Ngoài nước

Có thể có một thế giới tốt đẹp hơn!

Kỷ Niệm 92 Năm Ngày Sinh Của Fidel Castro (3-8-1926 – 25-11-2016)

(Đôi điều tâm sự của Fidel Castro trong cuộc trò chuyện với phóng viên báo Nước Nga Xô Viết)

 

Khi bước vào trường đại học, tôi chỉ là một thanh niên có tinh thần nổi loạn và mấy ý niệm sơ sài về sự bình đẳng, và chính tại đây, tại trường đại học, tôi đã trở thành nhà cách mạng, trở thành nhà mácxít – lêninít và trau dồi được những tình cảm đối với học thuyết đó mà suốt đời tôi sẽ không bao giờ khước từ.

… Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi coi mình là một nhà cách mạng lớn, nhưng thực ra tôi mới chỉ bắt đầu bước vào một con đường vạn dặm khác dài hun hút. Nếu như tôi đã từng cảm thấy mình là một nhà cách mạng, nếu như tôi đã từng cảm thấy mình là một người theo chủ nghĩa xã hội, nếu như tôi đã hấp thụ được những tư tưởng biến tôi thành một nhà cách mạng thì tôi, với tất cả sự khiêm tốn, xin đoan chắc với các bạn rằng giờ đây tôi cảm thấy mình là một nhà cách mạng gấp 10 lần, 20 lần, có thể là 100 lần so với hồi đó. Nếu như hồi đó tôi sẵn sàng hiến dâng đời mình thì giờ đây tôi sẵn sàng hiến dâng đời mình gấp ngàn lần so với trước kia.

Người ta thậm chí dám hiến dâng cuộc đời cho một tư tưởng cao quý, cho một nguyên tắc đạo đức, cho một ý thức về phẩm giá và danh dự trước khi trở thành nhà cách mạng… Hàng chục triệu người đã ngã xuống trên chiến trường vì đã yêu say đắm một biểu tượng, một lá cờ mà họ cho là tuyệt đẹp, một bài ca có sức gây xúc động lòng người như bài “La Marseillaise” trong thời kỳ cách mạng. Con người là một sinh vật duy nhất có khả năng chiến thắng tất cả những bản năng một cách tự giác; con người – đó là một sinh vật đầy bản năng, đầy thói ích kỷ – nó sinh ra là một kẻ ích kỷ, thiên nhiên đã đưa thói tật đó vào con người, thiên nhiên đưa những bản năng vào con người, còn sự giáo dục thì bồi dưỡng những phẩm hạnh; thiên nhiên áp đặt hành động thông qua bản năng – bản năng sống sót là một trong số những bản năng có thể dẫn con người tới sự hèn nhát, đê tiện, trong khi một phương diện khác của ý thức có thể dẫn con người tới những hành động vĩ đại nhất của chủ nghĩa anh hùng. 

Điều kỳ lạ là mặc dù giữa mọi người có những khác biệt, vào một thời điểm nào đó họ có thể trở thành hàng triệu người, và họ chỉ có thể trở thành hàng triệu người thông qua tư tưởng. Không ai đi theo Cách mạng do sùng bái một cá nhân nào đó hay có cảm tình với một người nào đó. Khi nhân dân đạt tới sự sẵn sàng hy sinh thân mình cũng như bất cứ một người nào định lãnh đạo họ với niềm tin, với sự chân thành và định dẫn họ tới một mục tiêu nhất định thì điều đó chỉ có thể thực hiện được thông qua những nguyên tắc, thông qua những tư tưởng.

Có lần tôi nói rằng: “Ở trường đại học này tôi đã trở thành nhà cách mạng”, nhưng điều đó đã xảy ra bởi vì tôi đã tiếp xúc với những tác phẩm của các nhà tư tưởng vĩ đại, nhưng trước đó tôi đã hoài nghi môn Kinh tế – chính trị học tư bản, bởi vì lúc đó tôi cảm thấy nó là bất hợp lý.

So-509--Co-the-co-mot-the-gioi-tot-dep---Anh-2
Thủ tướng Fidel Castro.

Đó là môn Kinh tế – chính trị học giải thích những quy luật của chủ nghĩa tư bản, trong đó có nhắc tới những lý thuyết khác nhau về nguồn gốc của giá trị, cũng có nhắc tới những nhà mácxít, những nhà không tưởng, những người cộng sản – nói chung là trình bày những lý thuyết rất đa dạng về kinh tế. Tuy nhiên, trong khi nghiên cứu Kinh tế – chính trị học của chủ nghĩa tư bản, tôi bắt đầu cảm thấy những mối hoài nghi lớn, bắt đầu đặt ra những câu hỏi bởi lẽ trước đây tôi đã sống trong đại điền trang và còn nhớ được một vài điều gì đó, trong đầu óc tôi đã xuất hiện những tư tưởng tự phát như ở nhiều người theo chủ nghĩa không tưởng trên thế giới.

Sau đó, khi tôi hiểu được thế nào là chủ nghĩa cộng sản không tưởng, tôi phát hiện thấy rằng tôi là một người cộng sản không tưởng bởi vì tất cả những tư tưởng của tôi xuất phát từ suy nghĩ: “Cái đó là không hay, cái đó là tồi tệ, cái đó là ngu xuẩn. Làm sao lại có thể xuất hiện những cuộc khủng hoảng của sản xuất thừa và nạn đói khi có càng nhiều than thì càng rét mướt, càng có nhiều người thất nghiệp bởi vì chính càng có nhiều cơ hội tạo ra của cải. Có phải đơn giản hơn là cứ sản xuất ra của cải rồi đem phân chia cho tất cả mọi người?”.

