Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Có hai Bạch Thái Bưởi

Lts: Hà Nội Xưa Và Nay Là Cuốn Ký Sự Rất Có Giá Trị Của Cố Tác Giả Bạch Diện Nguyễn Văn Cư. Sinh Trưởng Trong Một Gia Đình Nho Học, Ở Hà Nội Từ Lâu Đời, Cụ Là Người Đồng Hành Với Thế Kỷ Xx. Con Gái Cụ, Nhà Văn Nguyễn Thị Bích Thuận, Cán Bộ Tiền Khởi Nghĩa, Năm Nay Đã Ngoài 80 Tuổi. Hiểu Biết Thâm Sâu Về Hà Nội Trên Nhiều Lĩnh Vực, Đặc Biệt Là Những Diễn Biến Chính Trị – Xã Hội Và Các Nhân Vật Lịch Sử Từ Khi Pháp Chiếm Hà Nội Cho Đến Ngày Cách Mạng Và Kháng Chiến Thành Công. Cụ Tự Bạch: Viết Cuốn Sách Này, Chúng Tôi Cũng Nêu Gương Phạm Đình Hổ Và Trần Danh Án Là Tác Giả Của Các Cuốn Vũ Trung Tùy Bút Và Tang Thương Ngẫu Lục, Hy Vọng Góp Một Phần Tài Liệu Hầu Phục Vụ Cho Việc Khảo Cứu Sau Này. Nhân Có Bài Viết Về Bạch Thái Bưởi Trên Đời Sống & Pháp Luật Số 13 (Từ 28/3 – 3/4/2017), Chúng Tôi Trích Đăng Những Dòng Viết Về Nhân Vật Này Trong Hà Nội Xưa Và Nay Của Cụ Bạch Diện Nguyễn Văn Cư, Do Thái Thành Đức Phổ Nhuận Sắc. Nxb Hội Nhà Văn – 2015, Để Bạn Đọc Có Thêm Tài Liệu Tham Khảo. Sự Khác Nhau Giữa Hai Bạch Thái Bưởi Sẽ Là Đề Tài Thú Vị Cho Các Nhà Nghiên Cứu Lịch Sử.


Vua Tự Đức chết ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi (19-7-1883), nội bộ triều đình Huế lục đục, thực dân Pháp bắn đại bác và tiến quân vào cửa Thuận An, triều đình Huế xin giảng hòa. Ngày 23 tháng 7 năm ấy (24-8-1883), bọn quan lại trong Huế phải ký hòa ước nhận sự bảo hộ của Pháp tại Việt Nam. Hòa ước này gọi là Hòa ước Harmand. Tại Hà Nội, bọn võ quan và binh lính Pháp vẫn đóng trên đền Kính Thiên trong thành và để cho một số quan lại Việt Nam làm việc trong các nha thị trong thành do Hoàng Hữu Xứng (tuần phủ) và Tôn Thất Bá (án sát) điều khiển dưới quyền giám sát của Pháp. Về phía ngoại thành, Pháp xây dựng thêm nhà cửa ở khu Đồn Thủy căn cứ của chúng, sửa sang và làm một số đường sá đi vào các phố phường (vẫn chỉ là đường đất đắp và nện kỹ). Chúng xây dựng lan cả đến mạn Tràng Tiền, tức là phố Tràng Tiền ngày nay. Một nhà hotel đầu tiên được xây dựng lên tại phố này lấy tên là Khách sạn Pháp quốc (Hotel de France), nay là khách sạn Dân Chủ gần xế cửa Nhà in báo Nhân Dân. Nhiều anh Việt Nam đâm đầu ra đấu thầu gỗ, ngói gạch, vôi, cát cho Pháp xây dựng. Bọn Pháp chiếm ngôi nhà 82 phố Hàng Gai làm Tòa lãnh sự Pháp. Trước cửa treo cái biển bằng gỗ kẻ chữ “Résident de France”. Chúng mở trường học Pháp – Việt đầu tiên tại phố Hàng Gai gần tòa đại sứ do mấy anh cố đạo Pháp nói tiếng Việt dạy học và chiêu dụ người đến học. Trong số học trò ấy có hai người là Hoàng Trọng Phu và Bạch Thái Bưởi, sau này được Pháp đưa sang Pháp học. Hoàng Trọng Phu là con giai thứ hai của Hoàng Cao Khải, còn Bạch Thái Bưởi là con ruột một anh chuyên nghề đấu thầu cung cấp các nguyên vật liệu cho Pháp xây dựng… (Trang 168-169)

