Truyện ngắn

Cố nhân

Dao vàng cứa ruột không đau
Cắt ra làm chín trao nhau giữ gìn.

Đã mồng 10 mà phủ quan Đô Ngự sử vẫn lộng lẫy như ngày Tết. Từ cổng vào đến chính dinh là hai dãy đào bích một bên, đào phai một bên, đối nhau. Quan Đô Ngự sử muốn đào trong phủ bao giờ cũng nở muộn sau Tết, làm sao đúng ngày mồng 10 mới nở rộ. Thợ làm vườn biết vậy cứ trông trời mà có cách ủ đào cho hợp. Năm nay cũng vậy, hai dãy đào bích, đào phai cùng bắt đầu xòe hoa như những đốm lửa nhỏ. Từng cây đào như ngọn lửa lớn đốt cháy cái lạnh đầu xuân, và cảnh trí phủ quan xem chừng lộng lẫy hơn hẳn xung quanh đang ở lúc tàn Tết. Sau khi ăn nhẹ, thưởng trà, quan Đô Ngự sử thả bộ ra cổng ngắm hai dãy đào, gật gật đầu hài lòng. Lão quản gia tiến đến hỏi:

- Thưa ông, năm nay đón đoàn nào đến hát ạ?

- Năm nay đừng đón đoàn quen nữa. Lão cho người về tận Sơn Nam đón lấy 5 đoàn, mỗi đoàn hát một tối nhưng cứ trả công đủ 5 tối cho mỗi đoàn. Chịu khó vất vả một tý vậy!

- Thưa ông, chúng tôi sẽ cố gắng ạ.

- Nhớ dán cáo thị mời bà con trong chòm đến thưởng hát như mọi năm nhé!

Lão quản gia vào nhà cắt đặt công việc, còn quan Đô Ngự sử vẫn tha thẩn đi lại ngắm khuôn viên đang thắm hoa tươi sắc. Mấy cây bưởi nở trắng hoa đưa hương ngào ngạt. Mấy luống hồng, thược dược cùng nở hoa, bông nào bông nấy đều mẩy căng như thi sắc. Mấy chậu cúc đại đóa bắt đầu nở từ Tết, đến nay có bông đang tàn, nhưng những bông nở sau vẫn choán màu vàng tươi một góc. Hải đường, mai tứ quý xanh lá nhưng những búp hoa vẫn đậm sắc trong mắt người. Mấy cây mộc khiêm nhường hơn cả, hoa nhỏ li ti không khoe sắc nhưng hương thơm lại lan tỏa chế ngự các loài hoa khác. Chà, đức Khổng Tử khuyên Chu Đế lấy tháng Dần làm tháng Giêng của một năm mới cho phù hợp với vạn vật sinh sôi nẩy nở, thật là một cuộc cách mạng trong tư duy làm lịch. Tháng Dần ứng với quẻ Thái, âm dương tương giao tương hòa, khí âm bốc lên, khí dương rọi xuống, người cùng vạn vật đều phơi phới trong lòng. Ta cũng đang phơi phới trong lòng. Học hành đỗ đạt, thăng quan tiến chức vinh hiển, chỉ hiềm từ ngày có thể trả được ân nghĩa thì chưa gặp lại cố nhân. Cố nhân ơi, bây giờ người ở nơi nào? Lẽ nào cố nhân cứ lánh mặt để ta mang nặng nợ trong lòng mãi sao? Suy tư ấy dẫn quan Đô Ngự sử bước mãi về hướng đình làng Vòng. Nơi ấy cũng đang hội làng. Đình trong các cụ trang phục đại lễ đang tế. Ngoài sân có hội cờ, hội vật, hội chọi gà, đám nào cũng đông đặc người. Quan Đô Ngự sử lặng lẽ đi vào trong đình qua cửa nách, rồi cứ dựa vào cây cột cái ngắm nhìn sinh hoạt của dân làng. Mắt thì nhìn, nhưng trong đầu lại thấy cảnh cũ, người xưa.