Trong khi đó, dường như ngay cả Các Mác vào thời kỳ soạn thảo cuốn “Phê phán cương lĩnh Gotha” cũng cảm thấy rằng mức độ của sự sung túc là ở hệ thống xã hội; dường như theo đà phát triển sức sản xuất thì họ có thể sản xuất ra hầu như một cách vô tận những gì con người cần đến để thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu của mình về vật chất cũng như về văn hóa…

Tất cả mọi người đều đọc Cương lĩnh đó, và hiển nhiên, nó xứng đáng được tôn trọng. Với cách nhận thức của nó, nó xác định sự khác biệt giữa sự phân phối xã hội chủ nghĩa và sự phân phối cộng sản chủ nghĩa. Và Mác không thích tiên đoán hay vẽ ra tương lai, Mác là một người rất chín chắn và không bao giờ làm điều đó.

Khi ông viết những cuốn sách chính trị như “Ngày mười tám tháng sương mù”, “Cuộc nội chiến ở Pháp”, ông thật tài tình, ông có cái nhìn rất tinh tường. Cuốn “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” của ông – đó là một tác phẩm kinh điển. Tôi đã đi từ chủ nghĩa cộng sản không tưởng đến chủ nghĩa cộng sản khoa học vốn dựa trên những lý thuyết nghiêm túc về sự phát triển xã hội, chẳng hạn như chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trên bình diện triết học, Mác dựa vào chủ nghĩa duy vật biện chứng. Có rất nhiều triết lý, rất nhiều những cuộc tranh cãi. Lẽ cố nhiên, bao giờ cũng cần chú ý tới những trào lưu triết học khác nhau.

Trong cái thế giới hiện thực cần phải thay đổi này, mỗi một nhà cách mạng cũng như mỗi một nhà sách lược và chiến lược cách mạng cần phải nghiên cứu sách lược và chiến lược dẫn tới mục đích chính là thay đổi thế giới hiện thực.

Sự đóng góp của tôi cho cách mạng Cuba là ở chỗ tôi đã kết hợp làm một những tư tưởng của Jose Marti và những tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin và đem áp dụng triệt để sự tổng hợp đó vào tiến trình cuộc đấu tranh của chúng tôi.

Trong khoảng thời gian đó, tôi xây dựng chiến lược cách mạng để thực hiện cuộc cách mạng xã hội sâu sắc, nhưng qua các giai đoạn, các thời kỳ; và điều chủ yếu là tôi hiểu rằng cần phải thực hiện cuộc cách mạng đó bằng những lực lượng của đông đảo quần chúng nổi dậy vốn chưa có ý thức chính trị chín muồi để làm cách mạng nhưng lại tạo thành đại đa số nhân dân. Tôi thường tự nhủ: khối người nổi dậy lành mạnh này là lực lượng có thể làm cách mạng, đó là nhân tố quyết định trong cách mạng, cần phải đưa khối người đó đến với cách mạng và tiến hành nó theo từng giai đoạn. Bởi lẽ không thể tạo ra ý thức đó bằng một cuộc nói chuyện, trong một ngày. Và tôi nhìn thấy rõ rằng lớp quần chúng đông đảo ấy làm thành nhân tố chủ yếu; khối người này chưa có khái niệm rõ rệt về bất cứ thứ gì, thậm chí trong nhiều trường hợp họ mang đầy những định kiến chống lại chủ nghĩa xã hội, chống lại chủ nghĩa cộng sản, khối người này chưa thể có được trình độ chính trị chân chính và thường chịu ảnh hưởng của tất cả các phương tiện thông tin đại chúng: đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, điện ảnh, sách vở, báo chí hàng ngày và những giọng lưỡi tuyên truyền phản động chống chủ nghĩa xã hội từ khắp nơi vọng tới… 

Ngay từ thuở nhỏ tôi đã nghe nói rằng chủ nghĩa xã hội phủ nhận khái niệm Tổ quốc, phủ nhận ruộng đất của nông dân, phủ nhận quyền tư hữu của tất cả mọi người, không thừa nhận gia đình… Ngay từ thời Mác còn sống, ông đã bị buộc tội là tuyên truyền cho việc xã hội hóa phụ nữ, điều đó đã khiến cho nhà tư tưởng vĩ đại của chủ nghĩa xã hội lên tiếng phản bác quyết liệt. Người ta đã nghĩ ra những thứ khủng khiếp nhất, phi lý nhất để đầu độc nhân dân, làm cho họ chống lại những tư tưởng cách mạng. Trong số quần chúng nhân dân có rất nhiều người chống cộng, có rất nhiều người nghèo khổ, những người hành khất, những người thất nghiệp có thể trở thành những phần tử chống cộng. Họ không hiểu chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội là gì. Tuy nhiên, lớp người đau khổ đó chịu cảnh nghèo đói, bất công, bị lăng nhục ê chề bởi vì sự đau khổ của nhân dân không chỉ được đo bằng những thuật ngữ vật chất mà còn bằng cả những thuật ngữ tinh thần, và người ta đau khổ không chỉ vì họ tiêu thụ chỉ có 1.500 calo, nhưng lại cần đến 3.000 calo, nỗi đau khổ này còn bị chồng chất thêm bởi một nỗi đau khác nữa – đó là tình trạng bất bình đẳng xã hội, khi anh luôn luôn cảm thấy mình bị sỉ nhục, nhân phẩm của mình bị chà đạp bởi vì anh chẳng là cái gì, chỉ là con số 0 tròn trĩnh. Và tôi bắt đầu nhận thức được rằng khối người đông đảo này là một nhân tố quyết định và họ rất phẫn nộ và bất mãn: họ không hiểu được thực chất xã hội của vấn đề, họ bị quẫn trí, họ không có công ăn việc làm, không chốn nương thân, không được chăm sóc về y tế – tất cả những thứ đó họ gán cho nạn tham nhũng của bộ máy công quyền, cho sự đồi bại của các chính khách.