Anh-minh-hoa---Co-hai-Bach-Thai-Buoi

… Năm 1894, Pháp phá thành cổ Hà Nội, giao cho một công ty đứng thầu. Người đứng đầu công ty này là cô Tư Hồng. Cô này chính tên là Trần Thị Lan, quê quán làng Thành Thị, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Vì nhà nghèo, năm cô 17 tuổi, bố mẹ đem cô gán nợ cho tên chánh tổng bá hộ trong làng để làm nàng hầu (dưới vợ lẽ, vừa là vợ vừa là người ở). Cô có sắc đẹp được tên chánh tổng yêu quý, nhưng mụ vợ cả hay ghen bắt làm lụng khổ sở và đánh đập tàn nhẫn. Một hôm cô gánh đôi thùng tre ra giếng đầu đình lấy nước, thấy một thanh niên ngồi ủ rũ ở đầu đình, cô nhìn kỹ thì người ấy là Trần Viết Soạn ở cùng xóm với bố mẹ cô. Cô hỏi chuyện mới biết anh này bị đói đã hai ngày nay không có gì ăn. Soạn nhà rất nghèo, bố mẹ chết, tuy có sức khỏe nhưng ở trong làng không tìm được việc gì làm để có cái ăn, thường phải đi bẻ trộm ngô, đào trộm khoai hay câu gà của người ta để có cái ăn. Nhưng các chủ ruộng bị mất trộm luôn, canh phòng ráo riết, Soạn không xoay xở được phải nhịn đói mất hai ngày. Cô Lan thương tình người cùng xóm cũ, về nhà chánh tổng xúc trộm đấu gạo đem cho Soạn. Bất đồ có con bé chăn trâu trông thấy, nó mách với mụ cả vợ chánh tổng. Khi cô gánh nước về nhà, mụ chánh tổng túm lấy tóc, giật đòn gánh đánh túi bụi, vu cho là phải lòng giai, ăn cắp gạo của nó đem cho giai. Tên chánh tổng nghe nói thế cũng nổi cơn ghen tức, cầm tay thước ra đánh. Cô bị trận đòn đau thấy cực khổ quá không thể ở nhà nó được muốn trốn đi, nhưng không biết đi đâu. Cô chợt nhớ câu trẻ con vẫn hát:

Ví dù bác mẹ chẳng sinh
Thì em ra phố Vạn Ninh cho rồi.