Hoa-tau---HS-Le-Xuan-Chieu---Anh-1
Hòa tấu – Sơn mài – HS Lê Xuân Chiểu

*
Vũ sinh quê ở Hải Đông, lúc mới sinh có điềm sao sa xuống mái nhà. Dân làng đoán có tướng tinh trên trời đầu thai, đứa trẻ lớn lên tất thành kỳ nhân giúp nước. Cha mẹ phấn khởi cho con đi học thầy đồ ở làng bên. Thầy lập lá phiếu tử vi, thấy trong cung số có đủ Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Khoa, Hóa Lộc, biết đứa trẻ sau này văn tài rực rỡ, chỉ hiềm mệnh đóng ở Hợi, khiến cho thân cứ quẩn quanh không tìm ra cửa sáng. May có Triệt bắc cầu qua bế tắc nên cuối cùng vẫn được hanh thông. Âu cũng là số kiếp khổ trước sướng sau. Ở lớp, Vũ sinh nhỏ tuổi nhất, nhỏ người nhất, vào học sau nhất nên đều bị các anh sai vặt, thậm chí bị bắt nạt. Thế nhưng chỉ sau nửa năm vốn chữ nghĩa của Vũ sinh đã vượt trội các anh, tài ứng đối, ứng tác thơ càng hơn hẳn. Một hôm trời mưa, thầy hứng chí ra vế đối khó thử học trò:

- Mưa sa làng Hạ Vũ.

Mưa sa cũng là Hạ Vũ, khó quá. Đến lúc nộp bài chỉ có Vũ sinh đối lại là:

- Sấm động đất Xuân Lôi.

Thầy khen:

- Đối khá chỉnh, lại có khẩu khí, trò Vũ sinh sau này tất không tầm thường, các trò khác cần cố gắng theo.

Đến lúc thầy đồ hết chữ, định gửi Vũ sinh theo học quan nghè Lê thì nhà Vũ sinh liên tiếp gặp chuyện. Cha mẹ lần lượt qua đời. Vũ sinh phải bỏ học ở nhà chịu tang. Lo xong cho cha mẹ thì điền sản cũng bán hết. Vũ sinh được người bác trong họ đem về nuôi. Nhà bác nghèo không đủ sức cho Vũ sinh ăn học, thậm chí Vũ sinh còn phải ăn đói mặc rách vì các anh chị hay lườm nguýt, tranh chia. Vũ sinh đành lạy bác, cất bước ra đi vừa làm mướn vừa học thêm. Những lúc có việc thì làm quần quật từ sáng đến tối cũng chỉ được trả công cho ba bữa ăn. Mệt không nuốt nổi chữ. Những lúc không có việc thì nhịn đói, mà đói cũng không nuốt nổi chữ. Đói quá phải đi ăn xin rồi xin làm trả công. Nghĩ rằng kinh đô nhiều nhà giàu, nhiều nhà quan cần người giúp việc nên Vũ sinh cứ đi lần lần về đến nơi. Đến làng Vòng, thấy nhà quan huyện trí sĩ vốn đã đỗ Hương cống, trúng Sĩ vọng, nay mở trường dạy học, Vũ sinh xin vào làm mướn để dần dà học chữ sau.

Nhìn chàng thiếu niên gầy giơ xương, quần áo rách tươm, tóc tai bù xù, chỉ có đôi mắt sáng như hai bó đuốc, ông chủ tin chàng thiếu niên nói thật. Nhưng cho vào lớp thì không được mà việc làm thì biết cho làm gì. Chủ nhà nói:

- Ruộng ta cho cấy rẽ, vườn đã có học trò phụ giúp, ta khó tạo việc cho cháu lắm.

- Ông cứ cho cháu làm việc vặt kiếm miếng ăn thôi cũng được, chữ cháu học lỏm, bao giờ cháu có đủ tiền sẽ theo học cũng được.

- Thôi được, cháu vừa làm đồng, vừa phụ làm vườn, vụ sau ta đòi về mấy sào cho cháu làm.