… Không phải Mác, không phải chủ nghĩa Mác bịa đặt ra sự tồn tại của các giai cấp, nghĩ ra cuộc đấu tranh giai cấp mà Mác chỉ phân tích một cách rõ nét, chỉ nghiên cứu và chứng minh sự tồn tại của các giai cấp và đào sâu vào vấn đề đó, vào cái hiện thực lịch sử đó. Mác và chủ nghĩa Mác đã khám phá ra những quy luật chi phối chính cuộc đấu tranh đó và chi phối sự tiến hóa của xã hội loài người, Mác không bịa ra các giai cấp và cuộc đấu tranh giai cấp, bởi thế không nên gán điều ấy cho chủ nghĩa Mác, và nói chung, cần phải lên án lịch sử vì chính nó phải chịu trách nhiệm lớn về vấn đề này.

Chẳng hạn về sự căm thù giai cấp – tuyệt nhiên không phải chủ nghĩa Mác – Lênin đẻ ra sự căm thù, chủ nghĩa Mác – Lênin không cổ súy cho sự căm thù giai cấp, nó chỉ nói: tồn tại các giai cấp, tồn tại cuộc đấu tranh giai cấp, còn cuộc đấu tranh giai cấp thì đẻ ra sự căm thù…

Cái gì trong thực tế đẻ ra sự căm thù? Sự bóc lột con người, sự áp bức con người, việc con người bị nhận chìm xuống đáy xã hội, sự bất công xã hội – chính những thứ đó chứ không phải chủ nghĩa Mác đẻ ra sự căm thù. Vấn đề không phải ở chỗ sự căm thù giai cấp được cổ xúy mà là ở chỗ thực tế xã hội được giải thích, những gì đã xảy ra trong chiều dài của lịch sử được giải thích.

Nếu bạn sẽ nghiên cứu, chẳng hạn, tư tưởng cách mạng ở Cuba, những tư tưởng của cuộc cách mạng của chúng tôi thì ở đây sẽ không bao giờ thấy vang lên những từ “sự căm thù”. Thậm chí, hơn thế nữa, chúng tôi có một nhà tư tưởng vĩ đại là Marti. Chính Marti ngay từ năm 17 tuổi, trong một tài liệu mang tên “Nhà tù khổ sai ở Cuba”, trong câu chuyện kể về những nỗi đau khổ của mình và những lời buộc tội chống lại nước Cộng hòa Tây Ban Nha, nước Cộng hòa vốn xuất hiện ở Tây Ban Nha và đã đặt vấn đề về quyền lợi đối với nhân dân Tây Ban Nha, nhưng lại khước từ những quyền lợi dành cho nhân dân Cuba, từng tuyên bố sự tự do và dân chủ ở Tây Ban Nha, nhưng lại khước từ sự tự do và dân chủ dành cho Cuba. Marti đã phát biểu những lời lẽ tuyệt vời khi khẳng định: đòn roi, sự lăng nhục, xiềng xích không thể dạy tôi căm thù, hãy nhận lấy sự khinh bỉ của tôi bởi lẽ tôi không thể căm thù một ai cả. Marti suốt cả cuộc đời cổ xúy cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do, nhưng không cổ xúy sự căm thù đối với người Tây Ban Nha.

Kinh nghiệm của Marti cho thấy rằng có thể cổ xúy tinh thần đấu tranh và cuộc đấu tranh giành độc lập mà không cổ xúy sự căm thù đối với những người mà ông gọi là những người cha Tây Ban Nha của mình, và tôi xin đoan chắc rằng cuộc cách mạng của chúng tôi đã thấm nhuần sâu sắc những tư tưởng của Marti. Chúng tôi – những người cách mạng, những người theo chủ nghĩa xã hội, những người mácxít – lêninít – không cổ xúy sự căm thù như một triết lý, không cổ xúy triết lý căm thù. Điều đó không có nghĩa là chúng tôi có thiện cảm với hệ thống áp bức, không đấu tranh chống lại nó, không đem hết sức lực làm điều đó, nhưng tôi nghĩ rằng chúng tôi đã đương đầu nổi với sự thử thách cao nhất, và sự thử thách này là như sau: chúng tôi tiến hành cuộc đấu tranh bền bỉ chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa đế quốc đã thực hiện đủ mọi kiểu xâm lăng chống chúng tôi và đã gây cho chúng tôi vô vàn tổn thất…

So-509--Co-the-co-mot-the-gioi-tot-dep---Anh-3
Thủ tướng Fidel Castro và nữ anh hùng quân Giải phóng miền Nam Việt Nam Tạ Thị Kiều 
thăm một căn cứ trong vùng Giải phóng Quảng Trị năm 1973 (nguồn: TTXVN.).

Tuy nhiên, khi một công dân Bắc Mỹ đến nước chúng tôi, chúng tôi sẽ niềm nở tiếp đón người đó, bởi lẽ chúng tôi quả thực không thể căm thù người công dân Bắc Mỹ, chúng tôi bác bỏ hệ thống, chúng tôi căm ghét hệ thống. Và theo cách lý giải của tôi, tôi cho rằng đối với những người cách mạng mácxít, vấn đề không phải là căm thù đối với những cá nhân mà là đối với hệ thống bóc lột xấu xa tàn bạo.

Đối với chúng tôi, hay chí ít, đối với cá nhân tôi, bất cứ một trường hợp hoạt động phản cách mạng của những người hoàn toàn tỉnh táo, khi cần phải trừng trị một tên phá hoại, một tên phản bội, một tên sát nhân, chúng tôi làm điều đó không phải do lòng căm thù hoặc do ý muốn trả thù mà do sự cần thiết phải bảo vệ xã hội, bảo đảm sự sống còn của cách mạng, bảo vệ những gì mà cách mạng đem lại cho nhân dân: sự công bằng, sự yên ổn và phồn vinh.