Vạn Ninh hay Ninh Hải là tên cũ của thành phố Hải Phòng. Năm 1877, mới có tên chính thức là Hải Phòng do cụ Phạm Phú Thứ đặt trụ sở của Hải Phòng sứ (nghĩa là canh phòng bờ biển). Cô nhớ lại trong làng cô có nhiều người ra Hải Phòng làm ăn buôn bán, nên cô trốn ra đấy và được người làng tìm cho việc làm con ở cho một nhà Hoa kiều. Tại đây có một anh nhà buôn Hoa kiều tên là Chí Hồng thấy cô có nhan sắc liền lấy làm vợ. Cô khéo chiều chồng và biết cách làm ăn buôn bán, nên được chú Hồng trao quyền cho, trở thành bà chủ hiệu buôn, mọi người gọi là thím Hồng. Nhưng được vài năm chú Hồng buôn chuyến hàng lậu tưởng phất to, không may bị hải quan Pháp bắt được phạt món tiền lớn, tịch thu hết gia sản, chú Hồng bỏ trốn về Trung Quốc, thím Hồng sống bơ vơ với hai bàn tay trắng. Thím Hồng có một cô bạn gái lấy Tây, thường gọi là cô Lavích, khuyên thím Hồng nên lấy Tây và dạy cho một ít tiếng Tây bồi. Một hôm cô Lavích theo chồng lên Hà Nội, đem theo cả thím Hồng đi, rồi giới thiệu cho một anh quan tư Pháp tên là Garlan. Thế là thím Hồng trở thành me Tây, mọi người gọi là cô Tư Hồng. Anh quan tư này có thế lực, hay ra vào tòa Công sứ Pháp nên quen Bạch Thái Bưởi. Bạch Thái Bưởi và Hoàng Trọng Phu sau một thời gian học ở Pháp về nước, Hoàng Trọng Phu dạy học trường thông ngôn còn Bạch Thái Bưởi làm thư ký tại tòa Công sứ Pháp nên mọi người gọi là Ký Bưởi. Tên quan tư Garlan và Ký Bưởi quen thân nhau, thường đi lại chơi bời thăm hỏi ăn uống với nhau luôn. Thế rồi cô Tư Hồng bắt nhân tình với Ký Bưởi. Khi biết tin Pháp sắp cho đấu thầu phá thành Hà Nội, Ký Bưởi rủ cô Tư Hồng lập công ty đứng thầu. Gọi là công ty nhưng chỉ có hai người là Bạch Thái Bưởi và cô Tư Hồng. Bạch Thái Bưởi là công chức không dám lộ tên ra, chỉ góp tiền án quỹ (cautionnement) khi được thầu, còn cô Tư Hồng đứng tên chính thức. Ký Bưởi luôn luôn ra vào trong thành, biết rõ các kiến trúc trong đó và nghiên cứu phương pháp phá dỡ, tính toán rất kỹ. Khi nghị định và tờ quảng cáo gọi bỏ thầu dán ở Quảng Văn Đình (chỗ vườn hoa Cửa Nam ngày nay), nhiều tay nhà buôn, nhà giàu ở Hà Nội lăm le đứng ra bỏ thầu. Họ đi lại làm quen với Ký Bưởi để nhờ Ký Bưởi làm tay trong giúp họ: hôm nay đám này mời Ký Bưởi ăn tiệc, mai đám khác mời Ký Bưởi ăn cỗ. Đối với ai Ký Bưởi cũng nói: “Tôi là người Nhà nước không được phép buôn bán thầu đấu gì, tôi chỉ giúp đỡ các ông, khi thầu được, các ông cho tôi món hoa hồng!”. Thế rồi đối với đám này Ký Bưởi xui người ta bỏ thầu rất cao; đối với người khác Ký Bưởi xui người ta bỏ thầu giá rất hạ. Những giá đấu thầu của mọi người Ký Bưởi biết rõ được hết. Hắn làm cho cô Tư Hồng một giá bỏ thầu chiết trung, nên thầu được một cách dễ dàng. Được thầu rồi, cô Tư Hồng lại cho một nhóm người khác thầu lại, cô ngồi không hưởng món lãi rất bẫm. Tuy cho thầu lại, cô Tư Hồng vẫn phải chịu trách nhiệm về công việc làm, nên cô cần tìm một người thân tín, là họ hàng hay người cùng làng để trông nom công việc phá thành và ốp phu phen làm việc. Giữa lúc ấy thì Trần Viết Soạn lò dò đến. Nguyên Trần Viết Soạn ở trong làng không sống được, phải theo người làng đi làm phụ thợ xẻ gỗ và học việc, lần mò ra đến Hà Nội. Soạn nghe tin cô Tư Hồng thầu việc phá thành Hà Nội, đến xin một chân phu. Khi được gặp cô mới nhận ra là cô Trần Thị Lan người cùng xóm cũ và là ân nhân đã cho đấu gạo cứu đời. Cô Tư Hồng thấy Soạn đến xin việc cũng mừng vì được người thân tín trông nom giúp, liền giới thiệu với bọn thầu lại và bắt họ phải cho Soạn làm cai phu với món lương hậu. Làm cai không phải mó tay làm việc gì, suốt ngày chỉ cầm cái roi mây đi ốp phu làm, người nào chậm chạp hay uể oải thì mắng chửi, đánh đập hoặc đuổi ra; người nào muốn xin việc làm phu phá thành phải đút lễ, Soạn mới nhận cho vào làm. Soạn là người tinh quái, đoán chừng trong các dinh thự thế nào cũng có của chôn giấu nên hàng ngày hắn vác cái mai hoặc cái thuổng cái cuốc đi đào bới trong các nhà trong thành, không cho người nào lại gần, nói là đi thăm xem đất rắn hay xốp để chỉ bảo cho phu làm. Tuy trước đây khi Pháp hạ thành hai lần, nhiều kẻ lưu manh đã vào hôi của nhưng vẫn còn sót, nên Soạn mót lại cũng vớ được nhiều vàng thoi bạc nén và cả những chuỗi tiền đen. Hắn giấu giếm đem về nơi ở trọ chôn giấu một chỗ và vẫn làm ra bộ túng thiếu.