Vũ sinh phải làm cỏ, rắc phân, tát nước suốt ngày ngoài đồng. Về nhà lại phụ giúp làm vườn, phục vụ lớp học. Cậu làm chăm chỉ, luôn chân luôn tay không hề kêu ca phàn nàn. Tết đến chủ nhà cho mượn sách để đọc. Chữ nghĩa vì thế không bị rơi rụng đi, nhưng nhặt thêm chả được mấy. Vũ sinh thấy thế cũng toại nguyện rồi, đi nơi khác chắc đã hơn gì. Cuộc đời Vũ sinh dường như đã được an bài như vậy.

Ông huyện là người có danh vọng nhất làng, từ ngày mở trường danh tiếng của ông càng được củng cố thêm vì học trò “Trường Ông Huyện” đỗ cống, đỗ nghè nhiều. Tiến vi quan, thoái vi sư là cách xử thế của ông. Thầy đỗ cống mà trò đỗ nghè đủ thấy vốn học của ông rất uyên thâm và cũng là một minh chứng học tài thi phận, cái số chỉ cho đỗ cống thôi. Người đỗ nghè đầu tiên của Trường Ông Huyện chính là con rể ông. Mấy năm trước, Lê sinh từ đất Kinh Bắc tay nải gió đưa đến làng Vòng tìm thầy học. Đến cổng nhà ông huyện đúng tầm nghỉ trưa, nhà cửa vắng tanh, chỉ có tiểu thư dệt vải ở cổng. Lê sinh hỏi thăm, tiểu thư trêu:

- Trường Ông Huyện chỉ nhận học trò tài giỏi thôi. Em tuy là phận tôi tớ, nhưng ở nhà quan huyện nên cũng học lỏm được dăm ba chữ. Chàng muốn vào học xin chàng hãy đối lại câu này cho em xem.

- Vâng, xin cô cứ ra đối.

- Nghe nhé: Vốn dòng thi lễ, đôi tám xuân thu, gặp khách thư sinh đem lòng dục dịch.

Lê sinh nghe xong khen:

- Gia nhân nhà quan huyện mà chữ nghĩa cao vời như thế thì học trò còn giỏi đến đâu. Trong một vế đối xuất mà tóm đủ ngũ kinh: Thi, Lễ, Xuân Thu, Thư, dịch. Vậy tôi tự thẹn không dám nhập trường đâu.

Cô gái dệt vải e thẹn:

- Chàng quá khen. Xem ra chàng là người nơi khác tìm thầy để học, hẳn chí hướng đâu phải tầm thường, xin chàng cứ đối thử xem đã.

- Vậy tôi liều đánh trống qua cửa nhà sấm, xin cô đừng chê cười nhé: Đệ tử Trương Chu mười năm Khổng Mạnh, thấy nàng nhan sắc nên phải thưa Trình.

Cô gái dệt vải nghe xong kêu lên:

- Chàng quá khiêm nhường đấy. Học trò ở đây chưa có ai đối chỉnh như vậy đâu, xin mời chàng theo em vào gặp ông Huyện.

Ông Huyện đang nghỉ được con gái dẫn chàng trai đến gặp, biết là người tài, liền dậy tiếp đón. Cô gái dệt vải nói:

- Thưa cha, chàng đây là văn tài hơn người mà lại rất khiêm nhường. Vế đối của chàng rất chỉnh, lại nêu được các vị đại nho là Trương, Chu, Hi, Khổng Tử, Mạnh Tử, Nhan

Tử, Trình Di, Trình Hạo, xin cha nhận chàng vào trường.

Ông huyện mừng lắm, vừa vuốt râu vừa cười nói:

- Học trò được con tiến cử lẽ nào cha không nhận.

Lê sinh được tiểu thư giúp đỡ tiền ăn học liền mấy năm. Gặp kỳ thi Hội, chàng dự thi trúng ngay bảng vàng, ngày vinh quy cũng là ngày vu quy đón tiểu thư con thầy dạy về quê bái tổ.