Và tôi nghĩ rằng điều đó là cốt lõi của những tư tưởng chính trị của chúng tôi; tôi nghĩ rằng Mác cũng không căm ghét đối với một con người, thậm chí cả nhà vua. Tôi nghĩ rằng Lênin căm ghét cái hệ thống đế quốc, hệ thống Sa hoàng, hệ thống bóc lột, hệ thống lãnh chúa và tư sản. Tôi nghĩ rằng Engel cũng có cùng quan điểm đó. Họ không cổ xúy sự căm thù đối với con người, họ cổ xúy sự căm thù đối với hệ thống.

Nếu chúng ta chú ý tới cuộc cách mạng xã hội đầu tiên – cuộc cách mạng Pháp, thì thấy ở đó nêu lên 3 khẩu hiệu: TỰ DO, BÌNH ĐẲNG, BÁC ÁI. Tự do là một khẩu hiệu được áp dụng theo cái nghĩa rất tương đối. Nó biểu thị sự tự do đối với giai cấp tư sản, sự tự do đối với những người da trắng, nó không biểu thị sự tự do đối với các nô lệ da đen. Những nhà cách mạng Pháp sau khi phổ biến những tư tưởng của họ ra khắp thế giới, thậm chí đã đưa binh lính đến Haiti để đàn áp cuộc khởi nghĩa của các nô lệ vốn mong muốn tự do, và sau khi Hợp chúng quốc Hoa Kỳ tuyên bố độc lập – điều này đã xảy ra còn sớm hơn, tại đó người ta vẫn tiếp tục giữ các nô lệ để làm việc, vẫn tiếp tục tiêu diệt những người da đỏ và phạm nhiều tội ác man rợ. Như vậy là cuộc Cách mạng Pháp đã giới hạn sự tự do đối với giai cấp tư sản và những người da trắng; và không có bất cứ một sự bình đẳng nào cho dù người ta ra sức triết lý, cho dù người ta ra sức tranh cãi về sự bình đẳng được tạo ra trong xã hội có giai cấp… Sự bình đẳng ấy, có thể nói rằng, mang tính chất siêu hình thuần túy, tôi không nhìn thấy nó bất kỳ ở đâu và tôi không nghĩ rằng có tồn tại một sự bác ái nào đó giữa nhà tỷ phú Bắc Mỹ và người hành khất Bắc Mỹ, người da đen bị phân biệt đối xử, người lao động thất nghiệp, trẻ em cơ nhỡ; điều đó là chuyện huyễn tưởng thuần túy. Tôi cho rằng quả thật lần đầu tiên trong lịch sử loài người, những khái niệm về sự tự do hiện thực, chân chính và hoàn toàn, về sự bình đẳng và bác ái chỉ có thể tồn tại dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Sự rao giảng về tình yêu đối với người thân cận mà Giáo hội nói tới, theo tôi nghĩ, đã được áp dụng trong thực tế và được thể hiện rất cụ thể trong sự bình đẳng, bác ái và trong tình đoàn kết giữa người với người mà chủ nghĩa xã hội hướng tới và theo tinh thần của chủ nghĩa quốc tế.

Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đã nâng khái niệm đó lên một tầm cao mới, và chủ nghĩa cộng sản sẽ phải nâng nó lên cao hơn nữa bởi lẽ chủ nghĩa xã hội chưa đề ra mục đích đạt tới sự bình đẳng hoàn toàn…

… Nói về sự bác ái, tôi nghĩ rằng xã hội chúng tôi thực sự là một xã hội có tình bác ái. Khi chúng tôi trong những điều kiện xã hội nhất định đã giải phóng con người thoát khỏi sự nô dịch, chúng tôi đảm bảo cho con người danh dự, nhân phẩm, đạo đức, nói tóm lại, đảm bảo cho nhân cách của con người. Xã hội có giai cấp, nơi tồn tại những hình thái bất bình đẳng nghiệt ngã, nơi con người thậm chí không được đảm bảo khả năng trở thành con người, xã hội đó không thể nói về sự tự do. Các bạn hãy đến hỏi người dân trong bất cứ một khu nhà ổ chuột nào của Mỹ La-tinh, hỏi người da đen trong Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, hỏi người nghèo khổ trong bất cứ một xã hội tư bản nào của thế giới hiện nay. Đó là niềm tin sâu sắc nhất của tôi. Tôi hiểu tình yêu đối với người thân cận như là tình đoàn kết.

Nhân bàn đến chuyện lòng yêu thương đối với người thân cận, cũng nên nói đến thái độ của những người cộng sản Cuba đối với Giáo hội.

Về mặt lịch sử không thể phủ nhận rằng Giáo hội – chẳng hạn, Giáo hội của những kẻ xâm lược, của những kẻ áp bức và bóc lột – đã đứng về phía những kẻ xâm lược, những kẻ áp bức và bóc lột. Chưa bao giờ Giáo hội, xét về thực chất, lại kiên quyết lên án chế độ nô lệ – cái hiện tượng quái gở mà hiện nay không còn nằm trong ý thức của chúng ta, chưa bao giờ lên án việc nô dịch hóa người da đen hoặc việc nô dịch hóa người da đỏ, chưa bao giờ lên án việc tiêu diệt dân bản địa, chưa bao giờ lên án những hành động tàn bạo chống lại họ, khi họ bị tước đoạt đất đai, của cải, nền văn hóa, thậm chí cả sinh mệnh, chưa bao giờ có một Giáo hội nào lên án điều đó. Trong thực tế, cái hệ thống này đã tồn tại nhiều thế kỷ.