Thành Hà Nội bắt đầu bị phá vào tháng 9 năm 1894 đến cuối năm 1897 mới phá xong, còn để lại cái cột cờ chúng ta thấy ngày nay, bức tường Cửa Bắc có vết đạn đại bác do tàu chiến Pháp từ ngoài sông Hồng bắn vào ngày 25-4-1882 và bức tường về phía tây thành do nơi này quân lính Pháp bắc thang trèo lên được mặt thành ngày 25-4-1882. Hai ngôi miếu: một miếu thờ vọng thần Bạch Mã trong đền Bạch Mã đã đi ra phố Hàng Buồm từ lâu, một là Võ miếu (miếu thờ Quan Công) và đền Kính Thiên thường gọi là Hoàng Cung. Cách mấy năm sau, Pháp phá nốt hai ngôi miếu và đền Kính Thiên, chỉ để lại cái nền có 9 bậc đá và hai bên có 2 con rồng đá. Cảm khái về thành Hà Nội bị phá, một nhà nho có làm bài thơ sau:

Than ôi! Đệ nhất cảnh Thăng Long!
Vượng khí ngàn năm có nữa không?
Hai cửa còn trơ hai thành miếu
Một thành sót lại một hoàng cung!
Nhường ngao ngán nhẽ công ông Bạch (1)
Cũng gớm ghê cho của chị Hồng! (2)
Còn biết đâu là nền đế bá?
Than ôi! Đệ nhất cảnh Thăng Long!

Sau vụ phá thành cũ Hà Nội, cô Tư Hồng trở thành một người có thế lực: toàn quyền, thống sứ, khâm sứ, công sứ, đốc lý Pháp đều vị nể cô, do đó bọn quan lại Việt Nam thường ra vào thậm thụt quỵ lụy. Những anh tri châu, tri huyện, tri phủ phải bổ đi các nơi “ma thiêng nước độc” đem lễ đến đút lót nhờ cô vận động cho được ở miền xuôi; những anh bố chánh, án sát, tuần phủ, tổng đốc muốn được bổ đến các nơi béo bở để bóc lột dân, đem lễ đến nhờ cô xoay xở giúp cho. Cô chỉ mất cái mắt liếc, cái cười tình và một tí nước bọt với bọn quan to Pháp là việc gì cũng trôi chảy cả. Cô còn xin cho ông bố đẻ cái hàm Hồng Lô Tự Thiếu Khanh vào hàng quan tứ phẩm triều đình. Hôm cô mở tiệc khao cho bố, bọn quan Tây quan ta đến mừng và dự tiệc đầy nhà. Bọn quan ta đến có lễ mừng, món lễ mừng trang trọng nhất hồi bấy giờ là câu đối bằng vóc hay nhiễu đỏ. Có ông mừng câu đối nôm như sau:

Tứ phẩm sắc phong hàm cụ lớn
Trăm năm danh giá của bà to.

Cụ Nguyễn Khuyến làm giúp một người đôi câu đối mừng:

Có tàn, có tán, có hương án thờ vua, danh giá lẫy lừng băm sáu tỉnh
Nào cờ, nào biển, nào sắc phong cho cụ, chị em hồ dễ mấy lăm người.

(Xem tiếp kỳ sau)

Lê Vĩnh Trường (sưu tầm)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 458

__________________

(1) Ông Bạch tức thần Bạch Mã. Theo truyền thuyết, khi đắp thành Đại La làm nền cho thành Thăng Long về sau, có con ngựa trắng chạy vòng quanh, Cao Biền theo vết chân ngựa đắp thành và lập đền thờ Bạch Mã, cho là ngựa thần. Chữ Bạch còn hàm ý chỉ Bạch Thái Bưởi. 
(2) Chị Hồng tức cô Tư Hồng, từ “của” có nghĩa tục.

Ý Kiến bạn đọc