Dieu-mua-co---HS-Nguyen-Tu-Nghiem---Anh-1
Điệu múa cổ – Sơn dầu – HS Nguyễn Tư Nghiêm

Vũ sinh được ông huyện nhận cho ở lại là có ý muốn giúp chàng được học thêm, may ra đỗ ông cống ông tú thì có cơ hội lập thân. Một thời gian Vũ sinh cũng biết được chuyện tiểu thư con ông huyện đã từng giúp đỡ một trò nghèo vinh hiển nên càng cố gắng vừa làm vừa học. Qua Tết, học trò lục tục đến trường, được thầy sai mang lễ ra đình. Vũ sinh phải lo biện lễ dưới bếp hầu các môn sinh của chủ. Lúc Vũ sinh bê mâm lễ ra khỏi bếp, thấy mặt mũi chàng đen nhẻm vì bồ hóng bếp rơi bám vào, một học trò nói vẻ khinh bỉ:

- Lọ mọ dưới bếp đen bồ hóng.

Vũ sinh đáp lại bằng một câu hỏi:

- Cặm cụi bên đèn vàng bảng treo?

Lúc ấy ông huyện vừa đi đến, nghe Vũ sinh đối đáp có khẩu khí khen:

- Người ở mà giỏi chữ đâu kém học trò, hôm nay ta cho đi lễ đình luôn, không phải phục dịch nữa.

Vũ sinh rửa mặt, thay quần áo lành, đội lễ lên đình. Lễ xong được xem hát. Đoàn hát làng đón từ Sơn Nam lên, có đào chính tuổi chừng đôi tám, hát hay múa dẻo, lại xinh tươi rực rỡ. Điệu “Xá Thượng” cô đào hát múa xong được dân làng thưởng tiền như mưa. Vũ sinh nghe hát ngọt lịm trong lòng nhưng không có tiền thưởng, xấu hổ quá núp vào cột đình nhìn. Nhận tiền thưởng xong cô đào chuyển qua điệu múa đèn. Dáng thục nữ bay lượn trong áo mớ bảy mớ ba, hai tay bê mâm đèn chao lượn. Cô đào lượn đến bên cột đình có Vũ sinh đứng nấp, chợt cô đứng khựng lại vì thấy có một vị thần đội mũ cánh chuồn gật gù theo dõi từng nhịp múa. Đến khi dân làng giục múa tiếp, cô đào mới thấy vị thần biến mất, trước mặt lại là một chàng trai khôi ngô tuấn tú, nhưng đầu tóc thì cháy nắng, quần áo nhàu nhĩ. Cô bất giác động lòng, cứ bê nguyên mâm đèn tiến đến trước Vũ sinh than:

- Anh hùng lưu lạc đến mức này ư!

Đoạn cô đào lần bao tiền đưa cả cho Vũ sinh và bảo:

- Chàng cầm lấy ăn học. Rồi em sẽ giúp chàng thêm.

Vũ sinh giơ tay nhận như cái máy, miệng chẳng nói nên lời. Cô đào đã quay đi chao liệng vào điệu múa.

Xẩm tối cô đào tìm đến nhà ông huyện xin cho Vũ sinh được theo học không phải làm lụng nữa. Cô nhận chu cấp đầy đủ cho Vũ sinh. Những khi rỗi rãi, cô đào lại đến giúp Vũ sinh như một thư đồng. Có khi ở lại mấy ngày liền. Tình thân hai người như vợ chồng. Ở bên người con gái trẻ đẹp, tuy Vũ sinh cẩn thận giữ lễ, nhưng lúc thanh vắng, lòng dục vẫn dấy lên như bão cồn, có lần Vũ sinh đòi được mây mưa. Cô đào thân nằm yên, nhưng nước mắt chảy tràn nói:

- Chàng được ăn học mà không giữ nổi chữ Lễ thì đứng làm sao được ở trên đời. Nếu chúng ta nên duyên, thì xin chàng đợi ngày vinh quy rồi vu quy một thể. Nếu chàng cố ép thì em cũng chiều, nhưng quan hệ đôi ta sẽ đoạn tuyệt từ đây.