Không có gì đáng ngạc nhiên là tư tưởng cách mạng vốn nảy sinh cùng với sự khởi đầu của cuộc đấu tranh chống lại những sự bất công lâu đời đó, đã thấm đượm tinh thần chống tôn giáo. Tinh thần ấy sau này đã thể hiện trong chủ nghĩa Mác – Lênin do những nguyên nhân lịch sử đó. Chưa bao giờ chủ nghĩa tư bản bị lên án, có thể trong tương lai, sau một trăm, hai trăm năm nữa, khi sẽ không còn dấu vết của cái hệ thống tư bản đó, có ai đó sẽ đau khổ mà nói rằng: trong nhiều thế kỷ, Giáo hội của những ngài tư bản không lên án hệ thống tư bản chủ nghĩa, không lên án hệ thống đế quốc chủ nghĩa – cũng như hiện nay chúng ta nói rằng trong nhiều thế kỷ nó không lên án chế độ nô lệ, không lên án việc tiêu diệt người da đỏ và chế độ thực dân…

Tôi muốn nói rằng trước diện mạo của một hiện thực mới thì cần phải thay đổi quan điểm đối với vấn đề này và thay đổi cách nhìn nhận nó từ phía những người thuộc phái tả. Đối với tôi, điều đó là chắc chắn. Nhưng nếu như trong suốt một thời kỳ lịch sử dài lâu, đức tin được sử dụng như một công cụ nô dịch hóa và áp bức thì cũng là hợp lý khi những người từng mong muốn thay đổi cái hệ thống bất công đó bắt đầu mâu thuẫn với những tín điều tôn giáo, với những công cụ đó, với đức tin đó.

Tôi nghĩ rằng ý nghĩa lịch sử lớn lao của Thần học khai phóng hay của Giáo hội khai phóng – như người ta thường gọi – chính là ở chỗ nó có được sự hưởng ứng sâu sắc trong những quan niệm chính trị của các giáo dân. Và tôi còn muốn nói nhiều hơn thế: điều đó cũng thể hiện sự gặp gỡ mới mẻ giữa các giáo dân ngày nay với các giáo dân hôm qua, với quá khứ xa xôi, với những thế kỷ đầu tiên sau khi đạo Cơ đốc xuất hiện, sau khi đức Chúa Giêsu ra đời. Tôi muốn xem Giáo hội khai phóng hay Thần học khai phóng như là sự gặp gỡ giữa đạo Cơ đốc với cội nguồn của nó, với lịch sử rất hấp dẫn, rất anh hùng và rất vẻ vang của nó. Tôi có thể nói rằng sự gặp gỡ này rộng lớn đến nỗi toàn bộ phong trào tả khuynh của châu Mỹ La-tinh cần phải xem xét hiện tượng đó như một trong số những sự kiện quan trọng nhất đã xảy ra ở thời đại chúng ta. Chúng tôi có thể nói như thế bởi vì chính điều đó đã khiến cho những kẻ xâm lược, những kẻ bóc lột, những kẻ áp bức, những tên kẻ cướp của các dân tộc chúng tôi, những kẻ kìm hãm chúng tôi trong sự ngu dốt, trong bệnh tật và đói nghèo, mất đi cái công cụ quý giá nhất mà chúng có thể dùng để đánh lạc hướng quần chúng, lừa bịp quần chúng, tha hóa quần chúng và tiếp tục bóc lột họ.

Theo tôi, bản thân tôn giáo, xét theo quan điểm chính trị, không phải là thuốc phiện, không phải là chất thần dược. Tôn giáo có thể là thuốc phiện hoặc một thứ thảo dược tuyệt vời tùy thuộc vào việc nó được sử dụng, được áp dụng để bảo vệ những kẻ áp bức và bóc lột hay để bảo vệ quần chúng bị áp bức, bị bóc lột, tùy thuộc vào việc nó có thái độ như thế nào đối với những vấn đề chính trị, xã hội hay những vấn đề vật chất của con người vốn sinh ra và cần phải sống trong thế giới này mà không phụ thuộc vào Thần học hay những tín ngưỡng mang tính chất tôn giáo.

Theo quan điểm chính trị nghiêm túc, tôi cho rằng thậm chí có thể trở thành nhà mácxít mà vẫn là tín đồ của đạo Cơ đốc và có thể chung lưng đấu cật với người cộng sản mácxít để cải tạo thế giới.

… Về vấn đề sụp đổ của cường quốc Liên bang Xô Viết, tôi nghĩ rằng kinh nghiệm của nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên, cái nhà nước có nhiệm vụ chấn chỉnh nhưng tuyệt nhiên không phá hủy, thật là cay đắng. Xin chớ nghĩ rằng chúng tôi không suy nghĩ thường xuyên về cái hiện tượng khó tin đó mà kết quả là một trong những cường quốc hùng mạnh nhất thế giới từng sánh ngang với một siêu cường quốc khác, một đất nước đã hy sinh hơn 20 triệu người trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, một đất nước từng giẫm bẹp chủ nghĩa phát xít, đã sụp đổ hoàn toàn một cách khó tưởng tượng.

Lẽ nào những cuộc cách mạng có sứ mệnh tự hủy diệt hoặc những người cách mạng ấy có thể làm khiến cho những cuộc cách mạng bị hủy diệt? Con người hoặc xã hội có thể hay không có thể ngăn cản sự sụp đổ của cách mạng? Tôi có thể bổ sung thêm một vấn đề nữa: Theo các bạn, cái quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa đó có thể lụn bại hay không? Các bạn có lúc nào đó đã suy nghĩ về vấn đề này chưa? Suy nghĩ thật sâu sắc?

Tôi nêu vấn đề này để các bạn quay về với kinh nghiệm lịch sử mà các bạn đã biết, và tôi mong mọi người, không trừ một ai, sẽ suy nghĩ: quá trình cách mạng có thể không đảo ngược được không? Tư tưởng và trình độ nhận thức cần phải như thế nào để quá trình cách mạng không thể bị đảo ngược? Khi mà những cựu chiến binh hàng đầu đã rút lui và nhường chỗ cho các thế hệ lãnh đạo mới. Phải làm gì? Và làm như thế nào? Bởi lẽ chúng ta, xét cho cùng, là nhân chứng của nhiều sai lầm và thậm chí chúng ta không ước đoán được về điều đó.

