái hiếu nghĩa. Thỉnh thoảng, cô chạy qua chạy lại thăm nom và thuốc thang mỗi khi ông bà tôi bị mệt với đúng nghĩa là một người con gái thảo hiền. Ngày Tết, cô xin phép chính quyền cho đem con về chơi với ông bà tôi cho bõ nhớ. Cả nhà tôi và hàng xóm đều quý mến cô. Thấy dáng mấy mẹ con cô đi vào ngõ, bà Hội láng giềng đã gọi bà tôi rối rít:

- Bà Danh ơi! Mẹ con cô A Kéo về chơi kìa!

Cả nhà tôi chạy ra đón cô, mừng rỡ, thân thiết. Một lần, thấy bà tôi tuổi cao, còn tham công tiếc việc, cô A Kéo chặc lưỡi, phàn nàn:

- Hầy dà, a mế à! Để cái tay nghỉ ngơi một tý không được sao?

Rồi quay sang ông tôi, cô hỏi:

- Dạo này a pá còn ho nhiều không? Phải giữ cổ cho ấm mới được à!

Từ làng tôi đi ra chợ biên giới gần hơn chợ huyện. Đận ấy trong làng có người chết, gia đình muốn sang chợ biên giới mua đồ lễ cho gần. Ngặt nỗi lúc này tình hình biên giới đang ngột ngạt, nhạy cảm nên không ai đủ can đảm sang bên kia mua sắm. Người ta nghĩ ngay đến bà tôi. Chưa kịp nghe người nhà đám nói hết câu, bà tôi đã vui vẻ nhận lời. Băng qua cánh đồng lúa chín bà tôi đường hoàng bước vào khu phố quen thuộc mà thấy không khí nơi đây căng thẳng, ngột ngạt khác thường. Người quen tỏ vẻ như không nhìn thấy bà tôi, rồi họ gọi nhau í ới lên hội trường họp. Lúc bà đang đứng trước hàng vàng mã, thấy cô tôi đi qua, bà tôi mừng rỡ gọi cô. Cô tôi giật mình đứng khựng lại, mặt tái dại, miệng lắp bắp nói không nên lời. Rồi cô giúp bà gom hàng đã chọn, vội vàng đẩy bà tôi về con đường sang phía Việt Nam:

- Mế ơi! Về đi! Con phải lên hội trường họp. Con không thể mời mế về nhà hoặc mua phở cho mế ăn như mọi khi. Thương con, mế về ngay đi và đừng sang đây nữa nhé!

Bà tôi há hốc mồm kinh ngạc, cô vừa xua tay vừa nói trong nước mắt:

- Mế về đi!

Bà tôi bảo con gái:

- Nhưng mế chưa kịp trả tiền hàng!

Cô tôi mếu máo đầy lo lắng:

- Mế về đi! Tiền hàng con sẽ trả.

Rồi cô đứng trân trân nhìn theo bà tôi bước thấp bước cao đi qua bờ ruộng, thỉnh thoảng ngoảnh lại nhìn con gái. Thấy thế, cô tôi xua tay lia lịa như đuổi tà, đôi mắt mọng nước, đỏ hoe. Mấy năm sau, tình hình qua lại biên giới nối lại bình thường. Ngày bà tôi qua đời, cô cùng cả nhà túc trực bên linh cữu của bà. Cô cũng đội mũ mấn, mặc áo xô, đi chân đất. Người ngoài nhìn vào đều tưởng cô là con đẻ của bà tôi. Trước đây, Tết Thanh minh năm nào cô cũng đem về thật nhiều pháo. Sau khi sửa sang mộ bà tôi, bày đồ cúng, thắp hương, đốt vàng mã, cô tôi đem pháo ra đốt. Tôi tò mò hỏi:

- A cú ơi! Sao đi tảo mộ cho bà lại phải đốt pháo hả cô?

- Hầy dà, thì cũng như mình quét vôi cho ngôi nhà trước khi đón năm mới, đốt pháo mừng nhà mới chứ sao! – Cô tôi bảo vậy.

Tháng 7, ngày giỗ bà tôi, cô về thắp hương cho bà. Bày bánh kẹo, hoa quả lên bàn, cô kính cẩn thắp hương. Trong khói hương nghi ngút mờ ảo, cô tôi ngồi đó, mắt loáng ướt, đỏ hoe, đăm đăm nhìn lên bàn thờ với vẻ thành kính. Nhìn mái tóc hoa râm của cô, lòng tôi nhói buốt. Ông bà tôi, rồi bố tôi đều đã thành người thiên cổ, cô tôi cũng đã già. Mới đó mà đã mấy chục năm trôi qua với biết bao biến động. Cô tôi chắp hai tay thành kính khấn vái. Cô cầu cho vong linh những người thân đã khuất yên lòng nơi chín suối, phù hộ độ trì cho con cháu được bình an. Hình như trong lời khấn, cô tôi có nhắc đến tình đoàn kết giữa hai dân tộc, mong sao được lâu bền, để cô tôi có dịp về Việt Nam thăm viếng ông bà tôi.

Đứng sau lưng cô, tôi giàn giụa nước mắt. Tôi nghẹn ngào thầm gọi như ngày xưa mỗi khi cô tôi về: “A cú ơi!”. Tiếng gọi không thành lời cứ vang mãi trong tâm hồn tôi.

Hoàng Kim Dung
(Hội VHNT Lạng Sơn)
*Kính tặng hương hồn bà nội.
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 386

—————-

(1) A cú: Cô.
(2), (3) Pá, mế: Bố, mẹ.

Ý Kiến bạn đọc