Vũ sinh thấy cô đào đoan chính tự thẹn xin lỗi cô và đem nỗi lòng mà mải mê đèn sách. Tài học của Vũ sinh do đó càng trội hơn. Qua gần 2 năm chuyên chú học tập, ông huyện cho chàng về quê dự khảo hạch để thi hương, thi hội. Cô đào vét hết tiền của đưa cho Vũ sinh. Vũ sinh muốn đưa cô về quê ra mắt họ hàng, nhưng cô đào từ chối:

- Chàng cứ một việc lo học, thi đỗ đi đã.

Vũ sinh bùi ngùi chia tay. Xe đi một thôi đường, Vũ sinh mới chợt nhớ không biết cô đào tên là gì, quê ở đâu, sau này tìm gặp ở đâu, vội bảo người đánh xe quay lại. Nhưng nơi chia tay đâu còn bóng hình. Vũ sinh nhảy xuống xe tìm quanh quất và cất tiếng gọi. Chàng lẩm bẩm chúng ta có duyên tất sẽ gặp lại nhau. Rồi lên xe về quê.

Năm ấy Vũ sinh vượt qua kỳ khảo hạch ở huyện, rồi đỗ đầu kỳ thi hương. Vị cống nguyên về làng nhận được gói quà mừng. Đó là một bọc tiền, một mọn tóc và một bức thư. Bức thư viết đại ý chúc Vũ sinh đỗ đại đăng khoa và tìm con gái nhà gia thế môn đăng hộ đối giúp đỡ trên đường khoa hoạn, đừng chờ, đừng tìm cô đào nữa, vì cô là phận xướng ca vô loài, chỉ có thể giúp chàng lúc hàn vi, chứ không thể sánh duyên cầm sắt lâu dài. Cô gửi mọn tóc làm kỷ niệm mối tình vô duyên của hai người. Vũ sinh ngậm ngùi cất kỹ mọn tóc vào túi hương lúc nào cũng đeo bên mình.

Năm sau Vũ sinh lên kinh dự thi, đỗ đầu thi Hội, vào thi đình đỗ đình nguyên thám hoa. Ngày vinh quy, Vũ sinh chỉ có mọn tóc của cô đào để cùng vu quy bái tổ.

Từ đó năm nào vào ngày mồng 10, quan Thám hoa cũng cho mời các đoàn hát về phủ hát liền 5 ngày mong tìm gặp cố nhân.

Nhưng đã qua hơn 30 năm quan Thám hoa đã thành đại thần nhất phẩm, chức Đô Ngự sử đài mà chưa một lần gặp lại. Đào nương ơi, nàng cố chấp để tôi mang nợ suốt đời, day dứt suốt đời ư.

*
Từ đình làng Vòng về phủ, quan Đô Ngự sử cảm thấy nóng ruột như lửa đốt, không biết trong triều có chuyện gì đã xảy ra. Đến cổng, gặp lão quản gia đang đứng có vẻ chờ ông về, ông hỏi ngay:

- Hoàng thượng có chỉ truyền ư?

- Thưa ông, không có ạ. Con đã đón được một gánh hát ở Sơn Nam Thượng, mời ông về gặp họ ạ.

- Được, được, lão mời họ vào phòng khách nhé. Chuẩn bị chè nước, bánh trái nữa.

Đoàn hát nào cũng được quan trực tiếp gặp gỡ buổi đầu như vậy. Trong lúc trò chuyện quan khéo léo hỏi thăm về cô đào năm xưa. Cũng có đoàn bảo biết, nhưng khi tìm đến đoàn có cô đào giống như lời tả của quan thì lại không phải. Quan biết chẳng qua cô đào cố tình lánh mặt. Quan có tên tuổi, chức tước tìm đến thì dễ, cô đào không rõ tên tuổi, quê quán tìm mới khó.

Đang nói chuyện, lão quản gia vào báo:

- Thưa ông, có mẹ con người ăn mày xin vào phủ hát xẩm kiếm ăn ạ.