Người lãnh đạo có một quyền lực rất lớn khi được hưởng sự tín nhiệm của quần chúng, khi quần chúng tin vào tài năng của ông ta. Những hậu quả do sai lầm của những người có quyền lực rất lớn thật khủng khiếp, và trong sự tiến triển của quá trình cách mạng, chuyện này đã xảy ra nhiều lần.

So-509--Co-the-co-mot-the-gioi-tot-dep---Anh-6
Thủ tướng Fidel Castro (phải) và Camilo Cienfuegos ở Havana ngày 8 tháng 1 năm 1959.

… Có người nghĩ rằng có thể xây dựng chủ nghĩa xã hội với sự hỗ trợ của những phương pháp tư bản chủ nghĩa. Đó là một trong những sai lầm nghiêm trọng mang tính chất lịch sử. Tôi không muốn nói về điều này, tôi không muốn lý luận suông, nhưng tôi có vô khối ví dụ về việc những người tự coi mình là những nhà lý luận, những người đọc cơ man nào là sách của Mác, Engel, Lênin… nhưng đã xử sự không đúng trong nhiều vụ việc.

… Một trong những sai lầm lớn nhất của chúng tôi trong giai đoạn đầu và thường trong suốt cuộc cách mạng là việc nghĩ rằng dường như có ai đó đã biết rõ chủ nghĩa xã hội được xây dựng như thế nào.

Theo tôi nghĩ, hiện nay chúng tôi có những khái niệm khá rõ ràng về việc xã hội cần được xây dựng như thế nào, nhưng chúng tôi cần nhiều những khái niệm rất rõ ràng và nhiều vấn đề muốn trao đổi với các bạn là ai sẽ chịu trách nhiệm về việc liệu có thể bảo vệ được chủ nghĩa xã hội hay không, hoặc xã hội chủ nghĩa trong tương lai sẽ được bảo vệ như thế nào?

… Đất nước đã bị một cú đòn trời giáng khi một cường quốc vĩ đại đã sụp đổ một cách hoàn toàn bất ngờ, và chúng tôi còn trơ lại một mình, đơn thương độc mã và bị mất tất cả các thị trường để xuất khẩu đường, và không còn nhận được những thực phẩm, nhiên liệu, thậm chí cả gỗ để chôn cất người chết theo tục lệ của đạo Cơ đốc.

Cách mạng có thể bị hủy hoại, nhưng điều đó là do lỗi của chúng ta.

Mong sao ở đây sẽ không bao giờ có những phe xã hội chủ nghĩa bị tan rã, bị sụp đổ. Mong sao bọn đế quốc không đến đây để xây cất những nhà tù bí mật, để tra tấn những người đàn ông và đàn bà tiến bộ của cái châu lục còn lại mà ngày nay đã vùng lên với quyết tâm giành lại nền độc lập thứ hai và hoàn toàn của mình!

… Tất nhiên tôi hoàn toàn không coi nhẹ ý nghĩa của việc thỏa mãn những nhu cầu vật chất. Mọi người đều biết rằng muốn được học hành, muốn cải thiện những điều kiện của cuộc sống thì cần phải thỏa mãn những nhu cầu nhất định về thể lực và vật chất. Song chất lượng của cuộc sống là ở kiến thức và văn hóa. Chính những giá trị này quyết định chất lượng thực sự của cuộc sống, chất lượng cao nhất của nó chứ không phải chất lượng đồ ăn thức uống, nhà cửa và y phục…

Xã hội tiêu dùng – đó là một trong những phát minh tệ hại nhất của chủ nghĩa tư bản phát triển mà hiện nay đang ở giai đoạn toàn cầu hóa rộng rãi. Xã hội đó đang suy đồi. Tôi cố thử nhưng không sao hình dung nổi một tỷ ba người Trung Quốc là chủ nhân của những chiếc ô tô theo một tỷ lệ như ở Mỹ. Tôi không thể hình dung nổi nước Ấn Độ với dân số hơn một tỷ người đang sống trong xã hội tiêu dùng; tôi không thể hình dung nổi xã hội tiêu dùng tại lục địa Phi châu ở phía cực nam Sahara, nơi 600 triệu dân thậm chí không có điện và ở một số địa phương hơn 80% dân số không biết đọc, biết viết.

Trong hoàn cảnh của cái thể chế kinh tế quái dị và bát nháo đó sau 5-6 chục năm tồn tại, cái xã hội tiêu dùng tối đa đã tiêu xài hết những trữ lượng thực tế và khó tin của nguồn nhiên liệu khoáng chất…

Thậm chí cũng khiếm khuyết một khái niệm tương đối đầy đủ và rõ ràng về nguồn năng lượng mà sau 50 năm nữa sẽ cung cấp cho hàng tỷ chiếc ô tô xếp hàng chật ních trong các thành phố và trên các con đường của những nước giàu có và thậm chí của nhiều nước thuộc “thế giới thứ ba”. Đó là hình ảnh về phong cách cực kỳ phi lý của đời sống và chính sách tiêu dùng mà không bao giờ có thể là hình mẫu đối với 10 tỷ người – dân số được dự tính của hành tinh, khi kỷ nguyên dầu lửa mang tính chất định mệnh sẽ kết thúc.

Cái thể chế kinh tế đó và những hình ảnh đó của xu thế tiêu dùng rất nguy hại đối với những tài nguyên thiên nhiên chủ yếu mà trữ lượng có giới hạn và không thể phục hồi, chúng không dung hợp với những quy luật của tự nhiên và cuộc sống trên trái đất, bởi lẽ chúng mâu thuẫn với những nguyên tắc sơ đẳng về đạo đức, với văn hóa và những giá trị tinh thần do con người tạo ra.

Dưới chế độ tư bản, thậm chí trong những nước công nghiệp phát triển nhất, trên thực tế những đại xí nghiệp quốc gia và siêu quốc gia nắm quyền điều hành. Chúng quyết định những vấn đề đầu tư và phát triển. Chúng chịu trách nhiệm về sản xuất vật chất, về những dịch vụ kinh tế chủ yếu và phần lớn các dịch vụ xã hội. Nhà nước chỉ làm việc thu thuế, phân phối và chi tiêu thuế.

Tại nhiều nước trong số đó, toàn bộ chính phủ có thể đi nghỉ mát và không ai để ý tới điều ấy.

Hệ thống tư bản chủ nghĩa phát triển mà sau này biến thành chủ nghĩa đế quốc hiện đại, xét cho cùng, đã áp đặt cho thế giới cái trật tự toàn cầu hóa mang tính chất tự do mới vốn là một thứ hoàn toàn không thể chịu nổi. Cái hệ thống ấy đã đẻ ra cái thế giới đầu cơ trục lợi, đã tạo ra những của cải và giá trị hư ảo vốn không có chút gì giống với sự sản xuất thực tế và những tài sản cá nhân kếch sù, một số tài sản ấy đã vượt quá tổng sản phẩm quốc nội của hàng chục nước nghèo. Thêm vào đó là sự cướp đoạt và lãng phí tài nguyên thiên nhiên của thế giới và cuộc sống cơ cực của hàng tỷ người. Cái hệ thống đó không hứa hẹn một điều gì cho nhân loại và không cần thiết đối với bất cứ cái gì, ngoài sự tự hủy diệt, hơn nữa, cùng với cái hệ thống ấy, tài nguyên thiên nhiên vốn là chỗ dựa cho cuộc sống của con người trên hành tinh, có thể bị triệt tiêu.

Người ta thường nhắc tới những nỗi khủng khiếp của vụ thảm sát dân Do Thái hay những hành động diệt chủng đã từng xảy ra trong thế kỷ vừa qua nhưng dường như lại quên khuấy rằng mỗi năm, do cái trật tự kinh tế mà chúng ta đã nói tới, hàng chục triệu người đã bỏ mạng vì đói và vì mắc những chứng bệnh mà có thể đề phòng. Người ta có thể xúc động bởi những con số thống kê khả quan về mặt hình thức của sự tăng trưởng, nhưng xét cho cùng, đối với những nước thuộc “thế giới thứ ba” thì mọi cái vẫn như xưa hoặc thậm chí còn tồi tệ hơn. Sự tăng trưởng thường dựa vào sự tích lũy của những thứ hàng hóa tiêu dùng vốn chẳng giúp gì cho sự phát triển thực sự hoặc cho sự phân phối của cải một cách hợp lý hơn. Một sự thật lớn lao là ở chỗ sau mấy thập kỷ tồn tại của chủ nghĩa tự do mới, những người giầu thì càng giầu hơn, còn những người nghèo lại càng nghèo đi.

Trước đây người ta thường nói đến chính sách Apacthai ở châu Phi, còn ngày nay chúng ta có thể nói đến chính sách Apacthai trong cái thế giới mà hơn 4 triệu người bị tước đoạt những quyền sơ đẳng nhất của con người: quyền được sống, quyền được chăm sóc y tế, quyền được học hành, quyền có cơm ăn nước uống, quyền có nhà ở, quyền được làm việc, quyền được tin tưởng vào tương lai của bản thân mình và con em của mình.

Căn cứ vào sự phát triển của tình hình thì chẳng bao lâu nữa thậm chí chúng ta cũng không còn không khí để mà thở, bầu không khí mà các xã hội tiêu dùng xa xỉ làm ô nhiễm và phá hoại môi trường sinh sống của con người.

… Sau cuộc chiến tranh thế giới lần chót, chúng ta được hứa hẹn rằng sẽ có hòa bình trên toàn thế giới, sẽ có sự giảm thiểu tình trạng bất công giữa người giầu và người nghèo, rằng các nước phát triển nhanh sẽ giúp đỡ các nước kém phát triển… Tất cả những chuyện đó chỉ là sự giả dối. Người ta áp đặt cho chúng ta cái trật tự thế giới mà chúng ta không thể ủng hộ và cũng không thể chịu đựng. Thế giới bị dẫn tới chỗ bế tắc.

Bọn đế quốc đã lừa gạt thế giới. Khi xuất hiện những phương tiện thông tin đại chúng, họ chinh phục tâm trí và điều hành không chỉ bằng phương pháp dối trá mà còn bằng những phản xạ có điều kiện. Sự dối trá và phản xạ có điều kiện không giống nhau: sự dối trá ảnh hưởng tới tri thức, còn phản xạ có điều kiện thì ảnh hưởng tới khả năng tư duy. Bị nhiễu tin và mất khả năng tư duy cũng không giống nhau, bởi lẽ người ta đã tạo ra cho anh một phản xạ: “Cái này là xấu, cái này là xấu, chủ nghĩa xã hội là xấu, chủ nghĩa xã hội là xấu”. Và tất cả những người thất học, tất cả những người nghèo khổ, tất cả những người bị bóc lột đều nói: “Chủ nghĩa xã hội là xấu”, “Chủ nghĩa cộng sản là xấu”. Và tất cả những người nghèo khổ, tất cả những người bị bóc lột, tất cả những người thất học lại nhắc lại: “Chủ nghĩa cộng sản là xấu”.

“Cuba là xấu, Cuba là xấu” – bọn đế quốc đã nói, nói ở Geneva, nói ở 20 địa điểm, và tất cả những người bị bóc lột ở cái thế giới này, tất cả những người thất học, tất cả những người không nhận được sự hỗ trợ về y tế, không được học hành, không có việc làm ổn định, không có một chút bảo hiểm nào, cũng đồng thanh lên tiếng: “Cách mạng Cuba là xấu, Cách mạng Cuba là xấu”…

Người thất học biết làm gì? Làm sao họ biết rằng Quỹ Tiền tệ Quốc tế là tốt hay xấu, rằng lãi suất quá cao, rằng thế giới thường xuyên bị lệ thuộc, bị cướp đoạt bằng hàng ngàn thủ đoạn của cái hệ thống ấy? Họ đâu biết được điều đó.