- Ăn mày hát xẩm à, mời vào. Cứ coi họ là một đoàn hát. Lão mời họ vào đây hát luôn cho mọi người cùng nghe, coi như trao đổi ngón nghề.

Lát sau lão quản gia dẫn vào một bà già tóc bạc, mặt nhàu nhĩ, quần áo nhàu nhĩ, dắt một cụ bà hom hem, run rẩy, mắt đã lòa, tai đã nặng. Cả hai đượm vẻ sương gió. Bà già tóc bạc vái:

- Mẹ con tôi xin lạy quan lớn, xin lạy các quý khách.

Đoạn bà bảo mẹ ngồi xuống nền nhà, rồi tháo cây nhị khỏi vai ngồi xuống bên cạnh. Lựa thế ngồi bà kê cây nhị vào đùi kéo lên điệu nhạc và cất tiếng hát, giọng tuy trong nhưng đã run run:

Thiếp nay thi lễ con nhà
Thấy chàng mỹ mạo nết na dịu dàng
Cho nên lòng muốn đa mang
Biết rằng quân tử có màng hay không
Ngẫm duyên kỳ ngộ tương phùng.

Bà già dừng lại chấm nước mắt mới hát tiếp:

Vì đâu để lấy được nhau
Nếu không duyên nợ có đâu thế này
Đôi ta nay gặp nhau đây
Ba sinh âu hẳn nợ dầy chẳng không
Xin chàng hãy quyết đành lòng
Nâng khăn sửa túi mà hồng tựa nương.

Bà già lại dừng chấm nước mắt nói:

- Già rồi, cứ hát là nước mắt nước mũi lại chảy, tội thế.

Đoạn lựa nhịp hát tiếp:

Người đi em dặn người rằng
Đâu hơn người lấy, đâu bằng cũng đừng đợi em.
Người như tấm vóc đại hồng
Em như chỉ tím thêu rồng nên chăng
Cầu tre ai bắc gập ghềnh
Người đi cho khéo, ngã lấm mình ai thương.

Bà già bỗng ôm ngực ho ngằn ngặt, mãi không dừng lại được, nước mắt nước mũi lại giàn giụa. Hồi lâu bà nén ho nói:

- Xin quan lớn và quý khách xá tội cho.

Quan Đô Ngự sử thương tình sai lão quản gia đưa mẹ con người hát xuống nhà rửa ráy cơm nước và dặn tặng bạc như một đoàn hát bình thường. Cơm nước xong, bà già tóc bạc đưa cho lão quản gia một gói nhỏ gửi biếu quan lớn, rồi dắt mẹ ra đi.

Bận việc xếp đặt nơi biểu diễn, mãi đến đêm lão quản gia mới nhớ gói quà bà già hát xẩm biếu quan. Vừa nhận gói quà quan đã chột dạ. Mở ra, thấy chỉ có một mọn tóc đen nhánh giống hệt mọn tóc trong túi hương của ngài, thì quan thất sắc kêu lên không thành tiếng. Ngài không kịp mặc áo dài, không kịp xỏ giày đi nhanh ra cổng. Con đường hun hút tối hun hút gió. Không một bóng người. Nhưng trong mắt quan dường như vẫn thấy hình hai bóng người già lụi hụi dắt nhau đi. Quan chạy đuổi theo. Nhưng càng đuổi bóng người càng xa hơn rồi mất dạng. Ngài xây xẩm mặt mày. Một cơn gió lạnh thổi tới. Quan ngã tựa vào gốc đào, miệng vẫn cố gọi vẻ tiếc nuối: “Cố nhân! Cố nhân!”. Cây đào bị cú ngã của quan rung rinh rung rinh làm rụng những cánh hoa đang tàn. Mấy cánh hoa phủ cả vào mặt ngài. Màu đỏ thắm của những cánh hoa trong bóng tối trở nên đen xin xỉn. Quan vẫn rên rẩm gọi cố nhân.

Phạm Thuận Thành
(Thuận Thành – Bắc Ninh)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 483

Ý Kiến bạn đọc