Bọn đế quốc không dạy cho quần chúng biết đọc, biết viết, hàng năm chúng chi nhiều triệu đô-la cho quảng cáo để tạo ra những phản xạ có điều kiện. Chúng đã nói điều đó hàng trăm lần, đã thành lập một Hiệp hội có cái logo rất đẹp, vừa rao giảng vừa nhồi sọ khiến cho con người mất khả năng suy nghĩ.

Người thất học có thể đọc được cái gì? Họ làm sao biết được rằng họ bị lừa phĩnh? Họ làm sao biết được rằng sự dối trá lớn nhất trên đời này là nói rằng đây là nền dân chủ, rằng cái hệ thống mục nát đang ngự trị ở đó và ở phần lớn, nếu không nói hầu như ở tất cả các nước từng sao chép cái hệ thống ấy? Chúng đã gây nên tác hại khủng khiếp. Và mỗi người dần dần bắt đầu hiểu được điều đó, càng ngày càng sáng mắt sáng lòng, càng thêm căm ghét, ghê tởm, càng muốn lên án, càng mong muốn đấu tranh. Đó chính là điều khiến cho mỗi người theo thời gian có thể trở thành một nhà cách mạng lớn so với trước kia, khi ta chưa biết nhiều điều và chỉ biết được một vài yếu tố của sự bất công và bất bình đẳng.

Xin các bạn chú ý tới một câu nói đã trở thành nổi tiếng: “Có thể có một thế giới tốt đẹp hơn”. Nhưng khi chúng ta đạt tới cái thế giới tốt đẹp hơn vốn ở trong tầm tay thì chúng ta cần phải không ngừng nhắc lại rằng có thể có một thế giới tốt đẹp hơn nữa, và lại tiếp tục lặp lại: Có thể có một thế giới tốt đẹp hơn. Bởi lẽ thế giới đang đứng trước một sự lựa chọn: trở nên tốt đẹp hơn hoặc biến mất.

Tôi tin vào những tư tưởng, tôi tin vào ý thức, vào tri thức, vào văn hóa và nhất là văn hóa chính trị. Chúng tôi đã dành nhiều năm tháng cho việc hình thành ý thức và tin tưởng sâu sắc vào việc giáo dục và văn hóa, trước hết là văn hóa chính trị…

Hầu như trong tất cả các trường học trên thế giới người ta dạy những giáo điều, thậm chí ở đây cũng dạy những giáo điều. Tôi kiên quyết chống lại những giáo điều… Nhân dân chúng tôi tin vào sức mạnh mãnh liệt của tư tưởng, vào những gì mà chúng tôi đã được học về các giá trị, về những tư tưởng và những kiến thức, tuy nhiên cũng tồn tại nguy cơ và chúng tôi bao giờ cũng cố gắng giáo dục những thế hệ mới. Bởi lẽ hiện nay thế giới mang tính chất toàn cầu hóa buộc ta phải mở rộng vốn kiến thức, tìm kiếm và phát hiện những cách giải quyết mang tính chất toàn cầu.

Theo quan điểm của tôi, không có nhiệm vụ nào cấp bách hơn là sự hình thành ý thức trên phạm vi toàn thế giới, cần phải làm cho hàng tỷ người thuộc các giới và lứa tuổi khác nhau trên hành tinh này nhận thức được cốt lõi của vấn đề. Những điều kiện khách quan và những nỗi khổ hạnh mà đại đa số dân chúng phải hứng chịu, sẽ tạo ra những điều kiện chủ quan nhằm hoàn thành nhiệm vụ nâng cao ý thức giác ngộ. Mọi thứ đều có liên quan chặt chẽ với nhau: sự thất học, nạn thất nghiệp, sự nghèo đói, bệnh tật, tình trạng thiếu nước uống, thiếu nhà cửa, thiếu điện, diện tích hoang mạc mở rộng, biến đổi khí hậu, mất rừng, hạn hán, nạn xâm thực, thoái hóa thổ nhưỡng, hiện tượng ký sinh và những thảm kịch khác…

Xã hội loài người đã phạm những sai lầm cực lớn và đang tiếp tục mắc lỗi, nhưng tôi tin tưởng sâu sắc rằng con người có khả năng thực hiện những ý đồ cao cả nhất và những tình cảm bao dung nhất, nó có khả năng khắc phục bản năng mãnh liệt mà thiên nhiên ban tặng, có khả năng hiến dâng cuộc sống cho những gì nó cảm nhận được và suy nghĩ được. Con người đã nhiều lần cho thấy điều đó trong tiến trình phát triển của toàn bộ lịch sử.

Tôi nghĩ rằng – bởi vì tôi là người lạc quan – thế giới này có thể được cứu vãn mặc dù có những sai lầm đã mắc phải, mặc dù có sự thống trị và quyền lực của một phía, bởi vì tôi tin vào sự ưu việt của tư tưởng đối với sức mạnh.

Đó là những tư tưởng đem lại cho thế giới ánh sáng, và khi tôi nói về tư tưởng thì trong suy nghĩ của tôi chỉ có những tư tưởng chính nghĩa vốn có thể đem lại hòa bình cho thế giới, có thể khước từ hiểm họa chiến tranh và chặn đứng bạo lực. Bởi thế chúng ta đang nói về cuộc đấu tranh của tư tưởng.

(Theo Sovetskaja Rossija, số 16, 11/8/2016)

Lê Sơn (dịch)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 509

Ý Kiến bạn đọc